Thứ Bảy, tháng 5 16, 2026

Năm thứ 4 – Những môn học cuối cùng


Các năm học trước, tôi đã lần lượt ghi chép theo tên những môn học trong các kì hoặc theo nhóm môn học được dạy lên tiếp trong nhiều kì (như ngoại ngữ, thể dục, quân sự…). Dưới đây là ghi chép 4 môn học cuối cùng ở năm thứ tư để tạm dừng những kí ức trên ghế giảng đường trong quãng đời đại học của chúng tôi. Chuyện nhớ nội dung môn học nhiều hay ít cũng tùy theo từng môn, nhưng tôi thấy quan trọng hơn là những kí ức sâu lắng về những thầy, cô giảng bài. Lại cứ như thấy các thầy, cô đang hiển hiện trên giảng đường và chúng tôi - những sinh viên nghèo, đói khổ đang nghiêm túc dõi theo những điều các thầy, cô dạy. Tất cả đã thành những kỉ niệm. Các sinh viên xưa nay đã trở thành các ông, các bà, đa số đã không còn nhớ nữa. Tôi vẫn muốn dành chút suy tưởng để ghi chép về một thời không rực rỡ cho lắm nhưng không thể nói là “vô bổ” hay không đáng tự hào!

1. Môn học Kế hoạch nông nghiệp

Chúng tôi học môn Kế hoạch nông nghiệp vào kì 1 năm thứ 4 với số tiết là 90. Mấy anh KT18 nói môn học này không quan trọng, nhưng vì có nội dung đi thực tập giáo trình khu vực NTQD nên chúng tôi phải chú ý vì một trong những nhiệm vụ quan trọng trong đợt đi thực tập giáo trình ở Mộc Châu là phải xây dựng kế hoạch cho các đơn vị sản xuất của nông trường.

a/ Giáo viên giảng dạy

Có 2 giáo viên giảng bài: phần đầu là cô Thúy Mỹ (tôi chỉ còn nhớ tên), phần sau là thầy Doãn Xuân Sắc. Cô Thúy Mỹ có lẽ là con cán bộ sinh ra ở Hà Nội nên giọng nói “rất Hà Nội”: yểu điệu thục nữ trên đôi môi rất xinh xắn. Có thể nói cô Thúy Mỹ cô giáo đẹp nhất mà tôi được học hồi đại học. Cô có khuôn mặt rất khả ái, da trắng mịn, tóc hơi xoăn tự nhiên, ăn mặc toàn đồ đẹp, không hẳn là xa hoa nhưng có nét đài các rất rõ. Khuôn mặt sáng sủa, nét mày tự nhiên hợp với đôi mắt hơi to nhưng thùy mị. Thân thể cô nhỏ nhắn, không lộ đường nét phụ nữ vì kiểu ăn mặc của giáo viên kinh tế rất nghiêm trang kín đáo nhưng nhìn vào thấy toát lên vẻ sang trọng kiểu “quý bà” con nhà gia giáo. Cũng có hôm cô tết đuôi sam đôi lên lớp - kiểu đuôi sam ngắn và bộ tóc hơi xoăn nhìn vừa như tinh nghịch ngộ nghĩnh tiểu thư lại vừa sang chảnh khoe đời, rất hợp với kiểu áo sơ mi sáng màu có điểm những hoa xanh nhỏ. Khi dạy chúng tôi, cô Thúy Mỹ cũng khoảng hơn 30 tuổi, đã có con. Chồng cô là thầy Vũ Huy Chương - giáo viên dạy môn Thống kê, Khoa Kinh tế nông nghiệp, lúc đó đang đi nghiên cứu sinh tại CHDC Đức.

Giọng nói yểu điệu kiểu cách của cô Thúy Mỹ là nét đặc trưng nhất, đôi khi hơi uốn éo cầu kì một chút. Mấy anh lớn tuổi đi bộ đội về học bảo kiểu nói đó hợp với cách làm nũng của các cô gái nội thành (!). Riêng tôi không để ý lắm mà chỉ chú ý xem nội dung bài giảng cần tiếp thu để vài tháng tới còn biết quan sát khi đi thực tập giáo trình.

Thầy Doãn Xuân Sắc khi dạy chúng tôi khoảng 50 tuổi – một giáo viên già dặn, có nét nghệ sĩ khắc khổ. Thầy cao gầy, lưng hơi còm, đeo kính trắng trễ mũi, khi nhìn xuống chúng tôi bằng cách nhìn không qua kính, nghĩa là trễ cái kính xuống dưới mũi lộ 2 mắt bên trên kính. Thầy quê Hải Phòng, nghe nói trong gia đình khá giả vốn xưa là tư sản (?). Khi dạy thầy rất nhiệt tình nhưng hơi thở yếu, khi phát âm thấy rất rõ kiểu thở “hít vào” mệt mỏi và gấp gáp (chắc thầy có bệnh về phổi). Mặc kiểu xơ-vin quần ka ki rộng, bụng lép, ngực lép nên trông thầy mới khoảng 50 tuổi mà sao già trước tuổi. Dáng nghệ sĩ ở thầy là ở bộ tóc hơi dài, uốn lượn kiểu cách tự nhiên, hợp với khuôn mặt gầy, hóm hỉnh và trải đời.

