Chủ Nhật, tháng 9 21, 2025

Ông nội tôi – vị Tộc trưởng Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm

 Nhân 86 năm ngày mất ông nội tôi 28/7/1939 (Kỉ Mão) - 28/7/2015 (Ất Tỵ). Các tư liệu được trích tại Phúc Ấm Lê Hữu tộc tôi đã viết 2021

1. Thông tin trang phả

1.1 Nguyên văn


Trang phả của ông và dịch nguyên văn

 

Thứ Bảy, tháng 9 06, 2025

Thử bàn về Giả thuyết về Thượng Tổ của cụ Khởi Tổ Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm

 

Dòng họ Lê Hữu sống tại Phúc Ấm căn cứ theo Tộc phả đã từ khoảng 350 năm trước đây. Từ những khảo cứu trên kết hợp với tư liệu Tộc phả được lưu giữ đến nay, chúng tôi xin trao đổi một số thông tin để làm rõ hơn sự cư trú lâu đời của Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm, từ đó có thêm cơ sở để tiếp tục khảo cứu trong quan hệ hợp phả với đại gia đình họ Lê cả nước.

1.  Nơi phát tích của Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm

Tính đến nay (năm 2021) Dòng họ Lê Hữu tại xóm Phúc, làng Phúc Ấm đã có 14 đời được trực tiếp ghi chép và cập nhật. Tại Phúc Ấm còn những di sản quan trọng: Khu mộ cụ Khởi Tổ (Đời Thứ 1) và mộ của những vị Tiên tổ các đời sau. Cuốn phả Hán Nôm được biên chép đầy đủ từ đời Khởi Tổ đến nay. Tổng hợp từ Tộc phả cho thấy Dòng họ Lê Hữu đã định cư ở Phúc Ấm từ khoảng 1670 ± 10 (Thế kỷ XVII) đến nay đã liên tục khoảng 350 năm. Từ sau năm 1950 xuất hiện sự định cư của người Dòng họ Lê Hữu ở địa phương khác (do thoát ly khỏi quê hương đi kháng chiến, đi học tập và công tác...). Phúc Ấm được coi là nơi phát tích để phát triển sau này của Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm tại các địa phương khác trong cả nước.



Ảnh 1: Vài nét về niên đại các vị Tộc trưởng



Ảnh 2: Sự truyền ngôi các vị Tộc trưởng 350 năm qua

 

2. Các giả thuyết về Thượng Tổ của cụ Khởi Tổ Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm

Cụ Khởi Tổ Dòng họ Lê Hữu từ đâu đến lập nghiệp tại Phúc Ấm là câu hỏi chưa được khảo cứu. Chúng tôi thấy có những giả thuyết sau về Thượng Tổ[1] cụ Khởi Tổ:

a/ Nếu trước thời Ngô Quyền, ở Đông Sơn, Thanh Hóa có Lê Sương và Lê Ngọc thì cũng có thể coi đây là một giả thuyết về Thượng Tổ của Dòng họ. Hơn nữa, làng Phúc Ấm chỉ cách Kinh đô Trường Xuân (Đồng Pho) chỉ 2-3km thì rất có thể thời đó đã có người họ Lê ở Phúc Ấm (cũng như có người họ Lê ở Cổ Định, Đồng Pho, Hoàng Lạp...). Đây là một giả thuyết không thể bỏ qua.

b/ Trong phả họ Lê của vị Tổ Lê Đột ở Phong Mỹ (Xuân Tân, Thọ Xuân) có nói rõ về một "Chi Đồng chiêm" ở Đông Văn, Đông Sơn. Đông Văn chỉ cách làng Phúc Ấm khoảng 3km về phía Đông. Biết đâu nhánh này có người đã di cư về Phúc Ấm để sống?

c/ Tại các địa phương khác trong vòng bán kính 10km đều có Dòng họ Lê nói chung, Lê Hữu nói riêng. Những địa danh được coi là làng cổ (đã tồn tại từ hơn 1000 năm) như Cổ Bôn, Cổ Định, Hữu Bộc, Đồng Pho,... đều có người họ Lê Hữu. Như vậy, Lê Hữu từ Phúc Ấm tại sao lại không thể có từ thời các làng cổ trên?

d/ Các biến cố lịch sử thời Tiền Lê (khi nhà Lý lên ngôi) và thời Hậu Lê những năm Nhà Mạc, Nhà Tây Sơn, Nhà Nguyễn có liên quan gì đến sự ly tán, mai danh, ẩn tích... của dòng Hoàng tộc và quan lại họ Lê đến ở các vùng quê héo lánh? Đây cũng nên coi là cơ sở để xem xét khảo cứu.

3. Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm trong quan hệ với các Dòng họ khác

Tại xã Đồng Tiến, hiện làng nào cũng có người mang họ Lê Hữu (chẳng hạn gia đình ông Lê Hữu Nghênh ở Đồng Xá, gia đình ông Lê Hữu Khu ở Đồng Vinh, gia đình ông Lê Hữu Quyền ở Trúc Chuẩn). Các xã quanh làng Phúc Ấm (Đồng Thắng, Đông Hòa, Đông Yên, Đông Phú, Đông Nam) cũng đều có người mang danh Lê Hữu.

Trong làng Phúc Ấm còn có nhiều họ Lê khác tên đệm như Lê Văn, Lê Đình, Lê Công, Lê Quang, Lê Đăng... Các tên đệm khác nhau được coi như các phái hoặc chi họ khác nhau. Cùng với các họ khác như Nguyễn (với các đệm Hữu, Đình, Văn...), Hoàng, Vũ, Đỗ... họ Lê chung sống rất hài hòa bình yên hàng trăm năm qua tại làng Phúc Ấm.

