Thứ Hai, tháng 4 27, 2026

Năm thứ 4 – môn học Chăn nuôi cơ bản và Thú y cơ bản


Chúng tôi được học kiến thức ngành chăn nuôi

Cuối cùng rồi chúng tôi cũng được học một chút đại cương về ngành chăn nuôi. Chăn nuôi vốn là thế mạnh trong đào tạo của ĐHNN I.

Ngành chăn nuôi là có từ khi thành lập trường (1956). Như tôi đã ghi chép trong một bài từ năm thứ nhất, trường có hẳn một khu chăn nuôi gọi là Trại Quang Trung[1] và 1 Bệnh viện Thú y do Liên Xô xây (lớn nhất Đông Nam Á). Duy có lần được tham quan và nghe giới thiệu hồi lao động hướng nghiệp năm thứ nhất, chúng tôi chưa có hoạt động nào liên quan đến ngành chăn nuôi. Về ngành trồng trọt thì nhiều: trồng cây trong khu vườn quả, cấy lúa ngoài khu Trại TTTN và được học hàng chục loại cây trồng nông nghiệp… Rõ ràng là kiến thức trồng trọt vẫn được ưu tiên hơn trong đào tạo kĩ sư kinh tế.

Tôi nghĩ người ta sắp xếp như vậy chắc cũng có ý định vì nền kinh tế khi đó có cơ cấu ngành trồng trọt lớn hơn ngành chăn nuôi rất nhiều. Học xong kiến thức các môn cây trồng thì đến năm cuối mới học chăn nuôi và thú y. Cách học này bảo đảm cho các kì năm thứ 3 trở đi luôn có môn học không phải chuyên môn kinh tế - có thể là cách làm cho sinh viên cho đỡ nhàm chán hơn khi phải cả kì chỉ học các môn chuyên môn nhạt nhẽo.

Từ bản thân, tôi cũng nhận thấy rằng sau khi học nhiều môn kinh tế quả là thấy có nhàm chán, khô khan từ nội dung kiến thức, cách dạy, sự nghiêm chỉnh không cần thiết của các thầy cô... Đánh giá kết quả thi khá vô cảm, ít chú ý đến kiến thức mà người học đã nghiêm túc tiếp thu. May có các lần đi thực tế nên chúng tôi còn có hứng thú. Rất nhiều môn học kĩ thuật ngoài ngành đem lại cho chúng tôi cảm hứng mới.

Trong trường ĐHNN I, ngành chăn nuôi luôn có nhiều nữ sinh trẻ xinh đẹp. Do kiến thức nghề nghiệp, họ hiểu rõ những vấn đề về sinh lý vật nuôi, về bản năng con thú, tất nhiên có liên hệ bản năng con người. Sinh viên chăn nuôi thú y mạnh bạo trong các giải pháp giải quyết vấn đề về tạo giống, nuôi dưỡng, phòng trừ bệnh tật cho gia súc… nên cũng “nhiễm” một số tính cách trong cuộc sống như ăn nói khá mạnh bạo, dùng các từ ngữ chuyên môn có ý nghĩa “nước đôi” rất hài hước đa nghĩa. Chuyện nói năng của họ đôi khi được hiểu như nghề nghiệp, nhưng lại còn được gán cho một khía cạnh liên quan đến con người. Sinh viên một số khoa trong trường có ý “chê” nữ sinh kinh tế toàn các chị lớn tuổi đi học, lại khô khan nghề nghiệp, lúc nào cũng nghiêm túc nên còn bị gán cho chuyện các chị bị tài khoản hạch toán ám ảnh. Đi đâu cũng mang chuyện tài khoản, chuyện hạch toán thu chi ra trao đổi. Chuyện vui kể rằng một đôi trai gái kinh tế yêu nhau, có kẻ đùa nói là bọn chúng đang “mở tài khoản” trong lòng nhau. Hồi đó trong trường có câu lưu truyền về chọn vợ: “Có lấy thì lấy thú y, đừng lấy kinh tế chi li từng hào”.

Học Môn chăn nuôi cơ bản

Môn chăn nuôi cơ bản được học từ kì 1 năm thứ 4 với dung lượng 90 tiết. Như tôi đã đề cập ở ghi chép trước, đây là môn học cung cấp kiến thức để đi thực tập tại NTQD Mộc Châu, nơi có ngành chăn nuôi phát triển. Tuy nhiên kiến thức chăn nuôi bò sữa lại không được học.

·     Giáo viên giảng bài

Giáo viên là cô giáo Nhàn (không nhớ họ của cô). Cô Nhàn tốt nghiệp tại ĐHNN I khóa 7, khi đó khoảng hơn 30 tuổi. Chúng tôi rất hứng thú nghe một cô giáo còn trẻ giảng bài, lại thấy cô khỏe mạnh, vóc dáng thể thao. Cô Nhàn ăn mặc khá mạnh bạo, thể hiện rất rõ nét nữ tính và thể thao trên thân thể rắn chắc có phần hơi mập. Quần thun bó sát là một kiểu mặc rất “phá cách” không thấy ở nhiều giáo viên nữ trong trường. Chúng tôi khi đó nghĩ như cô đã từng đi học nước ngoài về nên có nhiều trang phục “mạnh dạn” chăng[2]? Ngành kinh tế nông nghiệp vốn đã ít cô giáo, lại toàn các cô nghiêm nghị. Khi dạy còn khan hiếm cả nụ cười, quần áo thì chỉn chu, nghiêm túc. Hình ảnh cô Nhàn như một biểu hiện rất nhiều điểm mới trong chúng tôi về giáo viên trên giảng đường đại học.

Cô dạy cho ngành kinh tế - ngành khi đó có nhiều sinh viên là bộ đội về như tầm tuổi cô - nhưng cô rất tự tin, không hề có dấu hiệu gì về ngại ngùng hay e lệ. Chuyên môn vững vàng nhưng quan trọng hơn là diễn đạt hấp dẫn: không tránh những thuật ngữ “nhạy cảm”, không ngại nói những cơ quan sinh sản trên cơ thể gia súc, những tập tính bản năng của gia súc. Ban đầu chúng tôi đều thấy như bị ức chế vì luôn nghĩ các diễn đạt trong giảng đường đại học phải thâm nghiêm trang trọng. Nay nghe cô nói có vẻ ngang tàng, tưng tửng, hơi trêu ngươi, lại như hơi “dễ dãi” để “dân dã hóa” cách nhìn bọn gia súc theo kiểu “nhân cách hóa”. Những hiện tượng nhạy cảm của gia súc như động dục, các chức năng cơ quan sinh sản, các vấn đề theo dõi tập tính bản năng di truyền trong các súc vật được cô Nhàn nêu rất sinh động, không ngại từ ngữ dân gian, miễn là đến với người nghe hiểu nhanh nhất có thể. Rõ ràng lối giảng và nội dung môn học chuyên môn như một kiểu trêu tức xuyên thủng lối giảng thâm nghiêm kinh viện, khô khan giáo điều của giáo viên kinh tế. Sau một vài tiết ban đầu còn có vẻ ngần ngại, chúng tôi bắt đầu rất hứng thú khi nghe cô giảng theo lối rất “phá cách” của ngành nghề.

·     Chuyện một số nội dung còn nhớ

Môn Chăn nuôi cơ bản dạy về 3 nhóm gia súc cơ bản: trâu bò, lợn và gia cầm. Mỗi loại gia súc đều được giới thiệu những nội dung cơ bản giống nhau: tác dụng vật nuôi, những vấn đề sinh lý cơ bản, thức ăn, chuồng trại, tái đàn, chăm sóc vật nuôi mới sinh… Đại loại thế, mỗi loại súc vật đều có những điểm riêng, chẳng hạn trâu bò (đại gia súc) có mục nuôi dưỡng khi sử dụng trong sản xuất, lợn có mục thụ tinh nhân tạo, gà có mục ấp trứng… Dưới đây là những câu chuyện còn nhớ trong kí ức của tôi.

Đầu tiên cô Nhàn dạy về trâu bò. Cô nói đây là loại đại gia súc được con người thuần dưỡng để phục vụ sản xuất. Nghe từ đại gia súc mới lạ, một hôm anh Nguyễn Văn Ngọc đố mấy anh em trẻ trong Tổ 1 là có bao nhiêu loại được xếp vào nhóm đại gia súc. Mấy anh em trẻ nói ngay có voi, ngựa, trâu bò, dê, cừu… vì lấy cơ sở phân biệt là đại – tức to lớn. Sau khi cãi nhau một hồi, anh Ngọc giải thích chỉ có 2 loại: trâu/bò và ngựa. Voi to thật nhưng không được coi là gia súc vì ít phổ biến, còn dê, cừu là nhóm tiểu gia súc tương đương với bọn lợn. Thế là chốt được chuyện phân loại gia súc cơ bản qua thảo luận trong tổ. Nhân tranh cãi này, anh Trần Duy Học nói thế bọn “lục súc”[3] gồm những loại nào? Lại nổ ra tranh luận và bất phân thắng bại.

Khi học về chuyện dạ dày 4 túi của trâu bò, chúng tôi mới rõ chuyện trâu/bò nhai lại thức ăn, và mới biết chức năng các túi trong dạ dày của trâu bò. Nghe chuyện này, Anh Nguyễn Đình Chình nhận xét: thì ra bọn trâu/bò ăn cỏ, nhưng cuối cùng là toàn tiêu hóa thịt (vi sinh vật). Bọn trâu/bò là cái máy chế biến rơm cỏ thành “thịt vi sinh vật” để hưởng thụ mà bọn “người” không biết làm.