Vào năm 1985, khi tôi đã là giáo viên của Khoa Kinh tế nông nghiệp thì gia đình cô Thúy Mỹ[1] đã chuyển công tác. Thầy Sắc cũng về hưu, sống ở Hải Phòng. Tôi có dịp gặp lại thầy Sắc[2] trong một dịp hội trường năm 1986, sau đó ít lâu thì nghe tin thầy ốm và mất ở Hải Phòng.

b/ Nội dung môn học

Thực sự tôi không nhớ rõ nội dung môn học này, còn láng máng còn nhớ về cách xây dựng kế hoạch đất đai sản xuất, kế hoạch ngành trồng trọt, kế hoạch ngành chăn nuôi, kế hoạch tài chính, kế hoạch phân phối sản phẩm…

Cách dạy môn này không tách hẳn nội dung theo mô hình kinh tế HTX hay NTQD mà thiên về tính chất kế hoạch ngành nông nghiệp: nhấn mạnh thời vụ, các nguyên liệu cho sản xuất, thu hoạch sản phẩm (tức là kế hoạch qua các giai đoạn sản xuất của ngành, mội giai đoạn tương ứng với mức yêu cầu và tiêu hao vật tư sản xuất, nhân công, kĩ thuật khác nhau).

Riêng môn học này cho đến nay tôi còn nhớ nhất là nội dung kế hoạch chu chuyển đàn gia súc – phần thầy Sắc dạy. Tôi nhắm mắt lại tưởng tượng vẫn còn thấy nhớ cái bảng nhiều hàng, nhiều cột mà thầy Sắc kẻ trên bảng đen. Có tới 13 cột và nhiều hàng, một kiểu bảng thể hiện ma trận. Đó là một ví dụ chi tiết về kế hoạch chu chuyển đàn lợn trong một đơn vị sản xuất, rất cụ thể về con số và cách tính toán những con số đó.

Cột đầu thầy kẻ hơi rộng, tiêu đề gạch chéo ghi dưới chéo là loại lợn, phía trên gạch chéo ghi là tháng. Đầu tiên liệt kê các loại lợn, mỗi loại lợn ứng với một hàng, gồm đực giống, nái cơ bản, nái hậu bị, lợn con mới đẻ (chưa cai sữa), lợn cai sữa và hàng cuối là đàn lợn thịt theo tháng. Sau cột đầu là 12 cột ghi từ tháng 1 đến tháng 12. Mỗi 1 ô trong bảng ma trận là số lợn kế hoạch. Như vậy nhìn vào số lợn chu chuyển sẽ tính được nhu cầu vật tư, lao động, thú y… theo từng tháng trong năm.

Để tính được những con số chi tiết trong từng ô, thầy Sắc phải giả định những con số tỷ lệ hao hụt (chết, loại thải…) của từng loại lợn để mỗi nhóm lợn khi dịch chuyển sang tháng tiếp theo phải trừ đi số hao hụt này. Ví dụ: một lợn đực cơ bản có thể phục vụ 10 nái cơ bản, tất nhiên số nái cơ bản mà < 10 thì cũng phải có một con đực cơ bản. Mỗi lứa lợn đẻ 12 con (theo số vú nhiều nhất của lợn nái), tỷ lệ hao hụt khi nuôi lợn bú sữa là 5%, sau 2 tháng là lợn cai sữa chuyển sang đàn cai sữa (thì phải trừ đi 5%). Lợn nái hậu bị được tuyển chọn từ những con lợn cái từ đàn cai sữa (hậu bị là nuôi tuyển chọn để thay thế hoặc bổ sung thêm đàn lợn nái cơ bản). Tỷ lệ từ cai sữa đến khi phối giống (tức là thành lợn cơ bản) chỉ vào khoảng 15%. Tỷ lệ thấp này chứng tỏ lựa chọn khắt khe bảo đảm đạt được con nái cơ bản tốt sử dụng nhiều chu kì kinh tế…

Cứ thế một bảng 13 cột, 7 hàng lần lượt có các con số ban đầu, rồi từ các giả định mà tính các số tiếp theo qua các tháng. Trừ cột tháng 1 được coi là giả định ban đầu, còn các cột tháng 2 đến tháng 12 đều phải tính theo các giả định về phối giống, chửa, đẻ, nuôi con, cai sữa… Vì thế để tính bảng này, thầy Sắc dạy lâu năm mà vẫn phải cầm giáo án để vừa ghi chép các con số từng tháng vừa trễ kính quay xuống nhìn chúng tôi để giải thích vì sao lại có con số đó. Chúng tôi vừa chép theo thầy, vừa cố gắng viết các ghi chú giải thích để về nhà còn biết vì sao lại tính được những con số trong bảng. Phải mất tới 2 buổi lên lớp thầy mới xong cái bảng chu chuyển quan trọng này (nghe các anh KT18 nói cô Mỹ không thích dạy mục này nên luôn dành cho thầy Sắc dạy).