Cũng tại Phúc Ấm hiện có 3 Dòng họ mang danh Lê Hữu (như gia đình ông Lê Hữu Khươi ở xóm Thọ; ông Lê Hữu Tự ở xóm Quý). Tuy nhiên trong 80 năm qua không thấy quan hệ gì với nhau về phả và sinh hoạt Dòng họ. Đây cũng là điểm chưa được khảo cứu về nguồn gốc của 3 Dòng họ mang cùng danh Lê Hữu trong cùng một làng. Chính vì thế, bản Tộc phả này được định danh đầy đủ phải là Dòng họ Lê Hữu tại xóm Phúc, làng Phúc Ấm để phân biệt với 2 dòng họ Lê Hữu khác cùng làng, một ở xóm Thọ, một ở xóm Quý. Địa danh xóm Phúc để nói rõ thổ cư các vị Tộc trưởng và nơi có Từ đường Dòng họ. Tuy nhiên, để viết gọn lại và thống nhất với Lời Tựa bản phả Hán Nôm là Phúc Ấm Lê Hữu tộc, chúng tôi gọi tắt là Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm.

Như vậy, từ đơn vị cư trú độc lập (làng, xóm) cho đến đơn vị hành chính (cấp xã) đã cho thấy sự tồn tại riêng biệt, đồng thời của những người Dòng họ khác tên, khác đệm, thậm chí cùng đệm. Mỗi Dòng họ hiện nay được liên hệ ngày càng phổ biến qua các hoạt động sinh hoạt Dòng họ, các nghi lễ cúng tế, chăm sóc mồ mả... Tính riêng biệt với các đặc trưng của từng Dòng họ tạo thành sự phong phú về sinh hoạt cộng đồng trong quan hệ xóm giềng luôn là điểm mạnh của làng Phúc Ấm có truyền thống đoàn kết từ nhiều trăm năm qua. Truyền thống đó ngày nay đang được phát triển trong sự liên hệ mang tính tổ chức chặt chẽ của chính quyền các cấp. Ngày nay, mỗi người mang Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm luôn tự hào về nơi phát tích, tự hào về Dòng họ để tùy hoàn cảnh và điều kiện của mình mà hướng về cội nguồn với lòng thành kính trong tâm linh, với niềm tin về sự phát triển quê hương ngày càng tốt đẹp.

 



[1] Thượng Tổ: những vị sinh ra cụ Khởi Tổ.

CÁC CỤ KHỞI TỔ DÒNG HỌ LÊ HỮU PHÚC ẤM

Nhân ngày giỗ cụ Ông và cụ Bà Khởi Tổ (hay Đời Thứ nhất), ghi chép dưới đây cơ bản từ thông tin Tộc phả Lê Hữu Phúc Ấm.

 

1. Thông tin trang phả

1.1 Nguyên văn

Ảnh trang phả

Ảnh trang phả viết về Đời thứ nhất

 

Dịch từ trang phả Hán tự

        Đệ Nhất đại tự Pháp Nghị

        Thất nguyệt thập tứ nhật kỵ

        Táng tại Cồn Nguộc

        Tỷ hiệu Ân

        Thất nguyệt thập tứ nhật kỵ

        (Sinh hạ)

    Tự Pháp Nghĩa

    Tự Pháp Diệu

    Tự Phúc Trực

 

1.2 Dịch nghĩa

Cụ Đời Thứ 1 có tên tự[1] là Pháp Nghị, mộ táng tại Cồn Nguộc, ngày giỗ là 14-7. Vợ cụ tên hiệu là Ân, ngày giỗ 14-7.

Các cụ sinh hạ: Trưởng nam[2] tên tự là Pháp Nghĩa, thứ nam tên tự là Pháp Diệu và thứ nam (út) tên tự là Phúc Trực.

2. Phân tích, bổ sung, cập nhật thông tin

Các thông tin về cụ Đời Thứ 1 (Khởi Tổ) ngắn gọn, giản dị nhưng rất quan trọng. Việc trang phả có được đầy đủ như trên là rất quý giá bởi thông tin đó làm rõ vị Khởi Tổ của Dòng họ Lê Hữu cư trú tại Phúc Ấm được tính từ đây.

Vợ cụ ở trang phả chỉ ghi hiệu là Ân, nhưng trong bia mộ ghi rõ Lê Lệnh thị[3] hiệu Từ Ân đã làm rõ cụ bà cũng mang họ Lê, thuộc dòng dõi gia đình danh giá. Các cụ đều có ngày mất là 14-7 (hội kỵ).

Tên tự cụ Khởi Tổ là Pháp Nghị, vợ cụ tên hiệu là Từ Ân. Pháp () nghĩa là phép tắc, gương mẫu, khuôn pháp, nghiêm túc, khéo léo (có thuật, có tài ăn nói, xử thế). Nghị () mang ý nghĩa nghị luận, bàn luận, sắp đặt trước. Ân () có nghĩa ơn, ân cần, ân trời. Chồng tên tự là Nghị, vợ tên hiệu là Ân, các con có tên tự là Nghĩa (): có nghĩa, tình nghĩa; Diệu (): kỳ diệu và Trực (): thẳng thắn, trung trực. Nghị – Ân; Nghĩa - Diệu – Trực là những suy tôn của đời sau cho các cụ Đời Khởi Tổ thật nhiều ý nghĩa sâu sắc.

Thông tin mộ phần và bia mộ

Tại phả có ghi mộ các cụ Khởi Tổ táng tại Cồn Nguộc. Thực địa 2021 tại Cồn Nguộc, mộ các cụ Khởi Tổ được giữ gìn nguyên vẹn, tôn tạo uy nghi. Mộ đã được tu tạo và bồi đắp nhiều lần nên đây là ngôi mộ cao, to nhất ở phần chính giữa Cồn Nguộc.

Ảnh bia mộ cụ Ông-Bà Khởi Tổ: mặt trước (trái) và mặt sau (phải)


Nguyên văn văn tự trên bia

        Mặt trước

        Lê Hữu tộc bia

        Nhất đại Khởi Tổ Lê Quý công tự Pháp Nghị

        Tỷ Lê Lệnh thị, hiệu Từ Ân.

        Thất nguyệt thập tứ nhật hội kỵ.

        Mặt sau

        Ất Sửu niên, nhị nguyệt thập tam nhật tu tạo bia.