Cô Nhàn nói về trâu/bò đực nhận biết bạn tình động dục cách xa mấy km nhờ chúng có khả năng ngửi được mùi động dục bọn trâu/bò cái trong không khí. Đó là cách để con cái phát ra tín hiệu động dục tìm bạn tình - bản năng để con đực phát hiện được mùi bay trong gió xa đến mấy km. Về chuyện này tôi có một liên hệ ở quê tôi khi tôi từng biết như sau: một hôm đàn trâu HTX đang cày ruộng buổi sáng, cả đàn trâu vốn rất thuần thục và nhẫn nại làm việc. Bỗng thấy một con trâu đực (chưa thiến) lồng lên, phá ách vứt cày và hùng hổ chạy đi rất xa. Mọi người đuổi theo và mãi rất lâu mới bắt được về. Thì ra nó phát hiện ra con trâu cái ở làng khác cách đó chừng 2km đang động dục và phóng đến để kịp làm cái “thiên chức” gây giống. Xong chuyện ấy nó lại ngoan ngoãn quay về kéo cày. Cái bản năng “ngửi mùi” này hẳn là quá tinh vi, bọn “người” có lẽ chỉ biết ngửi mùi thịt nướng là xa nhất.

Về con lợn thì còn nhớ mấy chi tiết:

-       Lợn là loại ăn rất tạp và dễ nuôi, chúng có thể tự kiếm ăn trong thiên nhiên từ cây cỏ, các thứ củ, rễ, côn trùng… nên có cái mũi rất khỏe đào dũi dưới đất. Khi dúi sâu cái mũi tìm kiếm dưới đất, chúng luôn miệng nhai tóp tép đủ thứ chẳng rõ là kiếm được gì. Bọn lợn thường bị nuôi nhốt vì khi thả rông thì chúng phá hoại hoa màu của con người tăng gia trong ruộng vườn.

-       Lợn thì có khả năng tái đàn rất nhanh, lợn cái có thời gian mang thai là 3 tháng-3 tuần-3 ngày (tương đương khoảng 114 - 116 ngày). Một năm con nái có thể đẻ từ 2 đến 2,5 lứa. Một con lợn mẹ dẫn đàn con đã cai sữa đi kiếm ăn có khi những con đực trong đàn con đã biết “nhảy gây giống” cho chính mẹ nó (!)

-       Lợn đực giống (lợn nọc) có lượng phóng tinh mỗi lần giao phối rất lớn, thường 100-500ml (trung bình 200-300ml). Giống lợn Yorkshine nuôi ở Trại Quang Trung có khi mỗi lần phóng cả 1000ml. Thụ tinh nhân tạo là con người biết thu nhận những tinh tốt và dùng tiết kiệm để phối cho nhiều con cái (lưu ý hồi đó chúng tôi chưa biết về kĩ thuật tinh đông viên như bây giờ).

Về chăn nuôi gà, tôi biết là loại gia cầm, nhưng hồi đó hình như không được học về ngan, ngỗng, vịt. Một số chi tiết tôi còn nhớ như sau:

-       Gà mái có một buồng trứng bên trái[4], khi đến tuổi đẻ, mỗi ngày chúng đẻ 1 quả trứng cho đến khi muốn ấp. Hồi đó chưa biết chuyện nuôi gà công nghiệp như hiện nay, chỉ nghe nói người ta tìm cách cho gà đẻ một ngày 2 quả trứng bằng cách đưa gà vào không gian “đêm nhân tạo” để chúng nhầm tưởng đã qua thêm một ngày.

-       Gà thì có thể ấp trứng nhưng vịt lại không biết ấp (mà ngan, ngỗng thì lại biết). Do đó khi đem trứng vịt cho gà ấp, khi trứng nở vịt con thì có khi gà mẹ dẫn đàn vịt con đi kiếm ăn mấy ngày đầu.

Tôi có một kỉ niệm về chuyện học nuôi gà. Vào năm 1982, khi tôi đi bộ đội về phép có dịp thăm trường. Lần đó tôi có ghé khu KTX thăm một em nam sinh viên người cùng làng đang học tại lớp CN26. Bạn ấy kể rằng do ăn đói nên ngại học lắm. Tối hôm đó tôi ngủ lại với các sinh viên nam CN26 ở KTX A1. Khi nghe các em tranh luận tôi mới biết chính sinh viên ngành chăn nuôi mà cũng có người không biết chuyện gà chỉ có một buồng trứng. Đứa em người làng cũng nói hình như có giảng nhưng nay các em đều không nhớ - mà chả ai có vở ghi chép gì. Thì ra tôi đã học từ năm 1978 mà năm 1982 vẫn còn nhớ, nhưng chính sinh viên ngành chăn nuôi đang học lại còn có người không biết.

Bọn gia súc, gia cầm thì đều cho con người thực phẩm quý giá, nhưng nghĩ cảnh chăn nuôi và giết thịt thời chúng tôi còn nhỏ lại thấy vô cùng thương thảm bọn chúng. Chẳng hạn, hồi nhỏ ở quê, con trâu con bò đi làm quanh năm, chỉ ăn cỏ. Mùa thiếu cỏ gầy giơ xương, muỗi đốt suốt đêm trong chuồng, sáng dắt ra máu chảy đỏ cả 4 chân. Có con trâu HTX đi làm bị bệnh cước chân do rét không đứng lên được, nằm ngay ngoài ruộng chờ chết. Khi được phép HTX cho mổ thịt, tụi tôi thấy nó ốm mà còn bị giết thì thương vô cùng. Lại nhớ cái lũ lợn nuôi ở nhà, chiều tối đói kêu rít thảm thiết mà chỉ được ăn mấy thứ rong hay thân chuối thái mà không có thức ăn bột. Ở quê tôi có khi ngay cả cám mùa giáp hạt cũng ưu tiên cho người thì lấy đâu ra cám nuôi bọn lợn mùa đói kém giáp hạt. Nuôi cả năm mà lợn chỉ được vài chục cân hơi (nay nuôi một tháng đã vượt 30kg). Bọn gà thì có nhiều cơ hội kiếm thức ăn quanh vườn, côn trùng giun dế cũng không khó kiếm nên không kêu đói như bọn lợn, nhưng chúng lại bị cái bệnh gà toi[5]. Có khi sáng ra mở chuồng thấy chúng đã chết từ lúc nào, có khi đi lại trong sân lăn ra chết. Có con đang ấp mà chết ngay trên ổ trứng. Tuy vậy hồi đói ở quê, gà toi vẫn được sử dụng làm thực phẩm như thường, không có nhà ai đi chôn gà toi chết cả.

Liên tưởng ngày nay thế giới có chuyện bảo đảm phúc lợi động vật (animal welfare) cho gia súc. Theo quy định quốc tế, động vật có 5 quyền[6] gồm: 1/không bị đói khát; 2/ không bị đau đớn, bệnh tật; 3/ không bị khó chịu về thể chất và tinh thần; 4/ không bị sợ hãi lo lắng 5/ được tự do thể hiện các hành vi bản năng. Đây là thế giới văn minh châu Âu đã đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của động vật. Nay biết quyền phúc lợi động vật mới thấy thương cho các súc vật nuôi dưỡng khi xưa biết chừng nào. Ít nhất là 2 quyền đầu tiên (không bị đói, không bị đau) bị vi phạm ở bất cứ con vật nào, nhất là bọn trâu bò, lợn. Khi đó ngay cả chính con người cũng không có được sự bảo đảm 2 quyền này, nói chi đến các quyền còn lại. Ngày nay người ta còn lên án các quán “cà phê mèo” ở thành phố vị bọn mèo bị vi phạm quyền thứ 3 (bị làm phiền). Người vào uống cà phê được bế lũ mèo xinh xắn nhưng lại gây khó chịu, phá giấc ngủ của bọn chúng. Còn quyền thứ 5 thì mỗi đêm nghe mèo gào tìm bạn tình, bọn “người” đều cảm nhận sự khó chịu nhất định. Có dịp nào đó tôi sẽ trở lại chủ đề trải nghiệm “phúc lợi động vật” này.

Môn Chăn nuôi cơ bản thi vấn đáp ngày 12/2/1979, tôi đạt điểm 6/10.

Môn Thú y cơ bản

Môn học này chỉ có 30 tiết, dạy vào kì 2 năm thứ 4. Môn học này trao đổi về các bệnh thông thường của gia súc như mùa dịch, các triệu chứng, nguyên nhân, cách phòng trị…

Giáo viên là thầy Khẩn dạy. Thầy Khẩn[7] khi đó khoảng 40 tuổi, cao gầy, nói nhỏ nhẹ. Miệng thầy lộ cả 2 hàm răng không đều đặn nhưng thái độ hiền hòa của thầy lại có vẻ ăn nhập với khuôn miệng ấy - thấy sự chất phác, thật thà tin cậy. Cách giảng của thầy rất ôn hòa, tuy giọng nói hơi nhỏ nên khó nghe. Thầy dạy các loại bệnh chủ yếu của trâu bò, lợn và gà. Mỗi loại bệnh đều nêi những vấn đề cơ bản như điều kiện phát sinh bệnh, suy nguy hiểm, các triệu chứng, cách phòng và chữa trị.

Tôi còn nhớ thầy nói về các bệnh cước chân của trâu bò khi gặp trời rét cần giữ ấm cho chúng, nhất khi không cho đi làm những ngày quá rét. Trâu bò và cả lợn đều có bệnh lở mồm long móng (gọi tắt là LMLM) rất nguy hiểm.

Bệnh than (hay nhiệt thán) là bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm lây từ động vật (như trâu, bò) sang người, nhưng không lây trực tiếp từ người sang người. Bệnh lây qua da (vết thương hở), tiêu hóa (ăn thịt bệnh) có thể gây tử vong cao nếu không điều trị.