Chuyện này tôi có một kỉ niệm nhỏ: Khi tôi đi bộ đội về làm giáo viên ở Khoa Kinh tế nông nghiệp là năm cuối 1984, lúc đó KT27 đang học bài kế hoạch chu chuyển đàn lợn. Một học sinh KT26 (sau này anh ta ở lại trường làm giáo viên) kể lại rằng có một thầy (trước học KT19) ở lại khoa làm giáo viên bộ môn kế hoạch. Khi thầy dạy cho KT27 bảng chu chuyển đàn lợn cự bị lúng túng mãi không xong, cứ ầm, ừ à… lẫn lộn khi giải thích các con số. Anh bạn KT26 khi đó đi dự giờ xung phong giải thích hộ thầy và thế là bảng chu chuyển đàn lợn đã được “thông qua” một cách trơn tru.

Hồi chúng tôi đi thực tập Mộc Châu thì tôi ở nhóm Xưởng chế biến sữa nên không sử dụng các nội dung chu chuyển đàn để làm kế hoạch. Chúng tôi chỉ tiếp thu bản kế hoạch cũ và tham khảo các định mức tiêu hao để lập kế hoạch chế biến 12 tháng trong năm. Nhưng chắc chắn các anh chị thực tập ở Trại chăn nuôi bò, trại lợn ở NTQD Mộc Châu phải sử dụng kiến thức này.

Môn học Kế hoạch nông nghiệp thi vấn đáp ngày 6-2-1979. Tôi còn nhớ các thầy, cô hỏi thi lớp KT20A ở một giảng đường khu CLB sinh viên. Tôi vào thi đầu tiên và khi lên trả bài, tôi không cần nhìn vào giấy chuẩn bị vì cũng đã thuộc các ý hỏi. Khi tôi trả lời thì cô Thúy Mỹ và một giáo viên trẻ KT18 tên Ch[3] ngồi nghe, nhưng không ai nghe mà cứ nói chuyện với nhau. Thấy tôi đã nói hết, cô Mỹ bảo còn gì nữa không và hỏi một câu không liên quan gì đến nội dung tôi đã trả lời. Trả lời xong thì cô bảo cho ra ngoài. Ngay khi đó tôi đã dự lượng được vấn đề không suôn sẻ vì không ai nghe tôi trả lời câu hỏi. Hơn nữa, thái độ thờ ơ của người hỏi là tôi biết đã không nghe được những câu trả bài của tôi. Kết quả là tôi chỉ được 6/10 – điểm trung bình của thang điểm 10/10. Đây là môn thi đầu tiên chúng tôi trải nghiệm hệ thang điểm mới 10/10. Điểm 6/10 là cách cho an toàn nhất của giáo viên (hơn 5 một chút nhưng chưa thể là 7 – điểm 7 là điểm khá), thường là cách cho điểm cho xong, kiểu thiếu trách nhiệm để không dám hạ xuống 5 nhưng cũng không dám hỏi thêm để cho người trả lời kiếm điểm 7.

Thi xong về tôi thấy lối hỏi thi khá vô cảm nên hơi chán nản. Vì tôi trả lời đầu tiên nên về KTX mới khoảng gần 8am. Tôi buồn bã lên sân thượng hóng gió. Trên sân thượng tôi gặp một anh bạn KT22 đang cầm vở học ôn thi và nói bạn ấy có lẽ sắp phải đi bộ đội. Hồi đó khóa 20 và 21 coi như sắp ra trường nên không bị gọi tuyển quân. Nghe nói có đợt tuyển quân từ sinh viên vào tháng 12-1978, vào đúng lúc chúng tôi đang thực tập ở Mộc Châu. Hơn 10 ngày sau, ngày 17-2-1979 xảy ra chiến tranh phía Bắc. Anh bạn lớp KT22 đã nhập ngũ trước đó mấy ngày, không biết anh bạn khi đó có phải lên biên giới không?