 

Dịch nghĩa văn tự bia

        Mặt trước

        Bia Dòng họ Lê Hữu

        Đời Thứ 1 Khởi Tổ Lê Quý công tên tự là Pháp Nghị;

        Vợ: Lê Lệnh thị tên hiệu là Từ Ân. Giỗ 14-7 hội kỵ (cùng ngày).

        Mặt sau

        Tu tạo bia ngày 13-2 Ất Sửu.

Bia khẳng định rõ ràng sự suy tôn Khởi Tổ. Cụ bà Khởi Tổ cũng người họ Lê, "Lệnh thị" khẳng định thêm ý nghĩa quan trọng của gia đình cụ bà. Các cụ có gia sự tốt đẹp, được ca ngợi qua các từ Quý công, tự Pháp..., Lệnh thị, hiệu Từ... (các từ dành cho người sống thọ, hưởng phúc, gia thế yên ổn, phát triển).

3. Niên đại, bối cảnh xã hội

Các thông tin trên không thể có căn cứ để xác định niên đại một cách rõ ràng. Tuy nhiên, xét về phả, thông thường cách tính mỗi đời là khoảng 20-35 năm (tùy theo từng đời), suy ra cụ Khởi Tổ sinh khoảng 1670 ± 10, mất khoảng 1725 ± 10, tức cụ sinh cách hiện nay khoảng 350 ± 10 năm (Xem thêm bài Nhìn lại lịch sử phát triển Dòng họ Lê Hữu Phúc ẤmPhần thứ hai). Từ đó xác định các biến cố liên quan đến thời đại, đến bối cảnh lịch sử đời Khởi Tổ. Vào thời đó, lịch sử đất nước ở vào thời Lê Trung Hưng[4] nhà Hậu Lê. Cụ Khởi Tổ đã chọn Đông Sơn làm nơi lập nghiệp, lấy Phúc Ấm để an cư, coi là quê hương để cư trú khoảng 350 năm qua (Xem thêm Bài Làng Phúc Ấm... Phần thứ hai).

4. Giá trị đóng góp

Đây là dấu mốc khởi đầu cho Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm. Hồng phúc các cụ để lại là Dòng họ Lê Hữu phát triển liên tục, cư trú an lạc tại làng Phúc Ấm kéo dài suốt 350 năm qua.

5. Giá trị di sản

- Nguồn gốc Dòng họ

Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm được minh chứng rõ ràng, đặc biệt chứng tích mộ các cụ Khởi Tổ, Khu mộ Cồn Nguộc cùng các ngôi mộ của Dòng họ suốt hơn 3 Thế kỷ.

- Về sự hội mộ, hội bia và hội kỵ

Các cụ đã được an táng cùng nhau trong một ngôi mộ đất đắp to có ý nghĩa được tôn giữ cho mai sau sự ổn định, tập trung, dễ nhận biết, dễ tìm kiếm trong không gian tưởng niệm. Ngay nay, trong quy tập hoặc xây dựng mới, rất nhiều gia đình, dòng họ cũng đang thực hiện để các cụ ông - cụ bà cạnh nhau theo nguyên tắc "nam tả, nữ hữu" trong các nghĩa trang hay các khu mộ phần gia đình. Việc các cụ xưa đã biết và thực hiện điều này cho thấy tư duy về tầm nhìn mang giá trị lâu dài, bền vững.

Việc hội kỵ cũng là điểm đặc biệt hiếm và may mắn. Tại phả và bia mộ đều nêu rõ sự hội kỵ 14-7. Cũng như cách thể hiện hội mộ và hội bia, việc hội kỵ có giá trị quan trọng về thông tin để sự hiếm có này trở thành sự kiện dễ nhớ, dễ thực hiện nghi lễ khi Dòng họ cùng tôn kính Đời Khởi Tổ, đồng nghĩa với việc cùng tôn kính cả 2 cụ, cùng tưởng nhớ về cả cụ ông và cụ bà. Sự hội mộ, hội bia, hội kỵ không chỉ thể hiện tính độc đáo có tư duy chủ kiến hướng về dài lâu mà còn sự khôn khéo về lý lẽ, sự tinh tế về hành lễ, sự hợp nhất kính trọng tôn thờ giới (không phân biệt nam nữ), không bị phân tán không gian, thời gian... Chúng tôi đánh giá cao điều này trong việc nhất quán, thống nhất tạo sức tập trung tưởng nhớ cội nguồn, tập trung trong thực địa, trong ý chí, trong Tộc phả...

Ngày giỗ cũng rất đặc biệt: 14-7. Trong dân gian, tháng 7[5] là tháng báo hiếu. Quan niệm Rằm tháng 7 là báo ơn sinh thành: “Cúng cả năm không bằng Rằm tháng 7”. Ngày 14 là ngày trước Rằm, ngày mà nhà nhà chuẩn bị cúng tế tổ tiên, đốt hàng mã cho người đã khuất, tế cô hồn... Với không khí chung đó, ngày giỗ các cụ Khởi Tổ thật nhiều ý nghĩa.

Di sản từ các cụ Khởi Tổ mặc dù giản dị ở phần phả, phần bia, phần mộ nhưng các yếu tố Đời Thứ 1 bảo đảm sự trường tồn, phát triển và bền vững của Dòng họ Lê Hữu.

6. Những điểm chưa khảo cứu được

- Cụ Khởi Tổ từ đâu đến?

Trong Lời Tựa cuốn phả gốc, ông Lê Hữu Đát có ghi "Tổ tôn ngưỡng Đông Sơn chi thịnh khí, tư Phúc Ấm dĩ an cư"... đã làm rõ thêm việc cụ Khởi Tổ chọn Đông Sơn, Phúc Ấm là nơi cư ngụ, là nơi có đất thịnh để ổn định và phát triển Dòng họ. Điểm quan trọng là khoảng 350 năm qua, Dòng họ vẫn duy trì sự cư ngụ và phát triển tại nơi lựa chọn ban đầu này. Trong văn hóa và lịch sử, Đông Sơn là một trong những nơi sinh sống của người Việt cổ (di chỉ trống đồng Đông Sơn, Văn hóa Đông Sơn) và Dòng họ Lê là một trong 3 dòng họ lớn nhất của Việt Nam có nguồn gốc cư trú lâu đời tại Thanh Hóa. Suy ra, cụ Khởi Tổ rất có thể là một chi dòng họ Lê tại Thanh Hóa khi đó đã sống ở Đông Sơn hoặc lân cận và đã đến khai hoang lập ấp tại Phúc Ấm (Xem thêm các bài ở Phần thứ hai).

- Bia mộ được lập mới, vậy trước đó có bia cũ?

Các cụ Khởi Tổ đã mất cách đây khoảng 300 năm, việc lập bia chắc chắn được tôn tạo từ các đời sau. Trên bia mộ còn ghi được ngày tháng năm tu tạo. Đó là ngày Xuân mùa Thanh Minh tảo mộ. Ất Sửu không chắc chắn được niên đại, nhưng trên thực địa, đây là bia đá to, chữ khắc hai mặt đẹp, rõ nét, đường bệ, nghiêm trang. Mặc dù được chôn sâu chìm chỉ hở đầu bia nhưng khi tôn tạo năm 1991 cho thấy may mắn còn nguyên vẹn. Căn cứ trên mức độ ăn mòn theo thời gian chúng tôi cho rằng bia được lập năm Ất Sửu, tức là năm 1925 (tất nhiên nếu có thể suy ra các năm Ất Sửu trước đó là 1865, 1805, 1745...). Trong điều kiện sự ăn mòn của mưa gió cho thấy bia rất có thể được tu tạo 1925, do Tộc trưởng Lê Hữu Đát (Đời Thứ 8) thực hiện. Các bia được ông Lê Hữu Đát lập cùng thời như bia mộ bà Nguyễn Thị Trạc (Đời Thứ 8), bia mộ Bà Cô Tổ, bia mộ ông Thuần Thủy (Đời Thứ 7)... cũng có mức độ rõ nét tương tự. Một thời điểm năm 1865 cũng đáng chú ý vì có liên quan đến cụ Tộc trưởng Phúc Huy (Đời Thứ 4). Tuy nhiên nếu cụ Phúc Huy có lập bia thì cũng đã bị mòn mất chữ, nên sau đó đã được ông Lê Hữu Đát đã tu tạo lại vào 1925 là hợp lý. Vậy ngày ghi tu tạo trên mặt sau của bia là 13-2 Ất Sửu chính là ngày 7-3-1925.

- Sự trùng hợp may mắn: Ai đã quy tập đưa các cụ táng về một mối?

Rất có thể cụ Phúc Huy, Tộc trưởng Đời Thứ 4 là người có công lao và có điều kiện dựng lại cơ nghiệp, mồ mả dòng tộc. Đối với cụ Phúc Huy thì cụ Khởi Tổ cách cụ 4 đời, nghĩa là cụ Phúc Huy là chắt nội (gọi cụ Khởi Tổ bằng ông cố/kỵ).

Việc quy tập về một mối ngày nay rất phổ biến, nhưng thời điểm xa xưa ấy mà táng đặt cả hai cụ trong một ngôi mộ là có chủ ý định hướng rõ ràng. Ngoài ra cũng có thể suy đoán việc này được quy tập từ nơi khác về Cồn Nguộc. Cụ Phúc Huy đã chọn được Cồn Nguộc làm Khu mộ của Dòng họ rất có thể từ sự kiện được truyền ngôn về Bà Cô Tổ. Đây là chứng cứ lấy Cồn Nguộc làm nơi linh thiêng cho Dòng họ và cất bốc mộ các cụ Khởi Tổ về đây làm dấu mốc cho Dòng họ về lâu dài.

*  *

*

 

Mỗi lần nghĩ về Dòng họ, mỗi lần thắp hương cúi đầu viếng mộ các cụ Khởi Tổ và các vị Tiên tổ khác, những người con trong Dòng họ Lê Hữu đều tưởng nhớ công lao to lớn của người Khởi Tổ và đều thầm nghĩ đến sự may mắn mà con cháu đời sau được hưởng phúc từ các cụ. Ẩm Hà Tư Nguyên (uống nước nhớ nguồn) là mỗi niềm thành kính của mỗi người con trong Dòng họ, dù đi đâu về đâu, sinh cơ lập nghiệp trăm miền đều luôn hướng về nguồn cội Dòng họ Lê Hữu, nhớ về nơi phát tổ Phúc Ấm, nhớ về những giá trị di sản cội nguồn còn vẹn nguyên từ thời cụ Khởi Tổ. Như một lời kính lạy, viễn tôn hậu sinh Đời Thứ 10 xin được sự phù hộ của các cụ Khởi Tổ và các vị Tiên tổ để ghi chép biên tập Tộc phả, mong có được nhiều điều bổ ích cho truyền thống Dòng họ.

Kính dâng ! 

 



[1] Tên tự và tên hiệu là cách gọi tên đã giải thích ở Phần thứ nhất. Một số vị có ghi rõ húy (như Đời Thứ 4, Đời Thứ 7, Đời Thứ 8). Trường hợp không ghi húy, nhất là các vị từ các Đời Thứ 1 – Đời Thứ 6 thì tên tự và tên hiệu được đời sau suy tôn người đã khuất (hiểu như tên hèm hay tên thụy) dùng để xưng khi tế lễ. Tuy nhiên một số trường hợp có thể lại chính là tên tục (tên thường gọi).

[2] Cách viết trong trang phả cũ: phía phải là giới nam: từ trưởng đến thứ, tính từ giữa ra bên phải; trái là giới nữ: trưởng đến thứ, tính từ giữa ra phía trái. Đây là cách viết phân rõ được thứ tự theo giới nhưng không xác nhận được thứ tự sinh khi nhập cả 2 giới.

[3] Khi các vị dâu có thêm chữ Lệnh thị được hiểu là thông gia của Dòng họ Lê Hữu thuộc gia đình dòng dõi danh giá (gia đình có chức sắc, giàu có...)

[4] Thời Lê Trung Hưng nhà Hậu Lê. Cụ sống ở các đời Vua Lê Huyền Tông (1663-1671); Lê Gia Tông (1672 – 1675); Lê Hy Tông (1676-1705) và Lê Dụ Tông (1705-1729).

[5] Tháng 7 âm lịch (theo Phật giáo) nặng về báo ơn sinh thành, là tiết xá tội vong nhân, nhờ ơn đức Phật mà tất cả các vong linh bị đoạ trong chốn khổ đau được tế bạt, siêu thoát. Ở Việt Nam tháng 7 với đạo hiếu: báo hiếu cho tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Phật giáo quan niệm phải yêu thương tất cả mọi loài, kể cả những người không mồ không mả, chết không thờ tự hay còn gọi là cô hồn.

 

Thứ Hai, tháng 9 01, 2025

Chuyện năm thứ nhất – Vẫn là học và thi các môn còn lại

Ghi chép này để nhớ ơn anh Nguyễn Đăng Hợp và tặng anh Lê Ngọc Lan

Năm thứ nhất chúng tôi còn thi vấn đáp môn Nguyên lí sinh học và thi viết môn Hóa đại cương cùng 2 môn kiểm tra là Nga vănThể dục (điền kinh).

Các môn thi này tôi không có nhiều ấn tượng về học thuật cũng như về giảng viên. Tôi ghi lại một số kí ức trong bài này để kết thúc chuyện học hành năm thứ nhất đại học. Tất nhiên, ngoài học hành thì còn rất nhiều kỉ niệm vẫn như y nguyên trong kí ức, tôi sẽ đề cập vào hoàn cảnh thích hợp. Cứ tạm coi đây như là tôi đang trôi theo dòng kí ức việc học tập và lao động…

Môn Nguyên lí sinh học

Như đã đề cập ở bài “Cuộc sống sinh viên những ngày đầu tiên”[1], tôi đã không nhớ được tên thầy giáo dạy mặc dù sau này tôi đã gặp lại thầy vài lần ở Trường Đại học Tại chức Nam Định (thầy đã chuyển về Nam Định từ khoảng 1977-1978). Thầy có dáng người thấp nhỏ, trán hói, khoảng trên 40 tuổi, nói nhỏ, hay cười… Tiết học đầu tiên của tôi ở giảng đường 8 là học môn của thầy.

Môn Nguyên lí sinh học có những nội dung cơ bản nào thì tôi cũng không nhớ nữa. Nay chỉ còn nhớ rằng thầy đã dạy về tế bào với các thành phần cơ bản của tế bào như nhân, ty thể, ribôxôm… Những thành phần rất quan trọng trong tế bào như ADN lại không có ấn tượng gì. Hay hồi đó kiến thức về di truyền của ADN[2] chưa phát triển, chúng tôi được học mà không thấy thầy nêu bật điểm quan trọng của nó trong di truyền. Trong giờ giảng về sự nhân đôi tế bào, 1 thành 2, 2 thành 4, 4 thành 8… tôi nghe thầy liên hệ rằng nhờ đó mà bản thân thầy được sinh ra từ tế bào trứng mà nay ít ra cũng > 40kg là nhờ sự sinh trưởng và phát triển của tế bào. Tóm lại, biết được tế bào là đơn vị cơ bản của cấu tạo cơ thể sinh học và cách sinh trưởng nhân đôi tế bào.

Khi thi vấn đáp môn này, tôi đã có kinh nghiêm từ thi môn Triết học Mác – Lênin là phải viết ra tờ chuẩn bị đầy đủ những kiến thức trong câu hỏi (dù tôi đã ghi nhớ trong đầu). Khi trình bày tôi trả lời hết nhưng không thấy các thầy hỏi thêm gì, dường như các thầy không chú ý lắm đến sinh viên. Kết quả thi được điểm 3/5, cũng hơi bất mãn chút. Nhưng nghĩ lại thì tôi cho là các thầy cô Khoa Trồng trọt nghe sinh viên Kinh tế nông nghiệp trả lời chắc không hứng thú gì cho lắm!

Môn Hóa đại cương

Môn Hóa đại cương thì tôi còn nhớ khá nhiều. Thầy giáo dạy tên Soan có khuôn mặt hơi khắc khổ, còn nhiều dấu của những vết sẹo do căn bệnh đậu mùa ngày nào. Thầy nói nghe khá rõ, nhưng có vẻ không tự tin lắm. Phương pháp giảng bài chậm rãi, không có những thăng hoa hay trầm bổng mà đều đều, dàn trải. Thầy cũng ít cười và không giao tiếp với sinh viên.

Các nội dung thầy dạy có 3 nội dung là hóa hữu cơ, hóa phân tích và hóa lí thuyết.

Hóa hữu cơ nghiên cứu về cấu trúc, tính chất, thành phần, phản ứng hóa học của những hợp chất hữu cơ là các hợp chất chứa carbon.

Hóa phân tích nghiên cứu phương pháp để xác định thành phần (cấu tạo, nguyên tố, hợp chất) và hàm lượng (số lượng, nồng độ) của các chất trong một mẫu vật. Hóa phân tích gồm 2 loại chính là phân tích định tính (xác định chất nào có mặt) và phân tích định lượng (xác định hàm lượng, nồng độ của chất đó). Ngoài ra còn nhiều phương pháp khác nhưng thầy nói dành cho các chuyên ngành đi sâu nghiên cứu bằng các công cụ hiện đại.

Hóa lý thuyết nghiên cứu các nguyên lý và phương pháp hóa học dựa trên các khái niệm và nguyên tắc vật lý như nhiệt động lực học, động học hóa học, cơ học lượng tử và lý thuyết mạng tinh thể. Nói chung khá cao siêu.

Câu chuyện về nguyên lý molan

Trong nội dung thầy Soan dạy về hóa phân tích có nói đến phương pháp phân tích định lượng dùng kĩ thuật dung môi và đề cập đến nguyên lý molan[3] (hay nồng độ molan). Từ molan nghe lạ tai nhưng được mọi người rất thích thú vì vận ngay vào tên anh Lê Ngọc Lan. Anh Lan có cách nói chuyện rất đặc biệt, thường hay chú ý đến các chi tiết để hỏi lại và tranh luận. Theo tôi đây là kiểu nói chuyện đi sâu tìm hiểu vấn đề cũng như thể hiện được sự quan tâm, sự nhận thức của những người nói chuyện với nhau, rất đáng học hỏi. Trong Tổ 1 có 2 anh được gán cho tên Lý (ý là hơi lý sự một chút) là Lý Lục (tức anh Phan Xuân Lục) và Lý Lan (tức anh Lê Ngọc Lan). Nay hóa học có nguyên lý molan – thế là từ đó mọi người gọi anh Lan bằng tên Molan. Cái tên thân mật này đã 50 năm rồi mà nhiều người vẫn nhớ, có lẽ anh Lan cũng thấy thích nghe tên này (?)

Môn Hóa đại cương thi viết vào ngày 17/7/1976, sau đó là nghỉ hè. Tôi có ưu thế thuộc và hiểu bài nên bài thi viết của tôi đạt 4/5 điểm.

Môn Nga văn

Nói đến Nga văn là mọi người đều nhớ đến cô giáo Nguyễn Thị Hòa[4]. Môn Nga văn năm thứ nhất chỉ là môn kiểm tra nhưng cô Hòa dạy rất nhiệt tình. Khi đó cô Hòa mới học ở Liên Xô về. Cô dạy tiếng Nga nhưng nói tiếng Việt là chính nên chúng tôi học tiếng Nga năm thứ nhất chỉ cơ bản là học phát âm và thuộc từ vựng.

Tôi nhớ một hôm cô Hòa đến thăm các phòng nam ở KTX sinh viên nhà A2. Buổi tối ấy cô Hòa vào phòng Tổ 1 là lúc đang mất điện. Mọi người hò hát, nói chuyện vui vẻ trong ánh sáng vài đèn dầu nhỏ. Anh Khang đang cao giọng bài tủ “Nắng tỏa chiều nay”. Khi cô Hòa vào phòng mà anh vẫn nằm trên giường tầng ca vút lên “chiều tỏa nắng đôi bờ em ơi, gió lộng chiều nay…” Cô Hòa hỏi thăm mọi người, kể chuyện sinh viên hồi học ở Liên Xô, chuyện KTX nữ bên Liên Xô bố trí 4 người/phòng có đầy đủ tiện nghi và rất sạch sẽ… Bỗng có điện sáng bừng, anh Khang vẫn ở trên giường tầng thò đôi bàn chân ra ngoài, hai bàn chân đen nhẻm (vì mất điện nên không có nước rửa chân). Mọi người nhìn nhau cười rất vô tư, vui vẻ.

Cô Hòa là bạn học hồi cấp I với anh Công Phương Kình, cùng thôn Phú Gia, xã Phú Thượng, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Anh Kình nay đi bộ đội về học thì người bạn học năm xưa đã là cô giáo. Chúng tôi thấy anh Kình có vẻ e ngại, không thân với người bạn cấp I năm xưa lắm.

Kiểm tra môn Nga văn thì cô Hòa cho đạt hết như để động viên chúng tôi học tập.

Môn Thể dục điền kinh

Môn thể dục năm thứ nhất học về điền kinh do thầy Đỗ Mộng Ngọc[5] dạy. Thầy là giáo viên thể lực, cũng học từ Liên Xô về - vợ thầy tên Bình cũng là giáo viên thể dục (không rõ dạy thể dục gì). Thầy Ngọc rất khỏe mạnh, dáng thẳng, cao và to, da mặt đỏ hồng hơi ngăm, tóc chải úp có những làn xoăn ốp sát đầu rất đẹp. Khi giảng bài ngoài sân tập, chúng tôi thấy thầy ăn mặc rất nghiêm chỉnh và đẹp, trên tay cầm quyển sách tiếng Nga bìa cứng màu nâu đỏ. Thầy dạy điền kinh rất bài bản. Rất chú ý các phương pháp chạy (chúng tôi học chạy 1600m và chạy 100m), trong đó kĩ thuật xuất phát chạy cự li ngắn được coi là đặc biệt quan trọng (có cái bàn đạp ở chân khi xuất phát).

Các buổi học thể dục điền kinh diễn ra ở khu thể thao tại sân vận động của trường. Ở đó có nhà để dụng cụ thể thao và phòng họp của giáo viên. Sân vận động do người Nga thiết kế, khi chúng tôi học đã là gần 20 năm sử dụng. Quanh sân có rất nhiều cây xà cừ to lớn. Một sân cỏ bóng đá chuẩn kích thước. Đường pit quanh sân bóng rộng rãi, đủ quy cách đường chạy tuyệt vời. Khu tập còn có các hố cát phục vụ môn nhảy xa, nhảy cao. Có khu vực học xà đơn, xà kép. Sân chơi bóng chuyền, sân tập bóng rổ đều rộng và đúng quy cách…

Thầy Ngọc cho biết bài kiểm tra sẽ bao gồm chạy 100m tính kết quả bấm giây và chạy đường dài 4 vòng sân vận động (mỗi vòng sân 400m) bấm phút. Tiêu chuẩn sinh viên đại học năm thứ nhất là chạy 100m phải dưới 15 giây đối với nam, còn chạy 1600m là xx phút (tôi không còn nhớ). Sau này tìm hiểu tôi mới biết là thầy Ngọc yêu cầu rất cao, có lẽ theo tiêu chuẩn sinh viên Liên Xô. Thông thường hiện nay chỉ lấy tiêu chuẩn 16s/100m cho nam, kể cả quy định rèn luyện trong quân đội.

Hôm kiểm tra, từng người được gọi vào đường chạy 100m. Thầy Lung phất cờ, thầy Ngọc bấm giờ. Tôi chạy về đích với kết quả 16,5 giây[6] – không đạt yêu cầu và ngay sau khi về đích đã bị ngất phải đưa vào cấp cứu ở bệnh xá trường (đã viết ở bài[7]…). Buổi kiểm tra chạy dài 1600m, thầy chia thành các nhóm chạy và có bấm giờ nhưng không thông báo kết quả thời gian cho từng người. Sau này thầy lấy kết quả ai chạy đủ 1600m không bỏ cuộc là đạt.

Chuyện phải kiểm tra lại và bài học kinh nghiệm cuộc đời

Có một câu chuyện từ môn thể dục của thầy Ngọc mà tôi đã nhớ suốt đời, cũng là bài học kinh nghiệm sâu sắc cho tôi trong công việc làm giáo viên sau này.

Các sinh viên kiểm tra điền kinh không đạt yêu cầu phải kiểm tra lại. Một số người, cả nữ sinh, phải kiểm tra lại chứ không phải mình tôi. Tổ 1 chỉ có mình tôi không đạt (chắc thầy cũng chiếu cố một số trường hợp như thương binh). Tôi rất lo lắng vì nếu có chạy lại thì chắc vẫn không đạt. Anh Nguyễn Ngọc Minh trong phòng biết tôi lo lắng nên bảo: “Mày để tao chạy thay cho, thầy giáo không nhớ mặt đâu. Mấy đứa lớp KT20B trượt cũng nhờ nhau chạy thay, thằng Đình bảo thế”. Một số anh em trong phòng cũng biết chuyện và nghĩ là nếu nhờ anh Minh chạy thay thì tôi sẽ qua được môn kiểm tra này. Thế là tôi đồng ý và nói với anh rằng anh chạy vừa đủ nhanh thôi để thầy không nghi ngờ.

Lúc anh Minh chạy thay tôi, anh về đích với kết quả 13,5s. Anh Minh là thương binh gãy chân, thế mà chạy quá nhanh, đạt thành tích xuất sắc! Tôi đứng xa thấy thầy Ngọc gọi anh Minh lại nói là anh chạy thay nên phạm quy. Thầy hỏi tên anh và dọa sẽ báo cáo lên Khoa về chuyện này.

Mọi người rất lo lắng và bảo rằng nếu tôi cứ chạy thật thì dù có kém có lẽ thầy cũng sẽ cho qua mà không cần nhờ người chạy thay. Hối hận thì cũng đã muộn. Anh Hợp bảo tôi viết bản tự kiểm điểm và anh sẽ đưa tôi lên xin lỗi thầy, mong thầy cho tôi qua môn kiểm tra điền kinh.

Một buổi tối, anh Hợp về muộn (vì anh ở cơ quan vợ tại Đức Giang) đưa tôi lên nhà thầy Ngọc. Khi chúng tôi vào thì vợ chồng Thầy đang ở nhà. Thầy mặc pijama trong nhà tiếp chúng tôi. Nhà thầy là căn hộ tập thể gần khu thể thao. Phòng khách nhỏ của thầy có cái tủ sách nhỏ, nhiều sách tiếng Nga. Anh Hợp xin vào đề luôn đại ý nói hôm nay thay mặt lớp đến xin lỗi thầy đã để xảy ra chuyện kiểm tra hộ vừa rồi. Anh còn nhấn mạnh rằng trường hợp Ảnh có hơi đặc biệt, bị đau bụng kinh niên từ nhỏ nên sức khỏe rất yếu. Mong thầy thông cảm.

Tôi gửi thầy bản tự kiểm điểm và không nói gì. Thầy và anh Hợp có trao đổi mấy phút nhưng tôi không nhớ gì nữa. Chắc là thầy phê bình nghiêm khắc chuyện gian lận và quan trọng là thầy sẽ không báo cáo chuyện này lên Khoa (khi đó báo cáo lên Khoa thì mọi người lo sẽ bị đuổi học). Chuyện đó may mắn đã ổn thỏa và tôi không bị Khoa gọi lên hay làm kiểm điểm phê bình gì nữa. Cũng may hồi đó kiểm tra không đạt thì cũng không tính vào thành tích học tập, chỉ tính thành tích thi đua.

Thật ra tôi đã rất cố gắng và đã có ý thức luyện tập từ nhiều tháng trước. Các buổi sáng đều dậy sớm ra sân vận động chạy để rèn luyện sức khỏe. Tuy nhiên, thể lực của tôi khi vào trường chỉ nặng 32kg, cao chưa đạt 150cm. Vào cuối tháng 6/1976 tức là tôi vào trường mới hơn nửa năm. Tuy thể lực đã cải thiện nhiều nhưng tôi cũng chỉ nặng khoảng 40kg, cao 155cm, thuộc loại rất nhỏ về thể lực nên không thể đủ sức để chạy đạt tiêu chuẩn điền kinh kiểm tra. Việc không đạt được kết quả kiểm tra là tất nhiên với thể lực đó, tôi đã chạy đến mức bị ngất phải đưa đi cấp cứu - rõ ràng là tôi đã chạy hết sức mình.

Qua chuyện này tôi lại thấy được nhiều bài học quý giá trong đời.

Vai trò của anh Hợp – lớp trưởng – trong việc giúp đỡ tôi: Nếu anh không đưa tôi lên nhận lỗi với thầy Ngọc thì có thể cả lớp sẽ bị ảnh hưởng. Nhờ anh Hợp mà thầy Ngọc không báo cáo chuyện này về Khoa.

Về chuyện gian lận trong thi cử, tôi đã ân hận suốt đời là mình từng thiếu trung thực khi đi học. Đây là bài học cho tôi khi làm giảng viên sau này. Trung thực, thật thà là thước đo cao quý trong công việc, nhất là nghề giáo dục!

Trường hợp tôi bị ngất ngay sau khi chạy kiểm tra thì chắc chắn thầy Ngọc không thể quên tôi được. Có khi cả đời giảng dạy chỉ có một trường hợp như vậy. Giá hôm đó anh Minh có chạy chậm hơn thì vẫn bị thầy phát hiện. Sau này, tuy cùng đội ngũ giảng viên trong trường nhưng tôi cũng ít khi gặp thầy Ngọc vì chúng tôi ở các chuyên môn khác nhau. Tuy vậy tôi vẫn có cảm giác thầy vẫn còn nhớ đến tên tôi mỗi khi gặp thầy trong các cuộc họp hành hoặc các hoạt động thể thao trên sân vận động.

Có lúc tôi nghĩ nếu tôi là thầy Ngọc thì tôi sẽ làm gì khi học trò đã cố gắng đến mức cận tử mà không đạt kết quả? Rồi tôi lại nghĩ giá thầy có điều kiện nhắn gửi cho tôi rằng hiện tượng bị ngất sau khi cố gắng quá sức là nguy cơ đột quỵ rất nguy hiểm cần cẩn thận trong cuộc sống. Tôi cũng ước giá hoàn cảnh đó được thầy hướng dẫn luyện tập để đạt kết quả kiểm tra mà vẫn bảo đảm sức khỏe thì tuyệt vời biết bao! Nếu tôi tự chạy thì biết đâu thầy sẽ có điều kiện giúp tôi những việc đó chăng (hơn là cứng nhắc dọa phạt khi biết tôi đã gian lận).

Từ đó, tôi cũng rất chú ý đến những hoàn cảnh cá biệt trong giảng dạy sau này. Nhiều sinh viên đặc biệt như có khuyết tật thân thể hay gặp gia cảnh khó khăn, hoặc gặp các tình huống đau buồn… tôi đều cố gắng gặp để trao đổi động viên và tạo điều kiện để họ có cơ hội được học tập tốt nhất. Tôi nghĩ ít ra mình cố gắng giúp sinh viên để họ không bị lâm vào tình trạng như tôi dại dột gặp phải hồi đại học năm thứ nhất.

Còn một bài học nữa về chăm sóc sức khỏe. Từ chuyện tôi bị ngất lần đầu tiên đó thì tôi biết trái tim của tôi vốn không khỏe mạnh nên khi gắng sức quá mức sẽ dẫn đến thiếu máu não, hoa mắt, ngất xỉu. Khi tìm hiểu tôi được biết đó là dạng “thiếu máu não thoáng qua” – một kiểu đột quỵ nhẹ. Mặc dù luôn ý thức được điều đó nhưng sau này tôi vẫn bị mấy lần ngất xỉu. Nhưng chắc chắn là tôi đã tránh được nhiều lần ngất xỉu khác từ việc biết sự cố sức khỏe hồi chưa đầy 20 tuổi. Như vậy là “trong họa có may” đấy chứ!

Cũng vì chuyện không đạt kết quả kiểm tra môn thể lực mà tôi bị mất thành tích thi đua. Theo quy định hồi đó, nếu ai có 50% số môn thi từ ≥ 4/5 điểm (tất nhiên các môn thi khác phải 3/5 và các môn kiểm tra đạt yêu cầu) thì có danh hiệu sinh viên tiên tiến. Tôi có hai môn 3/5 và một môn 5/5, một môn 4/5 nhưng vẫn không được sinh viên tiến tiến vì tôi đã không đạt kiểm tra môn thể dục. Học sinh tiên tiến từ năm thứ nhất là quan trọng lắm. Hè 1976, Nhà trường cùng Đoàn Thanh niên còn tổ chức cho học sinh tiên tiến và xuất sắc cả trường đi nghỉ mát Sầm Sơn 2 ngày. Trong Tổ 1 có Cao Ngọc Đức được đi dịp đó. Sau này nhiều kì tôi đạt kết quả sinh viên tiên tiến nhưng Nhà trường không tổ chức đi nghỉ mát lần nào nữa.

Thật tiếc cho thành tích học tập năm thứ nhất!

 

 

 



[2] ADN có cấu trúc dạng xoắn kép với 2 mạch song song. Thông tin trong ADN được lưu trữ dưới dạng mã, được tạo thành từ bốn loại bazơ nitơ: adenine (A), guanine (G), cytosine (C) và thymine (T). Các bazơ này bắt cặp với nhau, A-T và C-G thông qua liên kết hydro để tạo thành các cặp bazơ. 

[3] Nguyên lý molan (hay nồng độ molan) biểu thị nồng độ của dung dịch bằng số mol chất tan trên mỗi kilôgam dung môi. Nồng độ molan (molality) được sử dụng lần đầu trong "Thermodynamics and the Free Energies of Chemical Substances" của G.N. Lewis và M. Randall vào năm 1923.

Xem tại https://en-m-wikipedia-org.translate.goog/wiki/Molality?_x_tr_sl=en&_x_tr_tl=vi&_x_tr_hl=vi&_x_tr_pto=tc

[4] Sau này gia đình cô Hòa (chồng là Liễn dạy Khoa Cơ khí) chuyển vào Đại học Cần Thơ. Anh em ĐHNNI đi bộ đội ở QK9 hồi 1980 đã nhiều lần đến chơi nhà cô Hòa. Về sau gia đình cô chuyển về Sài Gòn, cô đã mất khoảng những 2000 (?)

[5] NGƯT Đỗ Mộng Ngọc - Nguyên Trưởng Bộ môn Giáo dục Thể chất ở ĐHNNI. 

[6] Chạy 100m cho nam giới có chi tiết tiêu chuẩn (thường gặp): Loại giỏi: Dưới 14 giây; Loại khá: Từ 14 đến 15 giây; Loại trung bình: Từ 15 đến 16 giây. Trong quân đội cho nam giới: Loại giỏi: dưới 14 giây. Loại khá: từ 14 đến 15 giây. Loại trung bình: từ 15 đến 16 giây. Xem tại https://dinhduongykhoa.vn/tieu-chuan-ren-luyen-the-luc-trong-quan-doi/