Có lần thầy cho cả lớp xem hình ảnh về người ăn tiết canh lợn bị liên cầu khuẩn, có thể gây nhiễm trùng huyết, viêm màng não, suy đa tạng và tử vong.

Về bệnh gà thì thầy lưu ý về bệnh gà toi, tuy nhiên phần này trùng với nội dung phần dạy của cô Nhàn môn Chăn nuôi cơ bản.

Nói chung, học môn này không có ý nghĩa lắm đối với chúng tôi, lại là môn kiểm tra vào kì cuối nên không ai để ý lắm. Nay còn 2 điều sau tôi vẫn nhớ khi học môn này:

-       Tổ chúng tôi có anh Trần Duy H. rất thích trêu anh Khuất Cao Nội. Anh Nội hiền lành ai trêu gì cũng mặc, không bao giờ có phản ứng lại hay thù ghét gì. Một hôm, sau khi học xong môn này chúng tôi thấy anh H. trêu anh Nội rằng ông có cái mặt trông y như người bị bệnh nhiệt thán. Đó chỉ là từ gán cho anh Nội chứ không hề có triệu chứng gì trên khuôn mặt anh, chẳng qua là nhớ đến một loại bệnh sau khi được học môn thầy Khẩn dạy.

-       Còn một chuyện nữa cho đến nay tôi còn nhớ: gần trưa một buổi dạy, tôi thấy thầy Khẩn đi chầm chậm từ bục giảng xuống giữa lớp, đến chỗ chị Lê Thị N. (KT20B) thì dừng lại. Chị Lê Thị N. chắc bị mệt nên vẫn đang lơ mơ ngủ gật và thầy nói gì đó rất nhỏ với chị. Chị bừng tỉnh và tỏ ra rất xấu hổ, nghiêm chỉnh trở lại học bài. Cũng xin nhắc lại rằng hồi chúng tôi đi học gần như không có ai ngủ gật trên lớp. Chúng tôi học nghiêm túc, tôn trọng giáo viên khi nghe giảng và quan trọng hơn là ai cũng có thái độ chấp hành nội quy học tập rất tốt. Dù có mệt mỏi hay không muốn tiếp thu thì vẫn giữ thái độ tôn trọng mọi người, trật tự nghe giảng bài.

 

 

 

 

 

 



[1] Cho đến nay tôi vẫn không biết lý do gì mà người ta lấy tên một anh hùng dân tộc, một danh tướng của thế giới cho một trại chăn nuôi nhỏ bé trong trường đại học.  

[2] Sau này tôi được biết khoảng những năm 1988-1989, cô Nhàn được cử đi nghiên cứu sinh ở CHDC Đức. Cô bị lâm bệnh khớp rất sớm, khi mới tốt nghiệp PTS về một thời gian ngắn và sau đó phải nghỉ vì bệnh tật và cũng mất sớm.

[3] Sau này tôi được biết “lục súc” (六畜) là thuật ngữ Hán Việt chỉ 6 loài vật nuôi truyền thống trong nhà, bao gồm: ngựa (mã), bò/trâu (ngưu), dê (dương), gà (kê), chó (khuyển) và lợn/heo (trư). Đây là các loài gia súc, gia cầm gắn liền với nền nông nghiệp cổ truyền và đời sống sinh hoạt, phản ánh sự giàu có và tự cấp tự túc của gia đình. Khi đó chúng tôi tranh luận là có mèo, vịt, cừu…

[4] Gà mái chỉ có một buồng trứng bên trái và một ống dẫn trứng hoạt động. Khi gà mái mới nở thì có hai buồng trứng, nhưng khi lớn lên, buồng trứng bên phải thoái hóa và không hoạt động.

[5] Bệnh “toi gà” hay tụ huyết trùn cấp tính do vi khuẩn gây ra khiến gà sốt cao, khó thở, phân trắng, mào tím và chết đột ngột

[6] Phúc lợi động vật (tiếng Anh: Animal welfare) là một  từ bảo đảm trạng thái tốt về thể chất và tinh thần cho con vật. Phúc lợi động vật cũng có nghĩa là mối quan tâm của con người đối với quyền động vật về đạo đức đối xử với động vật. Theo https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%BAc_l%E1%BB%A3i_%C4%91%E1%BB%99ng_v%E1%BA%ADt

[7] Thầy Khẩn đã mất gần đây, vào năm 2025.

Thứ Hai, tháng 4 13, 2026

Năm thứ 4 – Học môn Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp (post kì 2)

 Nội dung học ở kì 2

Vào kì 2, môn học có tới 3 giáo viên giảng bài.

·       Nghe thầy Liễm dạy

Phần chuyên môn ở kì 2 môn học này chủ yếu do thầy KS Nguyễn Liễm dạy. Các chương quan trọng nhất thầy Liễm dạy là Tổ chức lao động; Tổ chức quản lý sản xuất ngành Trồng trọt; Tổ chức quản lý sản xuất ngành tiểu thủ công nghiệp; Tổ chức phân phối sản phẩm nông nghiệp… 

Thầy Nguyễn Liễm quê xứ Huế, giọng Huế của thầy ban đầu nghe hơi khó chút, nhiều âm nuốt vào trong cổ. Miệng thầy có kiểu cười tách nhếch nửa môi dưới hơi lạ. Cười mà như không cười, lại như kiểu “cười diễu”, “cười gẩy” vào những vấn đề thầy đang nghĩ. Khuôn mặt thầy khá vui nhưng không dễ gần. Thầy có đôi mày rậm làm cho đôi mắt tưởng sâu hơn trong khuôn mặt luôn cười nhẹ của thầy khi giảng bài. Thầy giảng hay, liên hệ sâu nhưng khá nghiêm túc, ít tình huống gây cười cho người nghe như lối dạy của thầy Châu. Tôi rất thích kiểu dạy của thầy và cảm nhận học được rất nhiều kiến thức trong nội dung bài giảng mà không có trong quy định giáo trình.

Nhưng chuyện tôi nhớ nhất về bài giảng của thầy Liễm là ở chương Tổ chức quản lý lao động trong xí nghiệp nông nghiệp. Thầy nói về định mức lao động trong nông nghiệp: đại loại là người lao động trình độ nào thì bố trí vào công việc tương ứng với trình độ của họ. Như vậy các công việc có độ phức tạp khác nhau được phân tích thành các quá trình riêng biệt để đánh giá độ khó khi thực hiện chúng. Mỗi độ khó của công việc cần phải được bố trí những lao động có trình độ nhất định để giải quyết chúng tốt nhất. Muốn làm được việc đó cần phải có phương pháp định mức lao động. Định mức lao động kết hợp độ khó của công việc với tổ chức bố trí trình độ người lao động phù hợp vào đúng chỗ. Như vậy, người lao động cũng cần phải được đánh giá trình độ (thành thạo, có kĩ năng xử lý…) theo bậc công nhân. Quy định thời đó có các bậc công nhân từ 1 đến 7. Bậc 7 là trình độ cao nhất, thường là phải gần cuối đời lao động mới đạt được bậc 7/7. Phải thường xuyên tổ chức thi nâng bậc công nhân. Tiếp đến là trả lương cũng phải theo các bậc khác nhau. Bậc công việc (độ khó của công việc) là cơ sở để người tổ chức lao động bố trí được bậc công nhân phù hợp, từ đó xác định được tiền lương tương ứng.

Chuyện thường xảy ra trong thực tiễn là người có trình độ cao thì có thể làm được công việc có độ khó từ cao đến thấp (tất nhiên không có chuyện ngược lại). Tuy vậy trong thực tiễn sản xuất, các công việc lại đan xen khó – dễ với nhau. Vậy phải làm sao kết hợp được các bậc công nhân theo những loại công việc có tính khó dễ đan xen hợp lý. Ví dụ chuyện thu hoạch gặt lúa thì cần người đi gặt, người vận chuyển, người đập, phơi thóc, phơi rơm, cắt rạ. Rõ ràng trong những việc đó có độ khó rất khác nhau. Người có bậc nông nhân thấp có thể làm việc vận chuyển, hay phơi thóc, phơi rơm... Tuy vậy chuyện này cũng gặp vấn đề là có thể gây ra sự bố trí lãng phí nhân công hoặc có khi không đủ việc cho những công nhân bậc cao…

Một vấn đề khác: có những công việc diễn ra thường xuyên trong năm nhưng có độ khó không khác nhau mấy, chẳng hạn việc vắt sữa bò, việc hái chè… Khi hái chè, công nhân nào cũng hái được nhưng người có trình độ, có kinh nghiệm sẽ hái được nhiều chè trong 1 giờ hơn người mới vào nghề. Như vậy vấn đề bố trí lao động lại cần phải tính thêm định mức cơ bản cho người có trình độ lao động trung bình để người ít kinh nghiệm phải cố gắng mới đạt được, còn người nhiều kinh nghiệm thì thường vượt định mức và tất nhiên sẽ được đánh giá kết quả khác nhau.

Tính kết quả cũng khá phức tạp: thường thì phải dùng phương pháp bình quân gia quyền để xác định kết quả bố trí công nhân có các bậc khác nhau vào một công việc có tính tổng hợp. Lại thêm định mức thưởng khi vượt mức cơ bản để sao cho thời gian hoàn thành của mỗi người đều có những nỗ lực cố gắng nhất định và phải có thù lao tương ứng.