 

2. Môn học Tài chính, Tín dụng xí nghiệp nông nghiệp

Vào kì 2 năm thứ 4, chúng tôi học môn Tài chính, Tín dụng xí nghiệp nông nghiệp, thời lượng 90 tiết.

a/ Giáo viên giảng dạy

Thầy Đoàn Tử Lâm dạy chúng tôi cả 90 tiết. Thầy Lâm tốt nghiệp Đại học KT-KH, tương đương khóa KT7 của ĐHNN I. Quê thầy Lâm ở Đức Thọ, Hà Tĩnh. Thầy dáng cao vừa phải, người đậm, da trắng, râu quai nón cạo kĩ vẫn thấy rõ chân râu nâu đậm dưới cằm. Thầy có đôi mày rậm, mắt rất hiền từ, nói năng chậm rãi, từ tốn. Giọng đậm chất quê Hà Tĩnh nhưng thầy phát âm chậm, rõ từ, rõ câu nên ai cũng nghe và ghi chép được. Thầy dạy khá nghiêm túc, hơi cứng nhắc, ít chuyện ngoài lề. Thầy đẹp trai kiểu “cổ điển nhà nông lai thị thành” do da trắng, răng đều, lại râu quai nón nên khuôn mặt thầy rất ưa nhìn. Sau này tôi biết những chuyện nhiều sinh viên thích đến phòng tập thể chơi với thầy, nhất là các em nữ sinh quê Nghệ-Tĩnh, có em còn dám khen thầy đẹp trai trước mọi người. Khi chúng tôi học, các anh Lê Cao Bính, Nguyễn Văn Ngọc… hình như cũng đã quen thầy vì cùng đồng hương Nghệ Tĩnh, rất dễ gần.

Thầy cười rất hiền hòa nhưng khi lên lớp thầy ít cười. Cách dạy của thầy thư thả, từ tốn nói, viết bảng chữ đẹp nhưng thầy không viết nhiều. Giảng theo lối thầy đọc chậm vài lần để chúng tôi ghi chép cẩn thận, như sợ chúng tôi bỏ sót mất những vấn đề quan trọng của chính sách tài chính tín dụng trong nông nghiệp.

b/ Nội dung môn học

Thầy Lâm dạy chúng tôi về các chế độ tài chính tín dụng hiện hành đang vận dụng trong thực tiễn nông nghiệp. Tuy nhiên không giống như một số môn khác, thầy không tách thành chế độ tài chính tín dụng cho khối NTQD hay HTX mà lại đi vào khía cạnh ngành nông nghiệp như vận dụng chính sách tài chính tín dụng vào ngành nông nghiệp với những đặc thù của nó. Đại loại tôi còn nhớ có mục các khoản thu trong xí nghiệp nông nghiệp, các khoản chi, trong đó quan trọng nhất là chi phí sản xuất. Các quỹ và chế độ trích, sử dụng các quỹ, kế hoạch tài chính trong xí nghiệp...

Do học theo chế độ chính sách hiện hành nhưng chúng tôi không được tìm hiểu khi thực tập giáo trình. Học vào kì 2, là môn học cuối chuyên ngành nên khi đó không còn nội dung thực tập giáo trình. Có thể nói chúng tôi không rõ các chế độ chính sách mà thầy dạy trong thực tế diễn ra như thế nào. Tuy nhiên có một nội dung tôi lại nhớ rất lâu – đó là chính sách khấu hao tài sản cố định trong nông nghiệp.

Khấu hao tài sản cố định (TSCĐ) là cách thu hồi vốn đầu tư ban đầu để tái đầu tư TSCĐ mới và duy trì hoạt động của TSCĐ trong quá trình sử dụng. Khi TSCĐ hư hỏng phải thay thế thì dùng phương pháp khấu hao cơ bản (KHCB), còn để duy trì hoạt động của TSCĐ khi chỉ thay thế, sửa chữa từng phần TSCĐ thì dùng phương pháp khấu hao sửa chữa lớn (SCL). Lý do phải khấu hao SCL vì TCSĐ thường có nhiều thành phần và hư hỏng của chúng không giống nhau nên phải sửa chữa thay thế từng phần trong quá trình sử dụng. Khấu hao là một khoản mục của chi phí sản xuất. Trong hạch toán kinh tế, người ta dùng phương pháp khấu hao để bảo đảm quá trình sản xuất ổn định chi phí và không bị thiếu hụt nguồn vốn khi bù đắp đổi mới hoặc thay thế TSCĐ.

Thầy Lâm dạy rằng trong nông nghiệp có nhiều trường hợp không KHCB: ví dụ đường giao thông thì khi đã hoàn thành chỉ có sử dụng và khi đã đưa vào sử dụng thì chỉ khấu hao SCL (vì đường làm xong thì sử dụng mãi mãi, chỉ có hư hỏng phải sửa chữa chứ không thay thế). Chi phí khai hoang thiết kế đồng ruộng cũng không KHCB hiểu theo ý nghĩa ấy. Gia súc cơ bản cũng có khi không KHCB vì thường khi đưa vào sử dụng thì bọn gia súc hậu bị chuyển thành đàn cơ bản đều còn non trẻ nên trọng lượng thấp, khi thành đàn nái cơ bản thì chúng còn lớn lên rất nhiều. Do đó khi loại thải thì trọng lượng gia súc cơ bản có khi lớn gấp 2-3 lần so với lúc đưa vào khai thác, nếu bán thịt thì số tiền thu được thừa sức bù đắp giá trị gia súc cơ bản ban đầu.

Một nội dung khác thầy Lâm dạy rất chi tiết là về các phương pháp khấu hao TSCĐ trong nông nghiệp. Có nhiều phương pháp khấu hao: khấu hao theo năm sử dụng, khấu hao theo khối lượng công việc hoàn thành (các máy móc thời vụ cao), khấu hao theo năng suất vườn cây lâu năm, khấu hao theo sản lượng, khấu hao theo giờ công tác, khấu hao theo nhiên liệu tiêu hao… Khi đó thầy chưa dạy chúng tôi các phương pháp khấu hao nhanh (khấu hao theo số dư giảm dần[4] và khấu hao tổng số[5]) như các giáo trình đang dạy hiện nay.

Có nhiều điểm đặc thù trong nông nghiệp: ví dụ máy thu hoạch khoai tây mỗi năm chỉ sử dụng một số giờ nên có thể tính phương pháp khấu hao theo giờ hoạt động. Nói chung những máy móc hoạt động theo thời vụ nông nghiệp như máy thu hoạch, chăm bón… thì có thể áp dụng theo phương pháp này. Việc dùng phương pháp khấu hao theo kết quả thực hiện thì cũng có ý nghĩa như số giờ công tác. Người ta lấy tổng khối lượng công tác của máy móc (theo định mức kinh tế kĩ thuật) để tính ra mức khấu hao cho từng đơn vị khối lượng hoàn thành. Như vậy khi tạo ra nhiều khối lượng công việc hoàn thành thì khấu hao nhiều hơn và ngược lại. Điều đó cũng tương tự như phương pháp khấu hao theo nhiên liệu tiêu hao…

Ở môn học này chúng tôi biết TSCĐ trong nông nghiệp có những loại là gia súc cơ bản, vườn cây lâu năm. Có những chuyện thầy nói cho đến nay tôi vẫn còn rất nhớ, chẳng hạn khấu hao vườn cây cà phê vối lại có quy định tỷ lệ khấu hao SCL. Lý do vì cà phê vối (Robusta) có tán cành rộng nên khi tạo tán thời kì kiến thiết cơ bản rất công phu, vì thế cần có khoản trích để bù đắp chi phí xây dựng cơ bản và tái tạo trong quá trình sử dụng vườn cà phê. Cây chè cũng vậy, chúng có quá trình đốn phớtđốn đau khi XDCB và sử dụng. Đốn đau vườn chè được coi như một lần cải tạo vườn chè, tương đương chi phí SCL vườn cây, tạo tán theo những chu kì sản xuất nhất định.

Khấu hao theo năng suất cây trồng cũng khá đặc thù: đối với vườn cây lâu năm, năng suất cây trồng từ khi thu bói cho đến khi cải tạo trồng mới thường qua 3 giai đoạn: năng suất ban đầu thấp, tiếp đó cao dần và đạt đến cao nhất (max). Sau nhiều năm khai thác thì năng suất lại từ từ suy giảm theo tuổi của vườn cây. Người ta lấy mức năng suất trung bình định mức cả đời cây để tính mức khấu hao theo sản lượng, sau đó khi cây cho năng suất đến đâu thì trích khấu hao theo số năng suất mà cây đạt được. Rõ ràng những năm cây trồng cho năng suất thấp thì sản phẩm chịu khấu hao thấp, bảo đảm có chút ít dành dụm để tích lũy những năm đầu mới khai thác (có lợi nhuận). Nhưng khi năng suất cao thì khấu hao nhiều nhưng vẫn bảo đảm tích lũy vì sản lượng lớn nên doanh thu cao. Tuy nhiên mức khấu hao/đơn vị sản phẩm không giống nhau: khi năng suất thấp thì mức khấu hao/đơn vị sản phẩm thường cao và ngược lại khi năng suất cao thì mức khấu hao/đơn vị sản phẩm lại thấp. Người ta thường có rất nhiều cơ chế điều chỉnh để bảo đảm ổn định chi phí, giá thành và tích lũy khi khai thác vườn cây tùy theo đặc điểm sản xuất của chúng.

Như thế tôi nghĩ người ta đã tổng hợp và quy định thành nhiều phương pháp khấu hao theo thực tế sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên trong thực tế rất khó thực hiện, đa số chỉ hướng dẫn sử dụng phương pháp khấu hao theo thời gian. 