Nhân học về chương này, hồi đó tôi mua được cuốn sách “Tổ chức lao động khoa học” của một tác giả nào đó ở Liên Xô có bàn về chuyện này, nhưng chủ yếu là nói về ngành công nghiệp. Tác giả mô tả kiểu tổ chức lao động định mức và phê phán kiểu lao động dây chuyền Taylor[1]. Ông mô tả cách xây dựng định mức cho người lao động có tính đến các yếu tố tăng năng suất như môi trường sản xuất, tính tổ chức hợp lí để tiết kiệm di chuyển trong sắp xếp các công việc. Lại bàn chuyện khoa học thiết kế không gian, ánh sáng, âm thanh nơi làm việc. Tôi rất ấn tượng là tác phẩm này, chỉ suy nghĩ là làm kiểu đó phù hợp với công nghiệp chứ không hợp với sản xuất nông nghiệp. Môn học Kinh tế nông nghiệp đã dạy chúng tôi đặc điểm của nông nghiệp là con người lao động tiếp xúc với các sinh vật sống (đối tượng lao động là sinh vật sống) nên không giống nguyên vật liệu là đối tượng sản xuất như trong công nghiệp. Sự tương tác phải làm sao thích nghi với đối tượng sản xuất sinh vật chứ không thể đối xử như với máy móc, vật tư vô tri được.

·       Nghe thầy Hiến dạy  

Chúng tôi còn được nghe người dạy lâu năm khác của môn này là thầy KS Đinh Văn Hiến. Thầy dạy chương Tổ chức quy hoạch đất đai nông nghiệp.

Thầy Hiến quê Hà Tĩnh, tốt nghiệp KT6, cùng lớp với thầy Châu, thầy Liễm. Giọng thầy to, cao vút, âm điệu xứ Nghệ rắn rỏi. Cũng đôi mày rậm trên khuôn mặt xương xương gầy, nhưng thầy rất ít cười. Cái nhìn thẳng khá trung thực. Khi giảng thầy có vẻ như hơi căng thẳng, kiểu ưu tiên dành nhiều năng lượng cho giảng bài (chứ không có vẻ nhàn nhã như thầy Liễm).

Thầy chỉ dạy một chương mà tôi vẫn còn nhớ mãi sau này. Thầy nói về tổ chức quy hoạch đồng ruộng, nào là có kích thước lô thửa, có đường đi hợp lý giữa các lô thửa, trên các đường đi có trồng cây để hạn chế gió bão. Trên các lô thửa khi trồng (làm luống, đặt cây) phải theo hướng ánh sáng để cây nhận được ánh sáng chiếu đến nhiều nhất nhưng lại phải làm sao để cản được gió bão tốt nhất. Rồi chuyện đường đồng mức, chuyện chống xói mòn, bảo vệ dinh dưỡng đất… Nghe đến đây, tôi lại nghĩ đến cánh đồng quê tôi: nhấp nhô cồn bãi với ruộng xen vũng, bờ bụi thì quanh co uốn lượn theo lối mòn có từ ngàn xưa. Bây giờ làm sao thiết kế được như thầy nói hôm nay. Nhưng nghĩ về chuyện đi thực tập ở Mộc Châu thì các đồi chè hình như người ta cũng đã áp dụng tốt nguyên tắc này.

Tôi có một kỉ niệm về nội dung dạy của thầy Hiến: Khi tôi là Trưởng Khoa Kế toán và Quản trị Kinh doanh, khoảng năm 2009, Khoa có việc tuyển dụng giáo viên mới. Tôi nghe một ứng viên giảng thử một bài liên quan đến môn học Kinh doanh nông nghiệp. Tôi bỗng thấy bài giảng thầy Đinh Văn Hiến được nêu lại gần như toàn bộ ở đây. Lạ quá, tôi được học các nội dung nay từ 1979 mà nay là 2009, tức là hơn 30 năm sau lại thấy gần y nguyên nội dung (tất nhiên lúc này thầy Hiến đã về hưu). Đối với người giảng thử thì hội đồng không đánh giá khắt khe về chất lượng chuyên môn mà quan trọng nhất là xem các ứng xử khi giảng bài của một người giáo viên tương lai. Anh ta trả lời các câu hỏi rất linh hoạt và đã đạt tiêu chuẩn tuyển dụng giảng viên của Khoa năm 2009. Sau này anh ta học thạc sĩ và tiến sĩ ở Nhật Bản. Khi tôi về hưu được vài năm thì anh ta chuyển sang Đại học Quốc gia (năm 2024).

Nhân chuyện thấy bài giảng năm xưa sống lại, tôi có dịp hỏi anh ta đã tham khảo bài giảng này từ đâu. Anh ta nói rằng một giảng viên (tạm gọi tên X) cho mượn bài giảng và hướng dẫn để phát triển thành nội dung giảng thử. Ông thầy X này trước học KT18, khi đó đang là giảng viên của Khoa tôi. Có rất nhiều điều hạn chế ở nội dung chuyên môn trong bài giảng: chuyện từ hồi mô hình kinh tế bao cấp (NTQD và HTX) 30 năm trước mà nay vẫn giữ y nguyên trong môi trường kinh tế nông nghiệp hiện đại. Thấy vô lý quá nên nhân chuyện Khoa rà soát cập nhật nâng cao kiến thức chuyên môn, chúng tôi đã bàn chuyện viết lại bài giảng, giáo trình cho từng môn học để đổi mới kiến thức. Thì ra nội dung một bài giảng sau 30 năm vẫn còn. May mà người nghe (là chúng tôi khi đó) đã kịp thời cập nhật thực tiễn và từ bỏ các kiến thức lạc hậu ra khỏi chương trình giảng dạy. Nếu người nghe như những sinh viên 19-20 tuổi thì họ sẽ nghĩ sao khi tiếp thu các kiến thức này!

·       Nghe thầy Quý dạy

Chương cuối chúng tôi được nghe thầy KS Nguyễn Văn Quý dạy. Thầy Quý đi bộ đội về, là thương binh, học KT15. Khi đó thầy là giáo viên vừa xong tập sự chuyên môn. Thầy dạy chương Tổ chức cơ khí hóa trong xí nghiệp.

Thầy cũng chỉ dạy 1 chương, tôi không có nhiều ấn tượng lắm về nội dung. Đại loại nói về máy kéo lớn, các công việc của máy kéo lớn trong HTX, NTQD là tư liệu sản xuất “đa dụng”, có thể làm với nhiều máy nông nghiệp khác nhau. Cách tính định mức tổ chức máy móc theo khối lượng công việc. Chẳng hạn quy mô như bao nhiêu ha thì cần trang bị bao nhiêu máy, lượng tiêu thụ trong dân bao nhiêu thì cần trang bị một máy xay xát gạo…

Sau này thầy Nguyễn Văn Quý là người hướng dẫn tôi và anh Dương Ngọc Đĩnh đi thực tập tốt nghiệp ở Hải Hậu. Tôi đã nhờ thầy mượn thêm một số sách để khi làm đề tài tốt nghiệp biết cách tính toán nhu cầu máy, nhất là máy móc cơ khí nhỏ trong các HTX. Nhờ đó khi bảo vệ đề tài tốt nghiệp tôi được một số thầy trong hội đồng đánh giá là có tham khảo thêm nhiều tài liệu liên quan.

 

Hỏi thi môn này luôn có tới 5 bàn hỏi vấn đáp vì Bộ môn dạy có nhiều giáo viên. Nhóm các thầy lâu năm gồm Trần Đình Đằng, Hồ Ngọc Châu, Nguyễn Liễm, Đinh Văn Hiến, Nguyễn Nguyên Cự. Các giáo viên trẻ hồi chúng tôi học gồm Nguyễn Văn Quý (KT15), Đỗ Thành Sương (KT15), Phạm Văn Thiều (KT15) Bùi Thị Gia (tốt nghiệp từ CHDC Đức về, tương đương KT16), lại còn Đỗ Văn Viện (KT18) lúc đó cũng được dự bị hỏi thi.

Các thầy hỏi chúng tôi nhiều, toàn chuyện trong thực tiễn nên chúng tôi khó trả lời. Vốn quen học và nhớ hết các nội dung bài giảng nhưng kiến thức thực tiễn ít ỏi nên điểm cả lớp không cao. Không có ai trong lớp được điểm 9/10.

Thi lần 2 vào ngày 24/7/1979, tôi được kết quả 7/10, khá hơn kì 1 (kì 1 chỉ đạt 5/10). Tôi nghĩ không phải chúng tôi học tốt hơn mà chính các thầy đã suy nghĩ lại cách cho điểm thang 10/10. Từ kì này, các thầy “nới tay” cho nhiều điểm 7, điểm 8 hơn. Rõ ràng kết quả người học phụ thuộc rất nhiều vào sự ra tay “nặng- nhẹ” của các thầy!



[1] Lao động dây chuyền theo phương pháp Frederick Taylor là mô hình quản lý khoa học tối đa hóa năng suất bằng cách chia nhỏ quy trình sản xuất thành các thao tác đơn giản, lặp đi lặp lại. 

Thứ Bảy, tháng 4 11, 2026

Năm thứ 4 – Học môn Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp (post kì 1)

 

Đây là môn học trọng tâm trong chương trình đào tạo kĩ sư kinh tế nông nghiệp - môn học kéo dài cả 2 kỳ trong năm thứ 4, có tới 240 tiết học. Đó là chưa kể có tới 8 tuần đi thực tập khu vực NTQD kiểm chứng lại thực tiễn các nội dung đã học. Thời đó cái gì đã có trong thực tiễn thì cũng có trong giảng dạy. Học xong ra trường là làm được việc ngay. Kiến thức học không xa xôi viễn vông, chỉ cơ bản là các nội dung hướng dẫn người kĩ sư trong thực hành công việc của mình. Hơn nữa, qua rà soát các chương trình thực tập giáo trình, giáo viên có thể điều chỉnh nội dung giảng dạy hoặc cập nhật các thay đổi kiến thức mới.

Tuy nhiên kiểu dạy này có nhiều cái không hay: tính lí luận yếu, phần lớn học theo các chế độ, chính sách, quy định cứng nhắc. Mỗi khi có chính sách mới là hàng loạt nội dung học bị lạc hậu, lỗi thời. Các chính sách thì luôn thay đổi nên kĩ sư ra trường vài năm là mất hết các thứ đã học trong trường, phải tự cập nhật tình hình để làm việc. Bản thân giáo viên đôi khi cũng không kịp cập nhật chế độ, chính sách nên bị lạc hậu so với thực tiễn ngay từ khi dạy cho sinh viên trong nhà trường.

Vài nét về Bộ môn Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp và các giáo viên khi chúng tôi học

Cho tới năm 1961, Trường Đại học Nông nghiệp I (khi đó gọi là Học viện Nông Lâm) mới thành lập Khoa Kinh tế nông nghiệp, tức là chậm hơn các khoa khác 5 năm. Trước đó, từ năm 1957, Trường cũng đã có Tổ Bộ môn Kinh tế trực thuộc Học viện Nông Lâm. Đầu tiên Tổ Bộ môn Kinh tế nông nghiệp do thầy Nguyễn Đăng phụ trách[1] (1957-1958), sau đó đến thầy Nguyễn Văn Đỉnh[2] (1958-1962). Tổ Bộ môn Kinh tế dạy cho các khoa nông nghiệp trong trường, nội dung dạy nghe nói liên quan đến môn học Kinh tế nông nghiệp và Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp sau này.

Khi thành lập Khoa Kinh tế nông nghiệp, một số giáo viên trong khoa khi đó vốn không phải tốt nghiệp đại học ngành kinh tế nông nghiệp[3]. Tôi nghe một số thầy nói hồi đó thầy Trịnh Việt Lang có kiến thức rất thâm sâu về Kinh tế nông nghiệp. Lớp KT6 (1962-1967) là những sinh viên khóa đầu tiên của Khoa Kinh tế nông nghiệp ra trường. Có nhiều sinh viên giỏi được giữ lại làm giáo viên như các thầy Tô Dũng Tiến[4], Nguyễn Liễm[5], Hồ Ngọc Châu, Đinh Văn Hiến.

Từ khi thành lập Khoa Kinh tế nông nghiệp, môn học quan trọng nhất là Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp. Các giáo viên thường gọi đùa là môn “xương sống”, các môn khác là xương sườn, xương tứ chi… Khi chúng tôi học môn này (1978-1979), các giáo viên trong môn học gồm các thầy Trần Đình Đằng (TT1), Nguyễn Liễm, Hồ Ngọc Châu, Đinh Văn Hiến (KT6), Nguyễn Nguyên Cự (KT7). Sau này bổ sung thêm các giáo viên khác như Nguyễn Văn Quý (KT15), Đỗ Thành Sương (KT15), Phạm Văn Thiều (KT16)…

Từ năm 1977, Bộ Nông nghiệp thành lập Viện Kinh tế nông nghiệp nên một số giáo viên của Bộ môn Tổ chức quản lý xí nghiệp như PTS Chu Hữu Quý, PTS Nguyễn Lâm Toán, KS Nguyễn Trung Quế đã chuyển sang công tác tại Viện Kinh tế nông nghiệp. Thời chúng tôi học, một số thầy được mời về thỉnh giảng hoặc nói chuyện với sinh viên. Chúng tôi được nghe PTS Nguyễn Lâm Toán nói về nông nghiệp Liên Xô, PTS Chu Hữu Quý cũng nói về quản lý nông nghiệp ở Việt Nam liên hệ với các nước XHCN như Liên Xô.

Nội dung cơ bản của môn học

Môn học Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp có nội dung rất rộng, tôi còn nhớ lơ mơ như sau: Đối tượng, mục tiêu, phương pháp nghiên cứu môn học; Mô hình Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp; Tổ chức quản lý tư liệu sản xuất; Tổ chức quản lý lao động; Tổ chức quản lý sản xuất ngành trồng trọt; Tổ chức quản lý sản xuất ngành chăn nuôi; Tổ chức quản lý sản xuất ngành nghề TTCN; Tổ chức quy hoạch đất đai; Tổ chức quản lý cơ khí hóa sản xuất; Tổ chức phân phối sản phẩm; Tổ chức tài chính… Giờ nhớ lại theo giáo viên dạy thì sẽ cụ thể hơn về nội dung các chương này.

Nhìn chung các nội dung này có nhiều trùng lặp nhất định với môn học Kinh tế nông nghiệp (nhất là về mô hình tổ chức nông nghiệp là NTQD và HTX, về đất đai và TLSX, về lao động, về phân phối sản phẩm…). Trình độ chúng tôi khi đó thấy rất khó phân biệt đâu là kiến thức về kinh tế đâu là kiến thức về tổ chức quản lý. Ví dụ cũng là đất đai nhưng không làm rõ được nội dung nào thuộc môn Kinh tế nông nghiệp, nội dung nào thuộc môn Tổ chức quản lý sản xuất. Cả hai đều nhấn mạnh đặc điểm của đất đai vừa là tư liệu sản xuất (TLSX) vừa là đối tượng sản xuất (ĐTSX). Nhiều nội dung lí luận của 2 môn học này cũng có nhiều trùng lặp nhất định.

Nội dung học kì 1

Thầy KS Hồ Ngọc Châu dạy chúng tôi ở kì 1 năm thứ 4. Thầy tốt nghiệp KT6, khi đó đã ra trường được 12 năm. Thầy Châu quê ở Quỳnh Lưu, Nghệ An, người thấp nhỏ, nói giỏi, rất thuộc giáo trình. Giọng xứ Nghệ xoắn lại theo uốn lượn của môi dưới tạo cảm giác xây dựng âm điệu bài giảng điêu luyện. Thầy không chú ý nhiều đến người học, gần như không có đối thoại khi giảng. Kiểu “độc thoại” của thầy vừa giống kiểu cha đạo giảng kinh, vừa như người truyền thụ tuyên huấn. Lúc đầu nghe rất khoái “lỗ nhĩ” và cũng có những lúc cả lớp nổ thành những tràng cười theo nhiệt huyết giảng của thầy.

Sau khi giảng xong 3 chương đầu (Đối tượng, Mục tiêu, Phương pháp nghiên cứu môn học; Mô hình tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp; Tổ chức quản lý TLSX) thì thầy Châu dạy tiếp ngay vào chương Tổ chức quản lý sản xuất ngành chăn nuôi. Lí do là kịp bổ sung những kiến thức để tháng 11-1978 chúng tôi đi thực tập giáo trình tại NTQD Mộc Châu, nơi có ngành chăn nuôi bò sữa.

Phần nội dung tổ chức chăn nuôi bò sữa được thầy Châu chuẩn bị khá đầy đủ: gồm tổ chức chuồng trại, tổ chức đồng cỏ, công tác chu chuyển đàn, công tác vắt sữa, công tác thú y… Tôi nhớ nhất là thầy giảng chăn nuôi bò sữa có phương pháp chăn thả luân phiên tự động. Theo phương pháp đó, người ta làm các hàng rào giữa các lô cỏ để khi cho bò ăn lô nào thì mở cửa lô đó. Khi lô mở thì bò được tự động vào ăn, được tự do đi lại từ chuồng trại ra đồng cỏ và về nơi vắt sữa. Vào mùa thời tiết thuận lợi, bò được ngủ tại đồng cỏ không phải về chuồng… Một số ngày sau người ta lại mở lô khác để bò được vào nơi có nhiều cỏ mới tươi ngon. Nghe nói kiểu chăn thả này được tổ chức ở Liên Xô thời ấy.

Khi đi thực tập ở Mộc Châu năm 1978-1979 tôi cũng chỉ biết sơ sơ về phương pháp này khi được “học chéo” ở đội Vườn Đào (nơi anh Nguyễn Đăng Hợp làm nhóm trưởng nhóm sinh viên thực tập). Sau này khi tôi là giáo viên của Khoa, vào năm 1987-1988 tôi được trực tiếp hướng dẫn khóa KT30 đi thực tập ở Mộc Châu, tôi mới biết nhiều hơn về thực tiễn của phương pháp chăn thả luân phiên tự động được học từ hồi thầy Châu dạy.

Nhân chuyện này tôi xin nói thêm về một số trải nghiệm chuyện chăn nuôi bò sữa.

Năm 2011, tôi đến Australia lần thứ 3 trong một dịp học tập và nghiên cứu ở trường Đại học  Queensland, Bang Queensland[6]. Người ta cho tôi tới thăm 1 trang trại bò sữa và tôi có cơ hội thực sự thấy bò sữa được chăn thả tự động. Đàn bò sữa ở đó “sướng hết cỡ”: được tự động nước uống sạch, tự động ăn tùy thích những thức ăn tinh hay thô chất lượng cao. Đồng cỏ tươi non trồng hữu cơ luôn có sẵn cho cả đàn trong tầm đi lại tự do. Cuộc sống đàn bò được thiết kế cho mọi bản năng để tận hưởng những thứ trong lành nhất của thiên nhiên nhằm bảo đảm cho sữa tốt nhất, cao nhất. Khi đó, tôi liên tưởng đến đàn bò sữa ở NTQD Mộc Châu hồi chúng tôi học với thực tiễn một trang trại ở Australia để thấy ngành chăn nuôi bò sữa đã được đầu tư phát triển thế nào.

Lại nhân chuyện này để có liên hệ khác về ngành chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam. Vào mùa hè năm 2019, tôi có dịp vào thăm trại chăn nuôi bò sữa của TH True Milk ở Nghĩa Đàn, Nghệ An. Tôi thật bất ngờ thấy sự đầu tư và phát triển công nghệ bò sữa. Đồng cỏ và thức ăn trên đồng chỉ như là nơi đi dạo chơi của đàn bò. Người ta đeo vào chân mỗi con bò sữa một cái cảm biến theo dõi sức khỏe: đo số bước chân trong ngày, số km vận động mỗi giờ, số lần bò nằm nghỉ trên đồng cỏ, thời gian nghỉ… Khi nào bò thấy cần về vắt sữa thì lặng lẽ về trại vắt, nơi có máy lạnh, có quạt thông gió, có đầy đủ thức ăn bổ sung, nước uống sạch (ấm vào mùa đông). Bò vào khu chờ vắt sữa thì được nghe âm thanh những bản nhạc du dương (nay tôi chưa có điều kiện tìm hiểu xem loại nhạc nào bò thích nghe?). Chúng tôi phải trang phục riêng, đứng ở khu cách li từ trên cao nhìn xuống ngắm bò lần lượt vào khu vắt sữa tự động. Máy vắt chỉ hoạt động khi cảm biến đánh giá đó là bò có sức khỏe tốt. (Nếu bò đi lại ít, nằm nhiều… thì máy vắt sữa sẽ tự động nhả vú ra, từ chối hoạt động). Nhìn ra cánh đồng hoa hướng dương bạt ngàn gần khu trại bò mới biết người ta đầu tư lớn quá. Vùng tây Nghệ An gió Lào nắng nóng mà nuôi được những trang trại bò hiện đại quá, công nghệ Israel từ giống, các cảm biến tự động đến nhà vắt sữa và khu chế biến hiện đại khép kín trong một không gian chỉ mấy km2. Tôi lại thấy những gì mình biết hồi đi tìm hiểu ở Australia lại quá lạc hậu so với bây giờ ở ngay nước mình. Ôi, từ kiến thức học và thực tập thời 1978 cho đến thực tiễn thấy ở Việt Nam năm 2019 như những giấc mơ không tưởng!

Con bò thấy trong thực tế còn sướng hơn cả người công nhân chăn bò. Thế mà lũ bò sữa còn bị căn bệnh bò điên nữa chứ. Bệnh bò điên là do bò sữa bị chăm sóc và vắt sữa quá đáng gây là tổn thương “tinh thần”[7] và trở nên điên. Nghĩ lại thấy thương cho người chăn nuôi bò sữa: chắc họ chưa từng biết chuyện phải ăn thế nào để đủ tiêu chuẩn, phải sống thế nào để đủ sức khỏe thì mới được cho con bú (và chắc cũng chưa từng biết phải nghe loại nhạc gì khi con bú). Mà người ta chăm sóc đàn bò sữa (chứ không quan tâm đến đàn con của nó) để mỗi năm vắt gần 300 ngày, cứ đẻ rồi vắt sữa hết lứa này đến lứa khác nên trở thành … điên!

Trở về từ thực tập và thi cuối kì

Sau khi đi thực tập về thì chúng tôi còn học mấy tuần nữa là thi. Tôi còn nhớ khi đó phải chuyển sang học khu Giảng đường CLB sinh viên. Hai lớp KT20AB ngồi trong một phòng nhỏ hơn GĐ8 chúng tôi vẫn học. Thầy Châu dạy một chương gì đó có nói đến chuyện thực tiễn không giống những gì trong sách vở. Thầy nói về chuyện có thửa ruộng hình chữ thập ngoặc, hình khẩu súng lục. Nét vẽ của thầy theo kiểu hình đó trên bảng đen và mô tả cách tổ chức sản xuất trên những thửa ruộng đó phải thế nào để bảo đảm đạt yêu cầu của nguyên tắc tổ chức phải thuận theo hướng gió, hướng nắng (?). Chúng tôi cười theo những nét vẽ rất nhanh thành những hình ngộ nghĩnh trên bảng khi thầy say sưa giảng bài.

Thi môn học này cũng có chuyện để nhớ. Từ năm học thứ 4 của chúng tôi, quy định cách cho điểm thi từ hệ thang điểm 5/5 được đổi sang cho điểm thang 10/10. Môn Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp vốn nổi tiếng khó, khó từ học cho đến thi cử. Ngày thi vấn đáp môn này là 18-2-1979, tôi đạt điểm 5/10. Kì đó cả lớp rất ít người đạt điểm 8, điểm 7 cũng hiếm lắm. Có lẽ các thầy nghĩ thang điểm 10/10 phải làm cho sinh viên rất khó đạt điểm giỏi! À cũng cần có thêm yếu tố nữa là cơ bản sinh viên lúc này cũng chỉ cần điểm đạt để không phải thi lại mà thôi.



[1] Thầy Nguyễn Đăng (?-2008) khi đó là Hiệu trưởng kiêm Trưởng Bộ môn Kinh tế. Sau này thầy từng giữ Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp, đại biểu Quốc hội khoá I, khoá II, khoá III, khoá VI và khoá VII.

[2] Sau này Khoa Kinh tế nông nghiệp cũng có thầy tên Đỉnh là Trưởng Khoa (KS Phan Trọng Đỉnh trưởng khoa từ 1978-1982).

[3] Chẳng hạn thầy Trần Đình Đằng ban đầu học ngành Trồng trọt khóa 1. Sau này GS TS Trần Đình Đằng là Trưởng Khoa Kinh tế nông nghiệp từ 1984-1992.

[4] GS TS Tô Dũng Tiến sau này là Trưởng Khoa Kinh tế nông nghiệp từ 1992-2001

[5] Sau này thầy Nguyễn Liễm chuyển vào Thành phố Hồ Chí Minh dạy ở Trường Cán bộ quản lý Bộ Nông nghiệp. Thầy đã mất (khoảng năm 2014?).

[6] Đại học Queensland (thành lập 1909 thường được gọi tắt là UQ) là một đại học nghiên cứu khoa học đa ngành hàng đầu tại Úc, có trụ sở chính tại thành phố Brisbane, thủ phủ của tiểu bang Queensland.

[7] Không biết lũ bò có “tinh thần” không mà tổn thương tâm lý?

Thứ Sáu, tháng 4 03, 2026

Năm thứ 4 và năm thứ 5 – “nốt lặng” một thời đại học

 

Tôi sẽ dành nhiều thời gian để ghi chép những sự kiện về cuộc sống sinh viên ở năm thứ 4 và 6 tháng của năm thứ 5 đại học mà chúng tôi trải nghiệm, nhất là những lắng đọng sâu sắc mà chúng tôi được vui sống bên nhau. Đây là những năm tháng tôi thật sự được sống với sự háo hức học hỏi, cảm nhận và cho đến nay vẫn thấy hồi đó mình đã có rất nhiều giá trị thu hoạch được.

Cũng nói luôn về những điểm rất yếu của chúng tôi thời đó – rất ít chuyện ái tình, rất ít chuyện thể hiện hơi thở thời cuộc của “trí thức” - chỉ thực tế là nhiều chuyện thời đói cơm thiếu áo, ít lí tưởng hoài bão cao xa. May mắn là vẫn còn giữ được chân chất hồn quê trong mỗi con người.

Nhìn lại những thay đổi ước mơ so với 3 năm đầu đại học

Nếu 3 năm đầu đại học, tôi dành rất nhiều thời gian rảnh rỗi để kiếm tìm di sản về Hà Nội thì sang năm thứ 4 bắt đầu có những cái nhìn về cuộc sống thực tế hơn.

Từ một thanh niên nông thôn lần đầu ra Hà Nội – mọi cái đều lần đầu: chuyến đi tàu hỏa đầu tiên, chuyến xe buýt, xe điện đầu tiên… Rồi có lần đầu biết mùi thơm của cái bánh mỳ pate có phết bơ ở Ngã tư Vọng, biết vị ngọt cái bánh chuối nóng sâu trong tận cổ họng ở góc hè chợ Mơ… Dần dần tôi tìm về các danh thắng, các di tích các bảo tàng. Chỉ bằng đi bộ và tàu điện, mỗi lần về nội thành là tôi có một kế hoạch được chuẩn bị kĩ: điểm đến là gì, đến để xem gì, cảm nhận cần ghi chép hoặc dấu ấn để nhớ là gì… Chỉ tiếc là không tìm được ai đi cùng vì không biết cách rủ được người có cùng mơ ước như mình và thực tế là không “bao nổi” ai đó dù chỉ tiền tàu điện hay bữa điểm tâm trưa[1]. Dù sao tôi cũng có điểm mạnh là các năm 1975-1976, gia đình anh trai đang sống ở một phần gian nhà tập thể (khoảng 8m2) ở phố Minh Khai nên cũng coi như có chỗ dựa ăn uống mỗi khi về thăm nội thành.

Nhớ lại 2 năm đầu, chuyến đầu tiên là phải đến Bờ Hồ để thấy được tận mắt Tháp Rùa, Đền Ngọc Sơn, Nhà Bưu điện, Nhà Thủy tạ, Tượng đài Lê Lợi[2], Nhà in báo Nhân dân rồi đi bộ lên Hàng Ngang, Hàng Đào vào chợ Đồng Xuân trước khi ra Bến Nứa đi xe ca về Trâu Quỳ. Tiếp đó là dành một chuyến đi để vào thăm Bảo tàng Lịch sử, Bảo tàng Cách mạng, dạo ngắm Nhà hát lớn, phố Tràng Tiền, Bách hóa Tổng hợp. Rồi có những chuyến đến các điểm xa hơn: khu Ba Đình, Vườn Bách thảo, Bảo tàng Quân đội, Bảo tàng Mĩ thuật Hà Nội (phố Nguyễn Thái Học), Văn Miếu Quốc Tử Giám[3]. Đến với khu Hồ Tây: chùa Quán Thánh, đường Thanh Niên, chùa Trấn Quốc, quán gió bánh tôm Hồ Tây. Cũng có một lần được vào Công viên Thống nhất và biết Rạp Xiếc Hà Nội. Còn chùa Quán Sứ thâm nghiêm thì vốn được nhìn thấy mấy lần khi phải xếp hàng mua vé và đợi tàu hỏa từ đây ra đến tận ga Hàng Cỏ mỗi khi về quê nghỉ Tết.

Cũng lần mò tìm được bạn bè để biết Đại học Tổng hợp, Đại học Kinh tế Kế hoạch, Đại học Thương nghiệp, Đại học Thủy Lợi… Đại loại đó là những điểm đến của một thời mơ ước khi ở quê từng được nghe nói đến.

Đến năm thứ 3 có lần được đến thăm em trai đang học ở Trường học số 1 Bộ Xây dựng, Thanh Xuân, Hà Nội[4] (gần Hà Đông), rồi cùng em đi bộ dạo một vòng nhỏ ở Thị xã Hà Đông. Chuyến đi lao động công ích cải tạo sông Tô Lịch cuối năm thứ 3 được biết thêm chút ít về Đình làng Cót, khu Cầu Giấy và Bách thú Thủ Lệ và có dịp ghé thăm Gò Đống Đa.

Đó là vốn hiểu biết của tôi về Hà Nội những năm đầu đại học. Chỉ có một số điểm đến ít ỏi đó mà phải dành dụm tới 3 năm để có dịp ghé thăm. Trong đầu khi đó chỉ là có “lơ mơ” chút về hồn dân tộc, hồn sông núi và những nơi linh thiêng của Thăng Long Hà Nội.

Đến năm thứ 4 thì hầu như không có dịp thăm thú nào nữa, coi như cơ bản đã biết về Hà Nội. Vả lại thời kinh tế khó khăn nên không dành được chút tiền đi lại. Những ngày cuối tuần chỉ loanh quanh ở trường, đi dạo hay đọc sách đợi giờ ăn.

À quên, hai năm cuối đại học của tôi có được lần đi cùng anh Khang đến quán làm bánh quy gia công ở phố Đinh Tiên Hoàng. Anh Khang kiếm được ít bột, trứng gà và đường cát, thế là anh rue tôi đi thuê làm bánh quy trước khi về Tết. Lần đó anh còn rủ tôi đi ăn cơm Phú Gia[5]. Có lẽ có dịp cũng nên ghi chép lại vài cảm nghĩ về chuyện này để thấy rõ hơn tình cảnh cuộc sống bấy giờ. Năm thứ 5 thì được đi xem phim cùng anh Nguyễn Ngọc Đĩnh ở rạp Bạch Mai gần chợ Mơ (hồi đó anh Đĩnh cùng tôi thực tập ở Trạm Máy kéo Hải Hậu, hôm về báo cáo thầy Nguyễn Văn Quý hướng dẫn, tôi và anh đã nghỉ đêm ở nhà anh trai tôi vì chiều tối không còn xe về Trâu Quỳ).

Bối cảnh đất nước và cuộc sống sinh viên

Năm học thứ 4 bắt đầu từ đầu tháng 8-1978 đến hết 7-1979, sau đó là năm thứ 5 (từ 8-1979 đến 5-1980). Bối cảnh đất nước lúc bấy giờ là chiến tranh biên giới Tây Nam, nạn Hoa kiều về nước và sau đó là chiến tranh biên giới phía Bắc (17-2-1979). Đất nước thiếu năng lượng, lương thực trầm trọng. Mô hình NTQD, HTX kém hiệu quả, dân đói lầm than.

Các khó khăn của đất nước ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống sinh viên: thiếu điện, mất nước triền miên. Cơm tập thể ban đầu giảm gạo, tăng mỳ, sau đó có khi không có cơm, chỉ còn bánh mỳ và hạt lúa mạch hấp. Thực phẩm khan hiếm, nhiều khi tiêu chuẩn có phiếu mà không mua được hàng nên bếp tập thể chủ yếu có canh “đại dương” và sang nhất là món cá biển kho, mùi cá biển kho mặn phủ kín cả khu KTX sinh viên mà đến nay tôi vẫn chưa từng quên.

Tình trạng chúng tôi hồi đó đã hiểu nhau hơn qua những lần cùng lao động học nghề, rèn nghề (kết thúc bằng việc liên hoan thành quả khoán quản năm 3). Rồi lần đi TTGT lần 1 (khối HTX), đi lao động công ích cải tạo sông Tô Lịch. Khi đó cơ bản mọi người biết được “sở trường sở đoản” của nhau, không chỉ trong tổ mà cả trong lớp. Tôi nhận ra lúc này anh em sinh nam trong lớp đã hình thành 2 nhóm khá rõ. Nhóm đa số gồm các anh chị lớn tuổi (bộ đội về, cán bộ đi học…) cơ bản an bài, không còn chí hướng phấn đấu mà chủ yếu chỉ là học cho xong. Một số anh em trẻ những năm đầu học khá, gia đình có điều kiện nhưng từ năm thứ 4 cũng không ham phấn đấu, dường như không còn động lực gì từ những gì đã trải sau 3 năm đại học. Nhóm đa số này chiếm tới khoảng 80-85%. Số còn lại là nhóm chỉ mấy anh em trẻ, có năng lực học, dường như chăm chỉ để có hi vọng đôi chút về tương lai sau khi ra trường.

Cả hai nhóm vẫn chung sống rất thân tình. Nhóm đa số vẫn có thái độ ngưỡng mộ nhóm trẻ nhưng chấp nhận sự hài lòng của mình. Thái độ là ngưỡng mộ mà không ganh ghét, không muốn nỗ lực theo đuổi, kiểu “mặc kệ” bọn bay, chúng tớ chỉ cần ra trường vào biên chế kiếm việc làm là được rồi!

Các tổ nam lớp KT20A và B vẫn ở KTX B3. Lúc này các nhóm ăn sáng cũng khó khăn, lúc có lúc không. Bắt đầu xuất hiện các quán nước “phố thối” thôn An Đào. Rất nhiều anh em trèo tường, vượt mương nước qua ngồi quán ăn kẹo dồi uống trà cả buổi. Có anh Đình lớp KT20B sau này còn quen lấy được cô vợ người trong thôn này.

Trong các tổ cũng không còn nhiều chuyện như những năm đầu. Thậm chí anh Khang hát mấy bài “tủ” nhất thì mọi người cũng đã thuộc. Bài anh Khang hát “Xa khơi” của Nguyễn Tài Tuệ say sưa thế mà câu “con chuồn còn bay nơi nơi, con giang chiều gọi bạn đường khơi” được bạn Trần Hữu Giang chỉnh lại thành “con Giang chiều nghé ọ mẹ ơi”. Anh Quân đọc thơ bài “Núi Đôi” của Vũ Cao có đoạn “Bảy năm về trước em 17/Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng/Xuân Dục - Đoài Đông hai cánh lúa/Bữa thì anh tới bữa em sang”. Trần Hữu Giang đổi câu cuối thành “Bữa thì anh tới bữa em lui.

Chuyện trêu đùa của anh Học và mọi người với anh Nội cũng không còn vui nhộn nữa. Các chuyện tiếu lâm thời bộ đội của anh Minh, anh Khang, anh Kình, anh Nội, anh Lục, anh Quân dường như cũng đã nghe hết. Chuyện kinh nghiệm sống của anh Ngọc, anh Xuân Trí, anh Chình, anh Lan hồi xưa hay thế mà nay cũng không còn hấp dẫn chúng tôi. Không khí học tập cũng chán nản nhiều, tâm lí học chỉ sao cho đạt điểm không phải thi lại. Đi học trên lớp vẫn rất nghiêm túc nhưng đã không còn các buổi điểm danh tối chủ nhật. Các “thủ tục” của phong trào “quê hương nội trú” mà thầy Trưởng khoa Phan Trọng Đỉnh phát động cũng nhạt nhòa dần vì điều kiện cuộc sống thực tế quá khó khăn. Anh Nguyễn Ngọc Minh cứ chiều chiều đợi anh Bổng, anh Đình qua rủ đi ngồi quán chè nước “phố thối”. Tuyệt nhiên không còn cảnh nô nức đi ôn thi trên giảng đường hay ra vườn thực vật học và truy bài. Cả rèn luyện thể dục buổi sáng quanh sân vận động cũng “tiệt chủng”. Phong trào lớp, đoàn, tổ trong thi đua mất dần không khí tranh luận sôi nổi về chuyên môn. Chỉ còn một số ít cá nhân có chí tiến thủ, các đối tượng Đảng và nhóm học sinh trẻ có thành tích còn duy trì nỗ lực. Ngay cả công tác cán sự các môn học cũng cơ bản chỉ làm cho có.

Chúng tôi thường xuyên phải tranh thủ đi tắm giặt bên ngoài. Anh Khang dành nhiều thời gian đến nhà chị Nghĩa ở Thạch Bàn giúp gia đình bà cụ làm vườn, dọn dẹp nhà cửa và nhiều lần ăn cơm cùng gia đình bà (chỉ không ngủ qua đêm). Tôi cũng nhiều lần đến cùng anh để nhờ tắm giặt mỗi khi trường mất điện, mất nước…

Về công việc học tập chuyên môn,

Năm thứ 4, các môn học lúc này không còn nhiều, chủ yếu các môn trong khoa. Cụ thể lịch học như sau:

Kỳ 1: Học 3 môn thi là Kế hoạch nông nghiệp (90 tiết), Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp (phần 1 - 120 tiết) và Chăn nuôi cơ bản (90 tiết). Trong kì 1 có chuyến đi thực tập giáo trình tại NTQD Mộc Châu 8 tuần (từ tháng 11/1978 đến 1/1979).

Chuyến đi TTGT ở Mộc Châu tôi đã ghi chép chi tiết rồi[6]. Qua chuyến đi đó, chúng tôi đã biết thêm chút ít về tổ chức và quản lý NTQD, về ngành chè, ngành chăn nuôi bò sữa ở một đơn vị quốc doanh trong nông nghiệp có quy mô Xí nghiệp Liên hợp Nông – Công nghiệp. Một số kiến thức môn Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp, nhất là phần chăn nuôi được quan sát thực tế để rõ thêm. Rất tiếc kiến thức Môn học Chăn nuôi cơ bản do cô giáo Nhàn dạy thì không áp dụng được mấy vì nội dung chỉ học 3 nhóm gia súc cơ bản là trâu bò, lợn và gia cầm, không có phần bò sữa. Cuối kì 1, sau khi đi Mộc Châu về thì chúng tôi học thêm mấy tuần nữa là thi.

Kì 2: Các môn học thi gồm Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp (phần 2 - 120 tiết), Tài chính tín dụng xí nghiệp nông nghiệp (90 tiết) và Lịch sử Đảng (60 tiết). Các môn kiểm tra gồm Thú y (30 tiết) và Chính sách đất đai (30 tiết).

Đến thời gian này, các giáo viên chuyên môn trong Khoa Kinh tế Nông nghiệp thì cơ bản chúng tôi đã biết hết các thầy, cô qua giảng dạy hoặc qua các lần thực tập. Thái độ cơ bản là kính trọng, không còn sợ cũng như không ngại gặp các thầy, cô như những năm đầu.

Sau khi cơ bản học xong các môn ở kì 2 năm thứ 4 thì vào cuối tháng 5 chúng tôi được tập trung ôn thi gấp môn Lịch sử Đảng để huy động đi thực tế đột xuất. Môn thi Lịch sử Đảng là môn thi chung toàn Khóa 20 nên tổ chức thi viết sớm, vào ngày 28-5-1979. Ngay sau đó là đi chuyến thực tập (ngoài kế hoạch chương trình) tại Hải Hậu theo yêu cầu đánh giá cơ khí hóa toàn huyện. Tôi không rõ các ngành học khác có phải đi không nhưng 2 lớp KT20 được huy động đến huyện Hải Hậu và Khoa bố trí sinh viên đến đủ 40 HTX toàn huyện. Tại Hải Hậu hồi đó tôi cũng có gặp một số anh em sinh viên và giáo viên ngành trồng trọt (lớp nông hóa thổ nhưỡng[7]). Nghe nói cũng có lớp đi huyện Nam Ninh[8], huyện được mệnh danh là “trái bom cơ khí hóa nông nghiệp” thí điểm toàn quốc.

Sau 1 tháng tìm hiểu cơ khí hóa, chúng tôi về học tiếp và thi, kiểm tra các môn cho đến hết tháng 7-1979. Sau đó có kì nghỉ hè ngắn hơn bình thường và mọi người đến trường gặp giáo viên hướng dẫn để nhận đề tài và địa điểm thực tập tốt nghiệp.

Năm thứ 5 và kì thi tốt nghiệp

Năm thứ 5 chỉ còn thời gian đi thực tập, hết thực tập xong thì về trường để thi tốt nghiệp, kết thúc khóa học. Thời gian thực tập và rút về trường cũng không rõ ràng cho các nhóm. Một số sinh viên được cử tiếp đi thực tập tốt nghiệp tại Hải Hậu. Thầy Nguyễn Văn Quý hướng dẫn tôi và anh Dương Ngọc Đĩnh. Chúng tôi được phân công đến Trạm Máy kéo huyện Hải Hậu để tiếp tục các đề tài về cơ khí hóa nông nghiệp. Trần Hữu Giang (thầy Đinh Văn Hiến hướng dẫn) được cử về xã Hải Đường, Hải Hậu. Ngoài ra còn có anh Nguyễn Văn Tường (Tường Cận) trước học KT19 được cử về xã Hải Phương, Hải Hậu (không rõ ai hướng dẫn). Hồi đó, có anh Thìn lớp CK19 cũng thực tập tại Trạm Máy kéo Hải Hậu, nhưng chúng tôi chỉ ở với anh chừng hơn 1 tháng thì anh về trường để thi tốt nghiệp ra trường.[9] (Sau này tôi cũng có vài lần gặp lại anh Thìn trong các đợt công việc, khi đó anh là cán bộ của Bộ Nông nghiệp). Nhóm đi thực tập ở Hải Hậu từ tháng 9-1979 đến cuối tháng 3-1980 (dịp Tết thì các thầy hướng dẫn đều cho chúng tôi về quê nghỉ mấy ngày).

Từ tháng 4-1980, các nhóm lác đác kéo về trường và được bố trí ở nhà KTX A1 chờ thi. Sinh viên tiếp tục làm việc với giáo viên hướng dẫn để hoàn thiện Báo cáo Khóa luận tốt nghiệp[10]. Các nội dung cuối khóa gồm tổ chức ôn thi 3 môn tốt nghiêp, gồm môn Chính trị, gọi đầy đủ là môn Lí luận Mác Lênin, môn Kĩ thuật nông nghiệp và Bảo vệ Báo cáo khóa luận tốt nghiệp. Từ ngày 29-4 thi môn Chính trị, đến hết ngày 10-5-1980 hoàn thành bảo vệ Báo cáo Khóa luận tốt nghiệp.

Trước khi ra trường còn có mấy ngày học chính trị cuối khóa rồi mọi người về nhà chờ kế hoạch phân công công tác.

Trong năm thứ 5, tôi gặp biến cố đau thương là mẹ tôi mất ngày 15-Giêng năm Canh Thân (dương lịch là ngày 1-3-1980). Sau khi về nghỉ Tết vui vẻ thì từ ngày mồng 4 Tết, mẹ tôi ốm nặng phải đi Bệnh xá theo dõi. Tôi chăm sóc mẹ ốm thấy mẹ cũng đỡ dần, ăn được cơm. Mẹ giục tôi đi kẻo ảnh hưởng đến học tập vì mẹ đã khỏe rồi. Ngày Mồng 8 tôi trở về Hải Hậu để chuẩn bị kết thúc tốt nghiệp. Mẹ tôi mất sau khi tôi đi 1 tuần, nhưng do điều kiện thông tin và đi lại khó khăn nên tôi không biết tin mẹ mất. Khi đi thực tập về đến Hà Nội tôi mới nhận được tin dữ và vội vàng về quê viếng mẹ. Còn nhớ tôi và Giang đi từ Hải Hậu về đến nhà anh trai tôi ở Hà Nội lúc chiều tối mới biết tin này. Sáng hôm sau Giang qua trường sớm, còn tôi ra ga mua vé tàu về quê viếng mẹ. Một mất mát rất đau xót ở những ngày cuối cùng thời gian đại học của tôi.

Các ghi chép ở 2 năm học cuối tôi sẽ cố gắng chi tiết theo một số môn học và những hoạt động còn nhớ được trong thời gian đi thực tế và thực tập tốt nghiệp trong các bài tiếp theo. Hi vọng còn sống lại được những kí ức của bản thân và thời cuộc trong những ngày đáng nhớ cuối thời gian đại học.

Ra trường, số phận chuyển đổi cuộc đời

Chúng tôi ra trường khi đất nước đang khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Đa số các anh chị được huy động đi các đoàn “khoán quản” của Bộ Nông nghiệp về các địa phương phía Bắc. Nhóm anh em trẻ đi học Sĩ quan dự bị cho đến tháng 10-1980, sau đó 7 anh em trong lớp đi bộ đội vào các Quân khu phía Nam. Những chi tiết chuyện đi học Sĩ quan dự bị và nhập ngũ ngày 15-12-1980 tôi cũng đã có ghi chép rất đầy đủ trong blog[11] từ năm 2025.



[1] Hồi đó không có hàng quán bán đồ ăn trên phố như bây giờ. Đa số các buổi lang thang là không ăn gì, có chăng chỉ mua được vài cái kẹo dồi ở quán nước trên hè phố.

[2] Ở phố Hàng Trống ngay bên hồ Hoàn Kiếm.

[3] Hồi đó chưa mở Hoàng Thành Thăng Long, Lăng Bác Hồ chưa xây dựng xong.

[4] Khu Thanh Xuân, nay là phố Trần Phú, gần Học viện An ninh nhân dân.

[5] Chuyện này cũng đáng nhớ lắm. Nhà hàng Khách sạn Phú Gia phố Hàng Trống khi đó vốn là một nơi rất nổi tiếng - nổi tiếng từ thời Pháp cai trị. Thế mà hai sinh viên nghèo vào chỉ đủ tiền gọi món cơm canh.

[7] Hồi đó Khoa Trồng trọt có ngành Nông hóa Thổ nhưỡng, sau này tách ra thành Khoa Quản lý Ruộng đất (từ Khóa 22 hay 23(?).

[8] Huyện Hải Hậu và Nam Ninh khi đó thuộc tỉnh Hà Nam Ninh, nơi trung ương thí điểm phát triển cơ kí hóa nông nghiệp theo tinh thần Nghị quyết ĐH IV của Đảng.

[9] Ngành Cơ khí nông nghiệp học 5 năm nên họ ra trường vào tháng 10 hàng năm.

[10] Tên gọi tùy theo trường, có trường gọi Đề án tốt nghiệp, có trường gọi Báo cáo Tốt nghiệp…

[11] Tôi đã có 14 ghi chép liên quan đến thời gian từ 6-1980 đến 3-1981 khi chúng tôi học Sĩ quan dự bị và đi bộ đội. Tham khảo chi tiết tại mục dưới đây: https://lehuuanhghichep.blogspot.com/search/label/Nh%E1%BB%AFng%20ng%C3%A0y%20%C4%91%E1%BA%A7u%20qu%C3%A2n%20ng%C5%A9