Đối với thầy Đoàn Tử Lâm và môn học của thầy thì tôi còn có nhiều kỉ niệm sau này. Do cơ duyên công việc: khi được phân công về khoa Kinh tế nông nghiệp ĐHNN I công tác, ban đầu tôi được phân công dạy môn Tài chính nông nghiệp (khi đó thầy Lâm đã chuyển công tác, là Trưởng phòng Tài vụ của trường ĐHNN I, anh Nguyễn Đăng Hợp khi đó là nhân viên của thầy Lâm). Người ta cũng đã đổi tên môn học từ Tài chính tín dụng xí nghiệp nông nghiệp thành Tài chính nông nghiệp[6] (theo tên môn học của một giáo trình Liên Xô thời ấy). Tôi mới về khoa nên một giáo viên cũ đang dạy môn này xin chuyển sang môn khác và “đùn đẩy” cho tôi dạy môn học này. Nói ý “đùn đẩy” là vì môn này khó dạy hơn, lại có một người đang dạy hơi khó tính… Tôi tiếp quản môn học này và dạy cho đến khi tôi về hưu, suốt 35 năm công tác (tất nhiên tôi còn dạy gần 10 môn học khác cho các cấp đào tạo từ đại học đến cao học và nghiên cứu sinh tiến sĩ).

Thầy Lâm và tôi ở cùng nhà tập thể Nhà A1 cán bộ: tôi ở Phòng 6 tầng 3 còn thầy phòng 6 tầng 2. Trên dưới tầng nên cũng hay thăm nhau khi trà thuốc. Khoảng 1987, thầy đưa ông bố ra ở cùng (bố thầy tên Đoàn Tử Lương). Khi đó cụ Lương khoảng hơn 70 tuổi, trước khi nghỉ hưu là cán bộ ngành thuế ở Nghệ An. Cụ lại là người giỏi Hán Nôm nên tôi đã nhờ cụ giúp mấy việc: dịch thuật gia phả và sau này lấy lá số tử vi. Khi học cao học[7] ở Đại học Bách Khoa (năm 1988), chúng tôi học được phần mềm máy tính lấy lá số tử vi. Cụ Lương không tin là máy tính làm được việc đó. Tôi đưa cụ ngày tháng năm sinh (theo âm lịch) để cụ lấy lá số tử vi. Cụ mất gần cả buổi mới tính xong lá số nhưng khi so sánh với lá số tử vi mà máy tính điện tử tính, cụ vô cùng ngạc nhiên khi thấy sự trùng khớp với cách tính của cụ.

3. Môn học Lịch sử Đảng CSVN

Môn Lịch sử Đảng CSVN thuộc nhóm môn học Mác Lênin, lại là môn học có nội dung thi tốt nghiệp. Môn học chỉ có 60 tiết, học vào kì 2 năm thứ 4 vì có ý tổng hợp kiến thức vận dụng chủ nghĩa Mác Lenin dành cho khóa cuối thi tốt nghiệp môn Lý luận chính trị Mác Lenin (tính cả môn Triết học 120 tiết và Kinh tế chính trị 240 tiết). Như vậy là có tới 400 tiết học về Lý luận Mác Lenin.

a/ Giáo viên giảng dạy

Thầy Đạm – một giáo viên đã lớn tuổi, chắc gần 60, giọng xứ Nghệ. Thầy Đạm đầu hói, mặt tròn, cười nói rất duyên, da hồng hào, thấp đậm, ăn mặc kiểu kí giả. Thầy có lẽ khi đó có vai trò lớn trong Đảng ủy nhà trường. Kiểu nói của thầy giọng tuyên huấn, nhưng rất hấp dẫn. Thầy gần như không viết bảng, thầy bảo chúng tôi kéo một cái bàn học sinh quay xuống rồi ngồi giảng, chỉ cử động đôi tay, khuôn mặt, nhất là miệng thì rất điêu luyện, nói kết hợp với cười, mà cười rất duyên, cười tự nhiên, sâu sắc, không “nhạt” tý nào. Câu chuyện dạy không có gì đáng cười và rất nghiêm túc, thế mà thầy giảng bài thì khuôn mặt thầy mắt sáng, tươi như hoa. Thầy có làn da căng trắng mịn, hồng hào khỏe mạnh. Nghe thầy giảng mới biết cái duyên làm thầy rất phù hợp. Chúng tôi được trải nghiệm nghe giảng môn Triết học: thầy Thủy rất vang giọng nói, nhưng khiêm tốn, thầy Trường tự tin nhưng biểu hiện triết bằng các ví dụ đời thường, môn Kinh tế chính trị thì thầy Công chuẩn mực, kín đáo và thầy Cấn hào hoa, phóng túng… Nay có thêm thái độ giảng đàng hoàng, tự hào, hơi chút kiêu hãnh về ca ngợi Đảng của thầy Đạm thì thật quý giá.

b/ Nội dung môn học

Nội dung Lịch sử Đảng thì không có gì đáng kể phải nhớ vì chuyện này chúng tôi được học, được nghe cũng như biết nhiều qua các sách báo nhiều lần. Có mấy nội dung thầy dạy tôi vẫn còn nhớ:

-       Thầy nói về việc Bác Hồ thành lập Đảng ở Cửu Long[8] Trung Quốc, Nghe nói mãi sau này mới “chốt” được ngày 3-2 là ngày thành lập Đảng (được chứ ban đầu chuyện này cũng có nhiều tranh luận).

-       Thầy nói về Đảng lãnh đạo phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh năm 1930 như là một cuộc tập dượt cách mạng. Hồi đó hình như đã xuất hiện khẩu hiệu “Trí, Phú, Địa, Hào – đào tận gốc trốc tận rễ.”[9]

-       Thầy nói về Đảng lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám “cướp chính quyền”[10] về tay nhân dân. Lúc đó trong nước có nhiều Đảng nhưng không phải Đảng nào cũng làm được. Chỉ có Đảng của Bác Hồ biết nắm lấy thời cơ đúng lúc và lãnh đạo thành công.

-       Thầy nói về việc giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương 1945 để thành lập Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác Lê nin là một kinh nghiệm quý báu[11]

-       Về công cuộc chống Mỹ cứu nước, tác phẩm “Dưới là cờ vẻ vang của Đảng…” của Tổng Bí thư Lê Duẩn đã tổng kết nhiều kinh nghiệm quý báu về tổ chức và xây dựng Đảng…

Thầy nói về chuyến đi được thăm và nghiên cứu lịch sử Đảng tại hang Pác-bó, Cao Bằng. Đoàn đi có nhiều người nước ngoài. Các thầy thì vừa quan sát, vừa ghi chép theo thuyết minh, vừa cố nhớ những nơi Bác Hồ nằm trong hang lạnh, nơi câu cá,… Khi thấy các phóng viên nước ngoài dùng máy ảnh chụp hình, thầy bảo: “Thấy người nước ngoài “nghe đến đâu thì chụp ảnh đến đó, người ta văn minh hơn nhiều quá”… Mình thì vừa nghe thuyết minh, vừa ghi chép và cố nhớ hình ảnh… Đúng là có công cụ hiện đại thì nghiên cứu dễ dàng biết bao”.

Giữa tháng 5, toàn khóa 20 có kế hoạch đi thực tế đột xuất, vì thế môn này phải học gấp để thi vào ngày 28-5-1979, cả khóa 20 thi viết chung 1 đề. Sau khi thi xong, 2 lớp KT20 đi Hải Hậu, Hà Nam Ninh 1 tháng. Khi đi thực tế Hải Hậu về trường mới học tiếp và thi các môn còn lại của kì 2 năm thứ 4.

Môn này thi viết, tôi đạt kết quả khá (điểm 7/10).

 

4. Môn học Chính sách đất đai ở Việt Nam

Hình như người ta bổ sung môn học này vào chương trình và KT20 là khóa được học đầu tiên. Môn học có 30 tiết, thuộc nhóm các môn kiểm tra.

a/ Giáo viên giảng dạy

Thầy Trần Văn Hức, quê Vĩnh Phú dạy. Nghe nói thầy Hức mới chuyển về trường (từ một cơ quan nào đó của địa phương) để dạy cho ngành QLRĐ mới thành lập ở trường. Phải nói là thật khó tả về thầy Hức: nhiều tầm thước, hơi đậm, mặt vuông, da trắng, mũi hơi to (không có dáng trí thức). Tuy nhiên lối giảng của thầy Hức rất độc đáo: thầy là cả kho chuyện cười, cười cả lớp, học mà vui như nghe kể chuyện.

b/ Nội dung môn học

Đến nay tôi hầu như không còn nhớ gì, có lẽ thầy mô tả chính sách đất đai khi đó ở Việt Nam, lơ mơ nhớ có những liên hệ chính sách đất đai của thời phong kiến… Nhưng về các chuyện cười của thầy thì vẫn nhớ - kiểu các “giai thoại” khi nghe thầy Hức giảng.

Tôi nghĩ nhiều người trong lớp còn nhớ về thầy Hức vì thầy có rất nhiều câu chuyện cười. Dường như đầu tiết và cuối tiết thầy luôn có một chuyện cười. Ngay cả trong tiết học thầy vẫn đưa được tiếng cười vào nội dung học nên tiết học của thầy vui nhộn và mọi người nghe rất háo hức. Thầy biết kết hợp sự khô khan của chính sách đất đai với những chuyện dân gian khôi hài để người nghe không nhàm chán.

Thầy nói về nhà thơ Bút Tre[12] có câu: “Con thuyền dịch đít sang ngang/ Bỗng nhiên thấy một cái làng thò ra”. Khi biết câu thơ này, ai cũng nghĩ Bút Tre đã viết về cái làng nhỏ ven sông quê mình. Rồi một câu khác: “Sông Hồng nước đỏ phù sa/Đỏ thì đỏ thật, thua da Bác Hồ”. Thầy nói Bút Tre có khả năng ẩn dụ thật tài tình…

Thầy kể chuyện “ông Bèn” lên làm vua. Một thầy giáo đọc một đoạn sử có ghi: “…sau khi đánh tan giặc Minh, ông bèn lên làm vua”. Thầy giáo hỏi một học sinh (đang không chú ý nghe giảng): “Em có biết ai làm vua khi ta đánh tan giặc Minh không?”. Cậu học sinh đáp: “Dạ thưa thầy, ông Bèn ạ!”

Chuyện cười thầy tưng tửng kể trước mỗi buổi vào học và có khi ngay giữa tiết như kiểu xả cười để bắt tay vào học. Anh Trần Duy Học tổ 1 chúng tôi rất khoái những chuyện cười của thầy. Mỗi tối mất điện lại lôi những chuyện cười của thầy ra kể với nhau trong phòng.

Thầy về hưu và ở khu gia đình dành cho giáo viên trường ĐHNN I. Sau đó thầy phải ngồi xe lăn sau cơn đột quỵ. Một vài lần tôi thấy vợ thầy đẩy xe đưa thầy đi dạo khu 4 hồ. Thầy ngồi xe, đôi mắt xa xăm nhìn thiên nhiên cây cỏ… Tôi thấy cảnh đó mà rất thương thầy. Thầy mất khoảng hơn mươi năm gần đây. Nghe nói khi thầy mất, tại tang lễ, thầy có bài từ biệt mọi người được ghi âm từ trước rất cẩn thẩn: thầy đã chuẩn bị cho chuyến đi xa chu đáo, kĩ càng.



[1] Vào 1997 tôi tham gia vào một đề tài cấp Nhà nước. Tôi được gặp lại cô Thúy Mỹ, cô khi đó làm ở Phòng Khoa học của trường Đại học KTQD và cũng gặp thầy Vũ Hy Chương, năm 1997 là GS TSKH, công tác ở Bộ Khoa học Công nghệ.

[2] Tôi gặp lại thầy Sắc về dự Hội trường, có một tối chơi tổ tôm ở Khu tập thể A1 cán bộ.

[3] Thầy Ch. sau chuyển sang Bộ Lao động, nay vẫn sinh hoạt trong Hội Cựu giáo chức Khoa Kinh tế với chúng tôi.

[4] Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần (tiếng Anh: Reducing balance method hay Declining Balance Method) là phương pháp mà theo đó mức trích khấu hao lớn vào những năm đầu và giảm dần ở những năm tiếp theo.

[5] Phương pháp khấu hao tổng số (tổng số năm sử dụng, tiếng Anh: Sum-of-the-years' digits method) là một phương pháp khấu hao nhanh, ghi nhận mức trích khấu hao cao hơn vào những năm đầu đời của tài sản và giảm dần theo thời gian.

[6] Có một thời gian anh Nguyễn Đăng Hợp cũng dạy một số nội dung môn học này, nhưng ở một cơ sở đào tạo khác.

[7] Khi đó nước ta chưa có bậc đào tạo cao học, nhưng chương trình bồi dưỡng sau đại học 2 năm của ĐH Bách khoa được coi như chương trình cao học (đến 1992 Việt Nam mới có quy định pháp lý vệ bậc đào tạo cao học).

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập từ ngày 3 đến 7-2-1930 tại bán đảo Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc). Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản là Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn thành Đảng Cộng sản Việt Nam (do Nguyễn Ái Quốc chủ trì).

[9] Đây được coi là khẩu hiệu “nguy hiểm” vì không tạo được sự đoàn kết dân tộc trong đấu tranh giành chính quyền, Cho đến này vẫn còn nhiều giả thuyết về tác giả của câu khẩu hiệu này.

[10] Rất nhiều năm, lịch sử Đảng CS Việt Nam dùng từ “cướp”, kể cả trong các sách giáo khoa hồi chúng tôi học. Gần đây người ta mới đổi thành từ “giành chính quyền”

[11] Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố "tự giải tán" vào ngày 11/11/1945 thực chất là một chiến lược rút vào hoạt động bí mật, nhằm tránh sự chống phá của kẻ thù. Đảng đã lập ra Hội Nghiên cứu chủ ngĩa Mác để công khai tuyên truyền tư tưởng, đường lối cách mạng và lãnh đạo quần chúng trong tình hình mới. 

[12] Bút Tre (19111987), tên thật Đặng Văn Đăng, quê Phú Thọ, là nhà thơ theo trường phái dân gian, phong cách thơ độc đáo, sáng tạo và giàu sức lan tỏa. (Theo https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%BAt_Tre).

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét