Thứ Bảy, tháng 4 11, 2026

Năm thứ 4 – Học môn Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp (post kì 1)

 

Đây là môn học trọng tâm trong chương trình đào tạo kĩ sư kinh tế nông nghiệp - môn học kéo dài cả 2 kỳ trong năm thứ 4, có tới 240 tiết học. Đó là chưa kể có tới 8 tuần đi thực tập khu vực NTQD kiểm chứng lại thực tiễn các nội dung đã học. Thời đó cái gì đã có trong thực tiễn thì cũng có trong giảng dạy. Học xong ra trường là làm được việc ngay. Kiến thức học không xa xôi viễn vông, chỉ cơ bản là các nội dung hướng dẫn người kĩ sư trong thực hành công việc của mình. Hơn nữa, qua rà soát các chương trình thực tập giáo trình, giáo viên có thể điều chỉnh nội dung giảng dạy hoặc cập nhật các thay đổi kiến thức mới.

Tuy nhiên kiểu dạy này có nhiều cái không hay: tính lí luận yếu, phần lớn học theo các chế độ, chính sách, quy định cứng nhắc. Mỗi khi có chính sách mới là hàng loạt nội dung học bị lạc hậu, lỗi thời. Các chính sách thì luôn thay đổi nên kĩ sư ra trường vài năm là mất hết các thứ đã học trong trường, phải tự cập nhật tình hình để làm việc. Bản thân giáo viên đôi khi cũng không kịp cập nhật chế độ, chính sách nên bị lạc hậu so với thực tiễn ngay từ khi dạy cho sinh viên trong nhà trường.

Vài nét về Bộ môn Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp và các giáo viên khi chúng tôi học

Cho tới năm 1961, Trường Đại học Nông nghiệp I (khi đó gọi là Học viện Nông Lâm) mới thành lập Khoa Kinh tế nông nghiệp, tức là chậm hơn các khoa khác 5 năm. Trước đó, từ năm 1957, Trường cũng đã có Tổ Bộ môn Kinh tế trực thuộc Học viện Nông Lâm. Đầu tiên Tổ Bộ môn Kinh tế nông nghiệp do thầy Nguyễn Đăng phụ trách[1] (1957-1958), sau đó đến thầy Nguyễn Văn Đỉnh[2] (1958-1962). Tổ Bộ môn Kinh tế dạy cho các khoa nông nghiệp trong trường, nội dung dạy nghe nói liên quan đến môn học Kinh tế nông nghiệp và Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp sau này.

Khi thành lập Khoa Kinh tế nông nghiệp, một số giáo viên trong khoa khi đó vốn không phải tốt nghiệp đại học ngành kinh tế nông nghiệp[3]. Tôi nghe một số thầy nói hồi đó thầy Trịnh Việt Lang có kiến thức rất thâm sâu về Kinh tế nông nghiệp. Lớp KT6 (1962-1967) là những sinh viên khóa đầu tiên của Khoa Kinh tế nông nghiệp ra trường. Có nhiều sinh viên giỏi được giữ lại làm giáo viên như các thầy Tô Dũng Tiến[4], Nguyễn Liễm[5], Hồ Ngọc Châu, Đinh Văn Hiến.

Từ khi thành lập Khoa Kinh tế nông nghiệp, môn học quan trọng nhất là Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp. Các giáo viên thường gọi đùa là môn “xương sống”, các môn khác là xương sườn, xương tứ chi… Khi chúng tôi học môn này (1978-1979), các giáo viên trong môn học gồm các thầy Trần Đình Đằng (TT1), Nguyễn Liễm, Hồ Ngọc Châu, Đinh Văn Hiến (KT6), Nguyễn Nguyên Cự (KT7). Sau này bổ sung thêm các giáo viên khác như Nguyễn Văn Quý (KT15), Đỗ Thành Sương (KT15), Phạm Văn Thiều (KT16)…

Từ năm 1977, Bộ Nông nghiệp thành lập Viện Kinh tế nông nghiệp nên một số giáo viên của Bộ môn Tổ chức quản lý xí nghiệp như PTS Chu Hữu Quý, PTS Nguyễn Lâm Toán, KS Nguyễn Trung Quế đã chuyển sang công tác tại Viện Kinh tế nông nghiệp. Thời chúng tôi học, một số thầy được mời về thỉnh giảng hoặc nói chuyện với sinh viên. Chúng tôi được nghe PTS Nguyễn Lâm Toán nói về nông nghiệp Liên Xô, PTS Chu Hữu Quý cũng nói về quản lý nông nghiệp ở Việt Nam liên hệ với các nước XHCN như Liên Xô.

Nội dung cơ bản của môn học

Môn học Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp có nội dung rất rộng, tôi còn nhớ lơ mơ như sau: Đối tượng, mục tiêu, phương pháp nghiên cứu môn học; Mô hình Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp; Tổ chức quản lý tư liệu sản xuất; Tổ chức quản lý lao động; Tổ chức quản lý sản xuất ngành trồng trọt; Tổ chức quản lý sản xuất ngành chăn nuôi; Tổ chức quản lý sản xuất ngành nghề TTCN; Tổ chức quy hoạch đất đai; Tổ chức quản lý cơ khí hóa sản xuất; Tổ chức phân phối sản phẩm; Tổ chức tài chính… Giờ nhớ lại theo giáo viên dạy thì sẽ cụ thể hơn về nội dung các chương này.

Nhìn chung các nội dung này có nhiều trùng lặp nhất định với môn học Kinh tế nông nghiệp (nhất là về mô hình tổ chức nông nghiệp là NTQD và HTX, về đất đai và TLSX, về lao động, về phân phối sản phẩm…). Trình độ chúng tôi khi đó thấy rất khó phân biệt đâu là kiến thức về kinh tế đâu là kiến thức về tổ chức quản lý. Ví dụ cũng là đất đai nhưng không làm rõ được nội dung nào thuộc môn Kinh tế nông nghiệp, nội dung nào thuộc môn Tổ chức quản lý sản xuất. Cả hai đều nhấn mạnh đặc điểm của đất đai vừa là tư liệu sản xuất (TLSX) vừa là đối tượng sản xuất (ĐTSX). Nhiều nội dung lí luận của 2 môn học này cũng có nhiều trùng lặp nhất định.

Nội dung học kì 1

Thầy KS Hồ Ngọc Châu dạy chúng tôi ở kì 1 năm thứ 4. Thầy tốt nghiệp KT6, khi đó đã ra trường được 12 năm. Thầy Châu quê ở Quỳnh Lưu, Nghệ An, người thấp nhỏ, nói giỏi, rất thuộc giáo trình. Giọng xứ Nghệ xoắn lại theo uốn lượn của môi dưới tạo cảm giác xây dựng âm điệu bài giảng điêu luyện. Thầy không chú ý nhiều đến người học, gần như không có đối thoại khi giảng. Kiểu “độc thoại” của thầy vừa giống kiểu cha đạo giảng kinh, vừa như người truyền thụ tuyên huấn. Lúc đầu nghe rất khoái “lỗ nhĩ” và cũng có những lúc cả lớp nổ thành những tràng cười theo nhiệt huyết giảng của thầy.

Sau khi giảng xong 3 chương đầu (Đối tượng, Mục tiêu, Phương pháp nghiên cứu môn học; Mô hình tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp; Tổ chức quản lý TLSX) thì thầy Châu dạy tiếp ngay vào chương Tổ chức quản lý sản xuất ngành chăn nuôi. Lí do là kịp bổ sung những kiến thức để tháng 11-1978 chúng tôi đi thực tập giáo trình tại NTQD Mộc Châu, nơi có ngành chăn nuôi bò sữa.

Phần nội dung tổ chức chăn nuôi bò sữa được thầy Châu chuẩn bị khá đầy đủ: gồm tổ chức chuồng trại, tổ chức đồng cỏ, công tác chu chuyển đàn, công tác vắt sữa, công tác thú y… Tôi nhớ nhất là thầy giảng chăn nuôi bò sữa có phương pháp chăn thả luân phiên tự động. Theo phương pháp đó, người ta làm các hàng rào giữa các lô cỏ để khi cho bò ăn lô nào thì mở cửa lô đó. Khi lô mở thì bò được tự động vào ăn, được tự do đi lại từ chuồng trại ra đồng cỏ và về nơi vắt sữa. Vào mùa thời tiết thuận lợi, bò được ngủ tại đồng cỏ không phải về chuồng… Một số ngày sau người ta lại mở lô khác để bò được vào nơi có nhiều cỏ mới tươi ngon. Nghe nói kiểu chăn thả này được tổ chức ở Liên Xô thời ấy.

Khi đi thực tập ở Mộc Châu năm 1978-1979 tôi cũng chỉ biết sơ sơ về phương pháp này khi được “học chéo” ở đội Vườn Đào (nơi anh Nguyễn Đăng Hợp làm nhóm trưởng nhóm sinh viên thực tập). Sau này khi tôi là giáo viên của Khoa, vào năm 1987-1988 tôi được trực tiếp hướng dẫn khóa KT30 đi thực tập ở Mộc Châu, tôi mới biết nhiều hơn về thực tiễn của phương pháp chăn thả luân phiên tự động được học từ hồi thầy Châu dạy.

Nhân chuyện này tôi xin nói thêm về một số trải nghiệm chuyện chăn nuôi bò sữa.

Năm 2011, tôi đến Australia lần thứ 3 trong một dịp học tập và nghiên cứu ở trường Đại học  Queensland, Bang Queensland[6]. Người ta cho tôi tới thăm 1 trang trại bò sữa và tôi có cơ hội thực sự thấy bò sữa được chăn thả tự động. Đàn bò sữa ở đó “sướng hết cỡ”: được tự động nước uống sạch, tự động ăn tùy thích những thức ăn tinh hay thô chất lượng cao. Đồng cỏ tươi non trồng hữu cơ luôn có sẵn cho cả đàn trong tầm đi lại tự do. Cuộc sống đàn bò được thiết kế cho mọi bản năng để tận hưởng những thứ trong lành nhất của thiên nhiên nhằm bảo đảm cho sữa tốt nhất, cao nhất. Khi đó, tôi liên tưởng đến đàn bò sữa ở NTQD Mộc Châu hồi chúng tôi học với thực tiễn một trang trại ở Australia để thấy ngành chăn nuôi bò sữa đã được đầu tư phát triển thế nào.

Lại nhân chuyện này để có liên hệ khác về ngành chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam. Vào mùa hè năm 2019, tôi có dịp vào thăm trại chăn nuôi bò sữa của TH True Milk ở Nghĩa Đàn, Nghệ An. Tôi thật bất ngờ thấy sự đầu tư và phát triển công nghệ bò sữa. Đồng cỏ và thức ăn trên đồng chỉ như là nơi đi dạo chơi của đàn bò. Người ta đeo vào chân mỗi con bò sữa một cái cảm biến theo dõi sức khỏe: đo số bước chân trong ngày, số km vận động mỗi giờ, số lần bò nằm nghỉ trên đồng cỏ, thời gian nghỉ… Khi nào bò thấy cần về vắt sữa thì lặng lẽ về trại vắt, nơi có máy lạnh, có quạt thông gió, có đầy đủ thức ăn bổ sung, nước uống sạch (ấm vào mùa đông). Bò vào khu chờ vắt sữa thì được nghe âm thanh những bản nhạc du dương (nay tôi chưa có điều kiện tìm hiểu xem loại nhạc nào bò thích nghe?). Chúng tôi phải trang phục riêng, đứng ở khu cách li từ trên cao nhìn xuống ngắm bò lần lượt vào khu vắt sữa tự động. Máy vắt chỉ hoạt động khi cảm biến đánh giá đó là bò có sức khỏe tốt. (Nếu bò đi lại ít, nằm nhiều… thì máy vắt sữa sẽ tự động nhả vú ra, từ chối hoạt động). Nhìn ra cánh đồng hoa hướng dương bạt ngàn gần khu trại bò mới biết người ta đầu tư lớn quá. Vùng tây Nghệ An gió Lào nắng nóng mà nuôi được những trang trại bò hiện đại quá, công nghệ Israel từ giống, các cảm biến tự động đến nhà vắt sữa và khu chế biến hiện đại khép kín trong một không gian chỉ mấy km2. Tôi lại thấy những gì mình biết hồi đi tìm hiểu ở Australia lại quá lạc hậu so với bây giờ ở ngay nước mình. Ôi, từ kiến thức học và thực tập thời 1978 cho đến thực tiễn thấy ở Việt Nam năm 2019 như những giấc mơ không tưởng!

Con bò thấy trong thực tế còn sướng hơn cả người công nhân chăn bò. Thế mà lũ bò sữa còn bị căn bệnh bò điên nữa chứ. Bệnh bò điên là do bò sữa bị chăm sóc và vắt sữa quá đáng gây là tổn thương “tinh thần”[7] và trở nên điên. Nghĩ lại thấy thương cho người chăn nuôi bò sữa: chắc họ chưa từng biết chuyện phải ăn thế nào để đủ tiêu chuẩn, phải sống thế nào để đủ sức khỏe thì mới được cho con bú (và chắc cũng chưa từng biết phải nghe loại nhạc gì khi con bú). Mà người ta chăm sóc đàn bò sữa (chứ không quan tâm đến đàn con của nó) để mỗi năm vắt gần 300 ngày, cứ đẻ rồi vắt sữa hết lứa này đến lứa khác nên trở thành … điên!

Trở về từ thực tập và thi cuối kì

Sau khi đi thực tập về thì chúng tôi còn học mấy tuần nữa là thi. Tôi còn nhớ khi đó phải chuyển sang học khu Giảng đường CLB sinh viên. Hai lớp KT20AB ngồi trong một phòng nhỏ hơn GĐ8 chúng tôi vẫn học. Thầy Châu dạy một chương gì đó có nói đến chuyện thực tiễn không giống những gì trong sách vở. Thầy nói về chuyện có thửa ruộng hình chữ thập ngoặc, hình khẩu súng lục. Nét vẽ của thầy theo kiểu hình đó trên bảng đen và mô tả cách tổ chức sản xuất trên những thửa ruộng đó phải thế nào để bảo đảm đạt yêu cầu của nguyên tắc tổ chức phải thuận theo hướng gió, hướng nắng (?). Chúng tôi cười theo những nét vẽ rất nhanh thành những hình ngộ nghĩnh trên bảng khi thầy say sưa giảng bài.

Thi môn học này cũng có chuyện để nhớ. Từ năm học thứ 4 của chúng tôi, quy định cách cho điểm thi từ hệ thang điểm 5/5 được đổi sang cho điểm thang 10/10. Môn Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp vốn nổi tiếng khó, khó từ học cho đến thi cử. Ngày thi vấn đáp môn này là 18-2-1979, tôi đạt điểm 5/10. Kì đó cả lớp rất ít người đạt điểm 8, điểm 7 cũng hiếm lắm. Có lẽ các thầy nghĩ thang điểm 10/10 phải làm cho sinh viên rất khó đạt điểm giỏi! À cũng cần có thêm yếu tố nữa là cơ bản sinh viên lúc này cũng chỉ cần điểm đạt để không phải thi lại mà thôi.



[1] Thầy Nguyễn Đăng (?-2008) khi đó là Hiệu trưởng kiêm Trưởng Bộ môn Kinh tế. Sau này thầy từng giữ Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp, đại biểu Quốc hội khoá I, khoá II, khoá III, khoá VI và khoá VII.

[2] Sau này Khoa Kinh tế nông nghiệp cũng có thầy tên Đỉnh là Trưởng Khoa (KS Phan Trọng Đỉnh trưởng khoa từ 1978-1982).

[3] Chẳng hạn thầy Trần Đình Đằng ban đầu học ngành Trồng trọt khóa 1. Sau này GS TS Trần Đình Đằng là Trưởng Khoa Kinh tế nông nghiệp từ 1984-1992.

[4] GS TS Tô Dũng Tiến sau này là Trưởng Khoa Kinh tế nông nghiệp từ 1992-2001

[5] Sau này thầy Nguyễn Liễm chuyển vào Thành phố Hồ Chí Minh dạy ở Trường Cán bộ quản lý Bộ Nông nghiệp. Thầy đã mất (khoảng năm 2014?).

[6] Đại học Queensland (thành lập 1909 thường được gọi tắt là UQ) là một đại học nghiên cứu khoa học đa ngành hàng đầu tại Úc, có trụ sở chính tại thành phố Brisbane, thủ phủ của tiểu bang Queensland.

[7] Không biết lũ bò có “tinh thần” không mà tổn thương tâm lý?

Thứ Sáu, tháng 4 03, 2026

Năm thứ 4 và năm thứ 5 – “nốt lặng” một thời đại học

 

Tôi sẽ dành nhiều thời gian để ghi chép những sự kiện về cuộc sống sinh viên ở năm thứ 4 và 6 tháng của năm thứ 5 đại học mà chúng tôi trải nghiệm, nhất là những lắng đọng sâu sắc mà chúng tôi được vui sống bên nhau. Đây là những năm tháng tôi thật sự được sống với sự háo hức học hỏi, cảm nhận và cho đến nay vẫn thấy hồi đó mình đã có rất nhiều giá trị thu hoạch được.

Cũng nói luôn về những điểm rất yếu của chúng tôi thời đó – rất ít chuyện ái tình, rất ít chuyện thể hiện hơi thở thời cuộc của “trí thức” - chỉ thực tế là nhiều chuyện thời đói cơm thiếu áo, ít lí tưởng hoài bão cao xa. May mắn là vẫn còn giữ được chân chất hồn quê trong mỗi con người.

Nhìn lại những thay đổi ước mơ so với 3 năm đầu đại học

Nếu 3 năm đầu đại học, tôi dành rất nhiều thời gian rảnh rỗi để kiếm tìm di sản về Hà Nội thì sang năm thứ 4 bắt đầu có những cái nhìn về cuộc sống thực tế hơn.

Từ một thanh niên nông thôn lần đầu ra Hà Nội – mọi cái đều lần đầu: chuyến đi tàu hỏa đầu tiên, chuyến xe buýt, xe điện đầu tiên… Rồi có lần đầu biết mùi thơm của cái bánh mỳ pate có phết bơ ở Ngã tư Vọng, biết vị ngọt cái bánh chuối nóng sâu trong tận cổ họng ở góc hè chợ Mơ… Dần dần tôi tìm về các danh thắng, các di tích các bảo tàng. Chỉ bằng đi bộ và tàu điện, mỗi lần về nội thành là tôi có một kế hoạch được chuẩn bị kĩ: điểm đến là gì, đến để xem gì, cảm nhận cần ghi chép hoặc dấu ấn để nhớ là gì… Chỉ tiếc là không tìm được ai đi cùng vì không biết cách rủ được người có cùng mơ ước như mình và thực tế là không “bao nổi” ai đó dù chỉ tiền tàu điện hay bữa điểm tâm trưa[1]. Dù sao tôi cũng có điểm mạnh là các năm 1975-1976, gia đình anh trai đang sống ở một phần gian nhà tập thể (khoảng 8m2) ở phố Minh Khai nên cũng coi như có chỗ dựa ăn uống mỗi khi về thăm nội thành.

Nhớ lại 2 năm đầu, chuyến đầu tiên là phải đến Bờ Hồ để thấy được tận mắt Tháp Rùa, Đền Ngọc Sơn, Nhà Bưu điện, Nhà Thủy tạ, Tượng đài Lê Lợi[2], Nhà in báo Nhân dân rồi đi bộ lên Hàng Ngang, Hàng Đào vào chợ Đồng Xuân trước khi ra Bến Nứa đi xe ca về Trâu Quỳ. Tiếp đó là dành một chuyến đi để vào thăm Bảo tàng Lịch sử, Bảo tàng Cách mạng, dạo ngắm Nhà hát lớn, phố Tràng Tiền, Bách hóa Tổng hợp. Rồi có những chuyến đến các điểm xa hơn: khu Ba Đình, Vườn Bách thảo, Bảo tàng Quân đội, Bảo tàng Mĩ thuật Hà Nội (phố Nguyễn Thái Học), Văn Miếu Quốc Tử Giám[3]. Đến với khu Hồ Tây: chùa Quán Thánh, đường Thanh Niên, chùa Trấn Quốc, quán gió bánh tôm Hồ Tây. Cũng có một lần được vào Công viên Thống nhất và biết Rạp Xiếc Hà Nội. Còn chùa Quán Sứ thâm nghiêm thì vốn được nhìn thấy mấy lần khi phải xếp hàng mua vé và đợi tàu hỏa từ đây ra đến tận ga Hàng Cỏ mỗi khi về quê nghỉ Tết.

Cũng lần mò tìm được bạn bè để biết Đại học Tổng hợp, Đại học Kinh tế Kế hoạch, Đại học Thương nghiệp, Đại học Thủy Lợi… Đại loại đó là những điểm đến của một thời mơ ước khi ở quê từng được nghe nói đến.

Đến năm thứ 3 có lần được đến thăm em trai đang học ở Trường học số 1 Bộ Xây dựng, Thanh Xuân, Hà Nội[4] (gần Hà Đông), rồi cùng em đi bộ dạo một vòng nhỏ ở Thị xã Hà Đông. Chuyến đi lao động công ích cải tạo sông Tô Lịch cuối năm thứ 3 được biết thêm chút ít về Đình làng Cót, khu Cầu Giấy và Bách thú Thủ Lệ và có dịp ghé thăm Gò Đống Đa.

Đó là vốn hiểu biết của tôi về Hà Nội những năm đầu đại học. Chỉ có một số điểm đến ít ỏi đó mà phải dành dụm tới 3 năm để có dịp ghé thăm. Trong đầu khi đó chỉ là có “lơ mơ” chút về hồn dân tộc, hồn sông núi và những nơi linh thiêng của Thăng Long Hà Nội.

Đến năm thứ 4 thì hầu như không có dịp thăm thú nào nữa, coi như cơ bản đã biết về Hà Nội. Vả lại thời kinh tế khó khăn nên không dành được chút tiền đi lại. Những ngày cuối tuần chỉ loanh quanh ở trường, đi dạo hay đọc sách đợi giờ ăn.

À quên, hai năm cuối đại học của tôi có được lần đi cùng anh Khang đến quán làm bánh quy gia công ở phố Đinh Tiên Hoàng. Anh Khang kiếm được ít bột, trứng gà và đường cát, thế là anh rue tôi đi thuê làm bánh quy trước khi về Tết. Lần đó anh còn rủ tôi đi ăn cơm Phú Gia[5]. Có lẽ có dịp cũng nên ghi chép lại vài cảm nghĩ về chuyện này để thấy rõ hơn tình cảnh cuộc sống bấy giờ. Năm thứ 5 thì được đi xem phim cùng anh Nguyễn Ngọc Đĩnh ở rạp Bạch Mai gần chợ Mơ (hồi đó anh Đĩnh cùng tôi thực tập ở Trạm Máy kéo Hải Hậu, hôm về báo cáo thầy Nguyễn Văn Quý hướng dẫn, tôi và anh đã nghỉ đêm ở nhà anh trai tôi vì chiều tối không còn xe về Trâu Quỳ).

Bối cảnh đất nước và cuộc sống sinh viên

Năm học thứ 4 bắt đầu từ đầu tháng 8-1978 đến hết 7-1979, sau đó là năm thứ 5 (từ 8-1979 đến 5-1980). Bối cảnh đất nước lúc bấy giờ là chiến tranh biên giới Tây Nam, nạn Hoa kiều về nước và sau đó là chiến tranh biên giới phía Bắc (17-2-1979). Đất nước thiếu năng lượng, lương thực trầm trọng. Mô hình NTQD, HTX kém hiệu quả, dân đói lầm than.

Các khó khăn của đất nước ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống sinh viên: thiếu điện, mất nước triền miên. Cơm tập thể ban đầu giảm gạo, tăng mỳ, sau đó có khi không có cơm, chỉ còn bánh mỳ và hạt lúa mạch hấp. Thực phẩm khan hiếm, nhiều khi tiêu chuẩn có phiếu mà không mua được hàng nên bếp tập thể chủ yếu có canh “đại dương” và sang nhất là món cá biển kho, mùi cá biển kho mặn phủ kín cả khu KTX sinh viên mà đến nay tôi vẫn chưa từng quên.

Tình trạng chúng tôi hồi đó đã hiểu nhau hơn qua những lần cùng lao động học nghề, rèn nghề (kết thúc bằng việc liên hoan thành quả khoán quản năm 3). Rồi lần đi TTGT lần 1 (khối HTX), đi lao động công ích cải tạo sông Tô Lịch. Khi đó cơ bản mọi người biết được “sở trường sở đoản” của nhau, không chỉ trong tổ mà cả trong lớp. Tôi nhận ra lúc này anh em sinh nam trong lớp đã hình thành 2 nhóm khá rõ. Nhóm đa số gồm các anh chị lớn tuổi (bộ đội về, cán bộ đi học…) cơ bản an bài, không còn chí hướng phấn đấu mà chủ yếu chỉ là học cho xong. Một số anh em trẻ những năm đầu học khá, gia đình có điều kiện nhưng từ năm thứ 4 cũng không ham phấn đấu, dường như không còn động lực gì từ những gì đã trải sau 3 năm đại học. Nhóm đa số này chiếm tới khoảng 80-85%. Số còn lại là nhóm chỉ mấy anh em trẻ, có năng lực học, dường như chăm chỉ để có hi vọng đôi chút về tương lai sau khi ra trường.

Cả hai nhóm vẫn chung sống rất thân tình. Nhóm đa số vẫn có thái độ ngưỡng mộ nhóm trẻ nhưng chấp nhận sự hài lòng của mình. Thái độ là ngưỡng mộ mà không ganh ghét, không muốn nỗ lực theo đuổi, kiểu “mặc kệ” bọn bay, chúng tớ chỉ cần ra trường vào biên chế kiếm việc làm là được rồi!

Các tổ nam lớp KT20A và B vẫn ở KTX B3. Lúc này các nhóm ăn sáng cũng khó khăn, lúc có lúc không. Bắt đầu xuất hiện các quán nước “phố thối” thôn An Đào. Rất nhiều anh em trèo tường, vượt mương nước qua ngồi quán ăn kẹo dồi uống trà cả buổi. Có anh Đình lớp KT20B sau này còn quen lấy được cô vợ người trong thôn này.

Trong các tổ cũng không còn nhiều chuyện như những năm đầu. Thậm chí anh Khang hát mấy bài “tủ” nhất thì mọi người cũng đã thuộc. Bài anh Khang hát “Xa khơi” của Nguyễn Tài Tuệ say sưa thế mà câu “con chuồn còn bay nơi nơi, con giang chiều gọi bạn đường khơi” được bạn Trần Hữu Giang chỉnh lại thành “con Giang chiều nghé ọ mẹ ơi”. Anh Quân đọc thơ bài “Núi Đôi” của Vũ Cao có đoạn “Bảy năm về trước em 17/Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng/Xuân Dục - Đoài Đông hai cánh lúa/Bữa thì anh tới bữa em sang”. Trần Hữu Giang đổi câu cuối thành “Bữa thì anh tới bữa em lui.

Chuyện trêu đùa của anh Học và mọi người với anh Nội cũng không còn vui nhộn nữa. Các chuyện tiếu lâm thời bộ đội của anh Minh, anh Khang, anh Kình, anh Nội, anh Lục, anh Quân dường như cũng đã nghe hết. Chuyện kinh nghiệm sống của anh Ngọc, anh Xuân Trí, anh Chình, anh Lan hồi xưa hay thế mà nay cũng không còn hấp dẫn chúng tôi. Không khí học tập cũng chán nản nhiều, tâm lí học chỉ sao cho đạt điểm không phải thi lại. Đi học trên lớp vẫn rất nghiêm túc nhưng đã không còn các buổi điểm danh tối chủ nhật. Các “thủ tục” của phong trào “quê hương nội trú” mà thầy Trưởng khoa Phan Trọng Đỉnh phát động cũng nhạt nhòa dần vì điều kiện cuộc sống thực tế quá khó khăn. Anh Nguyễn Ngọc Minh cứ chiều chiều đợi anh Bổng, anh Đình qua rủ đi ngồi quán chè nước “phố thối”. Tuyệt nhiên không còn cảnh nô nức đi ôn thi trên giảng đường hay ra vườn thực vật học và truy bài. Cả rèn luyện thể dục buổi sáng quanh sân vận động cũng “tiệt chủng”. Phong trào lớp, đoàn, tổ trong thi đua mất dần không khí tranh luận sôi nổi về chuyên môn. Chỉ còn một số ít cá nhân có chí tiến thủ, các đối tượng Đảng và nhóm học sinh trẻ có thành tích còn duy trì nỗ lực. Ngay cả công tác cán sự các môn học cũng cơ bản chỉ làm cho có.

Chúng tôi thường xuyên phải tranh thủ đi tắm giặt bên ngoài. Anh Khang dành nhiều thời gian đến nhà chị Nghĩa ở Thạch Bàn giúp gia đình bà cụ làm vườn, dọn dẹp nhà cửa và nhiều lần ăn cơm cùng gia đình bà (chỉ không ngủ qua đêm). Tôi cũng nhiều lần đến cùng anh để nhờ tắm giặt mỗi khi trường mất điện, mất nước…

Về công việc học tập chuyên môn,

Năm thứ 4, các môn học lúc này không còn nhiều, chủ yếu các môn trong khoa. Cụ thể lịch học như sau:

Kỳ 1: Học 3 môn thi là Kế hoạch nông nghiệp (90 tiết), Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp (phần 1 - 120 tiết) và Chăn nuôi cơ bản (90 tiết). Trong kì 1 có chuyến đi thực tập giáo trình tại NTQD Mộc Châu 8 tuần (từ tháng 11/1978 đến 1/1979).

Chuyến đi TTGT ở Mộc Châu tôi đã ghi chép chi tiết rồi[6]. Qua chuyến đi đó, chúng tôi đã biết thêm chút ít về tổ chức và quản lý NTQD, về ngành chè, ngành chăn nuôi bò sữa ở một đơn vị quốc doanh trong nông nghiệp có quy mô Xí nghiệp Liên hợp Nông – Công nghiệp. Một số kiến thức môn Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp, nhất là phần chăn nuôi được quan sát thực tế để rõ thêm. Rất tiếc kiến thức Môn học Chăn nuôi cơ bản do cô giáo Nhàn dạy thì không áp dụng được mấy vì nội dung chỉ học 3 nhóm gia súc cơ bản là trâu bò, lợn và gia cầm, không có phần bò sữa. Cuối kì 1, sau khi đi Mộc Châu về thì chúng tôi học thêm mấy tuần nữa là thi.

Kì 2: Các môn học thi gồm Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp (phần 2 - 120 tiết), Tài chính tín dụng xí nghiệp nông nghiệp (90 tiết) và Lịch sử Đảng (60 tiết). Các môn kiểm tra gồm Thú y (30 tiết) và Chính sách đất đai (30 tiết).

Đến thời gian này, các giáo viên chuyên môn trong Khoa Kinh tế Nông nghiệp thì cơ bản chúng tôi đã biết hết các thầy, cô qua giảng dạy hoặc qua các lần thực tập. Thái độ cơ bản là kính trọng, không còn sợ cũng như không ngại gặp các thầy, cô như những năm đầu.

Sau khi cơ bản học xong các môn ở kì 2 năm thứ 4 thì vào cuối tháng 5 chúng tôi được tập trung ôn thi gấp môn Lịch sử Đảng để huy động đi thực tế đột xuất. Môn thi Lịch sử Đảng là môn thi chung toàn Khóa 20 nên tổ chức thi viết sớm, vào ngày 28-5-1979. Ngay sau đó là đi chuyến thực tập (ngoài kế hoạch chương trình) tại Hải Hậu theo yêu cầu đánh giá cơ khí hóa toàn huyện. Tôi không rõ các ngành học khác có phải đi không nhưng 2 lớp KT20 được huy động đến huyện Hải Hậu và Khoa bố trí sinh viên đến đủ 40 HTX toàn huyện. Tại Hải Hậu hồi đó tôi cũng có gặp một số anh em sinh viên và giáo viên ngành trồng trọt (lớp nông hóa thổ nhưỡng[7]). Nghe nói cũng có lớp đi huyện Nam Ninh[8], huyện được mệnh danh là “trái bom cơ khí hóa nông nghiệp” thí điểm toàn quốc.

Sau 1 tháng tìm hiểu cơ khí hóa, chúng tôi về học tiếp và thi, kiểm tra các môn cho đến hết tháng 7-1979. Sau đó có kì nghỉ hè ngắn hơn bình thường và mọi người đến trường gặp giáo viên hướng dẫn để nhận đề tài và địa điểm thực tập tốt nghiệp.

Năm thứ 5 và kì thi tốt nghiệp

Năm thứ 5 chỉ còn thời gian đi thực tập, hết thực tập xong thì về trường để thi tốt nghiệp, kết thúc khóa học. Thời gian thực tập và rút về trường cũng không rõ ràng cho các nhóm. Một số sinh viên được cử tiếp đi thực tập tốt nghiệp tại Hải Hậu. Thầy Nguyễn Văn Quý hướng dẫn tôi và anh Dương Ngọc Đĩnh. Chúng tôi được phân công đến Trạm Máy kéo huyện Hải Hậu để tiếp tục các đề tài về cơ khí hóa nông nghiệp. Trần Hữu Giang (thầy Đinh Văn Hiến hướng dẫn) được cử về xã Hải Đường, Hải Hậu. Ngoài ra còn có anh Nguyễn Văn Tường (Tường Cận) trước học KT19 được cử về xã Hải Phương, Hải Hậu (không rõ ai hướng dẫn). Hồi đó, có anh Thìn lớp CK19 cũng thực tập tại Trạm Máy kéo Hải Hậu, nhưng chúng tôi chỉ ở với anh chừng hơn 1 tháng thì anh về trường để thi tốt nghiệp ra trường.[9] (Sau này tôi cũng có vài lần gặp lại anh Thìn trong các đợt công việc, khi đó anh là cán bộ của Bộ Nông nghiệp). Nhóm đi thực tập ở Hải Hậu từ tháng 9-1979 đến cuối tháng 3-1980 (dịp Tết thì các thầy hướng dẫn đều cho chúng tôi về quê nghỉ mấy ngày).

Từ tháng 4-1980, các nhóm lác đác kéo về trường và được bố trí ở nhà KTX A1 chờ thi. Sinh viên tiếp tục làm việc với giáo viên hướng dẫn để hoàn thiện Báo cáo Khóa luận tốt nghiệp[10]. Các nội dung cuối khóa gồm tổ chức ôn thi 3 môn tốt nghiêp, gồm môn Chính trị, gọi đầy đủ là môn Lí luận Mác Lênin, môn Kĩ thuật nông nghiệp và Bảo vệ Báo cáo khóa luận tốt nghiệp. Từ ngày 29-4 thi môn Chính trị, đến hết ngày 10-5-1980 hoàn thành bảo vệ Báo cáo Khóa luận tốt nghiệp.

Trước khi ra trường còn có mấy ngày học chính trị cuối khóa rồi mọi người về nhà chờ kế hoạch phân công công tác.

Trong năm thứ 5, tôi gặp biến cố đau thương là mẹ tôi mất ngày 15-Giêng năm Canh Thân (dương lịch là ngày 1-3-1980). Sau khi về nghỉ Tết vui vẻ thì từ ngày mồng 4 Tết, mẹ tôi ốm nặng phải đi Bệnh xá theo dõi. Tôi chăm sóc mẹ ốm thấy mẹ cũng đỡ dần, ăn được cơm. Mẹ giục tôi đi kẻo ảnh hưởng đến học tập vì mẹ đã khỏe rồi. Ngày Mồng 8 tôi trở về Hải Hậu để chuẩn bị kết thúc tốt nghiệp. Mẹ tôi mất sau khi tôi đi 1 tuần, nhưng do điều kiện thông tin và đi lại khó khăn nên tôi không biết tin mẹ mất. Khi đi thực tập về đến Hà Nội tôi mới nhận được tin dữ và vội vàng về quê viếng mẹ. Còn nhớ tôi và Giang đi từ Hải Hậu về đến nhà anh trai tôi ở Hà Nội lúc chiều tối mới biết tin này. Sáng hôm sau Giang qua trường sớm, còn tôi ra ga mua vé tàu về quê viếng mẹ. Một mất mát rất đau xót ở những ngày cuối cùng thời gian đại học của tôi.

Các ghi chép ở 2 năm học cuối tôi sẽ cố gắng chi tiết theo một số môn học và những hoạt động còn nhớ được trong thời gian đi thực tế và thực tập tốt nghiệp trong các bài tiếp theo. Hi vọng còn sống lại được những kí ức của bản thân và thời cuộc trong những ngày đáng nhớ cuối thời gian đại học.

Ra trường, số phận chuyển đổi cuộc đời

Chúng tôi ra trường khi đất nước đang khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Đa số các anh chị được huy động đi các đoàn “khoán quản” của Bộ Nông nghiệp về các địa phương phía Bắc. Nhóm anh em trẻ đi học Sĩ quan dự bị cho đến tháng 10-1980, sau đó 7 anh em trong lớp đi bộ đội vào các Quân khu phía Nam. Những chi tiết chuyện đi học Sĩ quan dự bị và nhập ngũ ngày 15-12-1980 tôi cũng đã có ghi chép rất đầy đủ trong blog[11] từ năm 2025.



[1] Hồi đó không có hàng quán bán đồ ăn trên phố như bây giờ. Đa số các buổi lang thang là không ăn gì, có chăng chỉ mua được vài cái kẹo dồi ở quán nước trên hè phố.

[2] Ở phố Hàng Trống ngay bên hồ Hoàn Kiếm.

[3] Hồi đó chưa mở Hoàng Thành Thăng Long, Lăng Bác Hồ chưa xây dựng xong.

[4] Khu Thanh Xuân, nay là phố Trần Phú, gần Học viện An ninh nhân dân.

[5] Chuyện này cũng đáng nhớ lắm. Nhà hàng Khách sạn Phú Gia phố Hàng Trống khi đó vốn là một nơi rất nổi tiếng - nổi tiếng từ thời Pháp cai trị. Thế mà hai sinh viên nghèo vào chỉ đủ tiền gọi món cơm canh.

[7] Hồi đó Khoa Trồng trọt có ngành Nông hóa Thổ nhưỡng, sau này tách ra thành Khoa Quản lý Ruộng đất (từ Khóa 22 hay 23(?).

[8] Huyện Hải Hậu và Nam Ninh khi đó thuộc tỉnh Hà Nam Ninh, nơi trung ương thí điểm phát triển cơ kí hóa nông nghiệp theo tinh thần Nghị quyết ĐH IV của Đảng.

[9] Ngành Cơ khí nông nghiệp học 5 năm nên họ ra trường vào tháng 10 hàng năm.

[10] Tên gọi tùy theo trường, có trường gọi Đề án tốt nghiệp, có trường gọi Báo cáo Tốt nghiệp…

[11] Tôi đã có 14 ghi chép liên quan đến thời gian từ 6-1980 đến 3-1981 khi chúng tôi học Sĩ quan dự bị và đi bộ đội. Tham khảo chi tiết tại mục dưới đây: https://lehuuanhghichep.blogspot.com/search/label/Nh%E1%BB%AFng%20ng%C3%A0y%20%C4%91%E1%BA%A7u%20qu%C3%A2n%20ng%C5%A9

 

Thứ Hai, tháng 1 26, 2026

Năm thứ 3 - Kết thúc lao động hướng nghiệp, rèn nghề và lao động công ích


1. Nhắc lại về lao động hướng nghiệp, rèn nghề

Như tôi đã ghi chép ở các bài trước, chúng tôi có 2 tháng lao động “hướng nghiệp” năm thứ nhất. Từ năm thứ 2 và thứ 3, mỗi kì có 1 tuần lao động “rèn nghề” – vị chi là một khóa học chúng tôi có 3 tháng đi lao động.

Lao động “hướng nghiệp” theo nghĩa là làm quen nghề nghiệp. Mặc dù toàn những công việc mà chúng tôi là con em nông dân nên không xa lạ gì nhưng quan trọng là nhờ đó chúng tôi quen thân nhau ở mức quan hệ xã hội “dân dã”, qua đó biết thêm được công việc lao động nông nghiệp ở nhiều vùng quê, củng cố thêm tình bạn bè. Ngoài ra như tôi đã kể là những ngày đi lao động hướng nghiệp đều được cấp thêm phần bánh mỳ “bồi dưỡng” nên bớt cái đói trong những tháng đầu tiên xa nhà.

Lao động “rèn nghề” nghĩa là rèn luyện nghề nghiệp. Thuật ngữ “rèn” còn mang nghĩa “tôi luyện” trong nghề (nhưng thực tế chỉ là phổ thông). Với con em nông dân như tôi thì công việc lao động chưa ăn thua gì so với hồi lao động ở quê nhà. Chỉ là chuyện giải quyết thời vụ những mùa cấy hái ở Trại Thực tập thí nghiệm nhưng chúng tôi đều cảm thấy thân thiết nhau hơn trong lao động. Chẳng hạn, chuyện bị mất trộm dép hôm đi lao động đã được lớp quan tâm lo lắng để không bị mất thêm và còn tính chuyện “mồi” để rình bắt nếu bọn xấu còn dám trộm lần nữa.

Riêng chuyện lao động năm thứ 3 là một kỉ niệm đáng nhớ. Lúc này thầy Chủ nhiệm khoa Phan Trọng Đỉnh đã cho các lớp nhận khoán. Chỉ là giao mỗi lớp một ruộng, giao mạ để cấy, tự lo làm cỏ, gặt đập, phơi và nộp thóc. Nhờ đó lớp đã phân công nhau tự quản một phần và kết quả cũng chỉ là trước khi về hè được bữa tổng kết liên hoan chung cả lớp rất vui vẻ.

Nhân nhắc đến thầy Đỉnh, tôi ghi thêm chuyện có lần nói về “thửa ruộng 4000 năm”“cánh đồng 20 năm” (HTX cơ bản năm 1960). “Thửa ruộng 4000 năm” là mỗi hộ được giao một số ruộng tương đương 5% số diện tích ở địa phương để tự sản xuất (miền Bắc gọi là diện tích để trồng rau xanh), 95% còn lại thuộc HTX. Nhưng số diện tích 5% này thực sự đã cứu sống nhiều triệu nông dân miền Bắc trong những năm kinh tế HTX tiêu điều và cả nước dồn sức cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sau này, có người nói cánh đồng HTX chẳng qua là cách tập trung của cải người dân làm ra vào một kho chung để lấy đi phục vụ cuộc chiến. Lấy từ một kho chung dễ hơn so với vào từng nhà vận động lấy đi. Xta-lin cũng đã làm thế với nước Liên Xô hồi nông trang tập thể. Một chuyện khác, thầy Đỉnh còn kể cho chúng tôi nghe: quê thầy nghèo lắm, có người sống đến 70 tuổi mà đến cách mạng tháng Tám năm 1945 mới biết đường là thứ ăn có vị ngọt!

2. Chuyện lao động công ích

Vào tháng 4-1978, chúng tôi được lệnh huy động đi lao động công ích 2 tuần. Hồi đó nghe nói tất cả các trường đại học ở Hà Nội đều phải đi. Riêng trường ĐHNN I đợt này chỉ có khóa 20 được huy động. Ban đầu chúng tôi cũng không rõ lao động công ích là làm gì, chỉ biết cần chuẩn bị đồ dùng cá nhân (màn, chiếu, quần áo) cho 2 tuần. Trường sẽ có xe đưa đi và đón về.

Chúng tôi trang bị gọn nhẹ lên đường. Xe đưa chúng tôi đến một ngôi đình làng khá rộng và đẹp từ phía đường Phan Đình Phùng rẽ vào. Sau này nói chuyện về chuyến lao động đó, bạn Giang đã nhớ ra đó là đình Làng Cót (còn gọi là đình làng Yên Hòa). Hơn 100 người 2 lớp KT20 được bố trí ngủ trong đình: trải chiếu trên nền gạch phía 2 bên chái và phía sau. Tôi nay không còn nhớ các chị nữ được bố trí ngủ ở đâu. Các ngành khác của Khóa 20 chắc cũng được bố trí ở đâu đó trong các làng.

Buổi chiều đó, anh Thắng - cán bộ phòng quản trị được trường giao đi quản lý - yêu cầu lớp đi làm chỗ vệ sinh, chỗ tắm giặt “dã chiến” phía khuôn viên khu vườn cây xa xa bên ngoài đình. Nhà trường còn cử cán bộ nhà bếp tổ chức nấu ăn tại đó cho số sinh viên và cán bộ đi lao động.

Thật ra chúng tôi không hiểu sao hồi đó người ta dám cho sinh viên vào ngủ trong đình làng, tổ chức nấu nướng, sinh hoạt ngay trong khuôn viên đình. Mặc dù đình làng khi đó trống vắng, chỉ có một ít đồ dùng ở khu ban thờ gian giữa và chúng tôi ăn ở cũng rất nghiêm túc, chỉ ngủ ở các gian chái và phía sau đình. Nay có dịp biết về đình làng Cót mới thấy cứ như đã dám phạm vào nơi linh thiêng mà khi đó không ai biết gì (xem thêm phụ lục về đình làng Cót ở bên dưới bài).

Hôm sau, chúng tôi được dẫn đi bộ đến công trường và được phát công cụ đào vét dòng sông Tô Lịch. Thì ra chuyến đi lao động công ích lần này cải tạo sông Tô Lịch cho Thủ đô, đoạn ngay gần cầu Giấy. Sông Tô Lịch lúc ấy phía bờ bên kia đường Láng không có đường, không có nhà dân mà vẫn còn là những ruộng và bãi hoang hóa. Người ta đo đạc và làm những cột tiêu cho chỗ đào nơi đắp. Một cái lạch bé tẹo mùa xuân gần như không có nước, nay chúng tôi phải đào vét thành một sông rộng mấy chục mét. Mỗi trường đại học được giao một đoạn sông tạo thành một công trường hàng nghìn người cùng lao động.

Nghi lễ hôm khai mạc có cờ, biểu ngữ giăng đầy một khúc sông. Công trường của ĐHNN I là một đoạn sông ngắn. Anh Thắng – cán bộ Phòng quản trị phụ trách, kiêm luôn cả quản lý nhân lực. Công việc chỉ đơn giản là đào đất, vận chuyển đất lên đắp thành bờ phía bên kia đường Láng bằng các công cụ thô sơ: xẻng, bốc tay, quang rổ sắt vận chuyển. Đại loại là lao động thủ công, lấy sức người là chính.

Mấy ngày đầu, mọi người làm không ra kỉ luật gì, cứ tà tà làm, khi được nhắc thì làm, không thì chống cuốc nói đủ chuyện “trên trời dưới bể”. Anh Nguyễn Ngọc Minh (tổ 1) nói một câu về kiểu lao động này cho đến nay tôi còn nhớ: cầm cuốc “giơ lên cò đậu, bổ xuống mối xông”. Thấy kiểu làm không hiệu quả này nên anh Thắng nghĩ là kiểu khoán: mỗi lớp được giao khối lượng công việc nhất định, làm xong có thể được về sớm. Năm 1978 có ngày 1-5 được nghỉ lại đúng vào thứ 2, nên nếu xong sớm về trước thì có thể tranh thủ về quê nghỉ luôn 3-4 ngày. Từ khi khoán, công việc được bố trí tốt và mọi người hăng hái hơn. Tuy nhiên cũng xảy ra vài việc cãi cọ giữa anh Thắng với anh Nguyễn Lâm V trong lớp. Chuyện cãi cọ qua lại to lớn một hồi giữa công trường, về sau anh Thắng đã có cách giải quyết rất êm thấm. Mãi sau này tôi mới biết anh Thắng[1] vốn là sĩ quan quân đội chuyển ngành, người từng trải rất nhiều kinh nghiệm.

Việc ăn uống tại đình làng thì cũng không có gì đáng nói, kiểu sống dân công tạm bợ này bản thân tôi đã từng tham gia ở địa phương trong những ngày chờ vào đại học. Khổ nhất là nước tắm, người ta kéo đường ống nước máy đến, nhưng quá đông người có nhu cầu cùng lúc nên đợi nhau khá vất vả. Các buổi tối và chủ nhật được nghỉ đi chơi tự do, nhưng chỉ có 1 chủ nhật nên mọi người đi chơi cả, còn các tối thì tôi không thấy mấy ai rủ nhau đi lại.

Chuyện lao động công ích cũng không có gì đáng nói. Ý nghĩa cao xa của nó thì không đáng ghi ơn, chỉ là có hoạt động chứ kết quả chưa ra gì vì hôm chúng tôi về mà công trường cũng chỉ thấy nham nhở không ra hình thù gì cả. Chắc sau này các đơn vị khác tiếp quản sửa sang thêm. Tuy vậy, nhờ khoán việc nên cơ bản chúng tôi làm xong sớm hơn 1 ngày.

3. Vài chuyện còn nhớ trong chuyến lao động công ích

·        Chuyện “một xô, một chổi, một đường tình”

Chiều hôm mới đến tập trung, mọi người được phân công đi làm nơi tắm giặt, vệ sinh “dã chiến”. Vì nơi ở có cả nam và nữ nên công việc phải làm cho hai phía riêng biệt nhau. Khi cơ bản đã xong việc, tôi đã vào trong đình thì nghe bên ngoài mọi người chạy về cười rất lớn. Thì ra có chuyện mấy anh em nam trong lớp bị ai đó lừa đi nhầm vào khu vệ sinh nữ. Anh ta vô tư mang theo cái xô, cái chổi đi vào quét dọn và hình như gặp ai đó phái nữ bên trong. Biết bị lừa nên quay ra và bị một nhóm trêu cười rộ lên. Từ hôm đó lớp KT20A có câu chuyện - “một xô, một chổi, một đường tình”. Năm 2024, khi một nhóm KT20A đi du lịch ĐBSH, anh Mai Thế Lương vẫn còn nhắc lại chuyện này.

·        Bị trêu ông thầy bói

Hôm chủ nhật tôi đi bộ xuống Bờ Hồ lượn một vòng, tôi mua được cái kính dâm nhựa 3đ của mấy ông bán dạo. Hôm sau đi gánh đất đeo cái kính dâm màu xanh tím bị mấy anh em trêu chọc giống ông thầy bói nên không dám đeo nữa.

Hồi đó lớp đang học môn Thống kê nông nghiệp nên khi tôi nghe anh em kể chuyện người ta thực hiện kê khai nhân khẩu ở một quê nào đó. Cán bộ thống kê không sao xác định được nhân khẩu trong xóm. Số là nhiều gia đình trong xóm có những người đi buôn bán xa nhà, có hôm không về nhà ngủ. Người đi xác nhận thấy không có nhà thì không đếm, nhưng hôm sau kiểm tra thì lại có. Thế là chuyện thống kê nhân khẩu theo quy định cứ nhùng nhằng không xác định được. Tôi bảo rằng đó là quy định tránh “hiện tượng tính trùng” trong thống kê. Nghe tôi nói thế mọi người bảo ông thầy bói này bịa ra từ mới. Tôi bảo đó là thuật ngữ môn thống kê chúng ta đang học mà cô Thanh dạy chứ không phải tôi bịa. Mọi người khi đó bảo tôi: “Ông thầy bói nhớ được chuyện môn học, đưa vào đây là rất sáng tạo”.

·        Chuyện thuê bánh mỳ vác đất hộ nhau

Bạn G còn kể một chuyện nhân nhớ về thời ấy: Có anh N.Đ.Ch đã nhờ Giang vác đất hộ và được mua cho cái bánh mì. Ch. đi mua bánh, còn G thì vác hộ phần đất của Ch. Chuyện này tôi vẫn còn nghe mỗi khi 2 người gặp nhau ở những dịp họp lớp sau này. Thực hư không rõ, nhưng khi đó thanh niên đi lao động thì rất đói, lại vào năm 1978 đang là cao điểm khó khăn nhất hồi sinh viên, là khi đất nước đang “Lụt Bắc lụt Nam. Máu đầm biên giới[2]…”.

·        Chuyện ghê sợ tại hiện trường lao động

Một chuyện tôi rất nhớ và đến nay vẫn còn cảm giác ghê sợ. Khi đào vét ở bên sông Tô Lịch, chúng tôi thỉnh thoảng gặp những xương cốt đã lâu ngày vỡ vụn hoặc đã mềm nên xẻng đất đào qua thì khúc xương gắn dính vào hòn đất. Cứ chuyền tay nhau hoặc cho vào gánh cũng không nghĩ ngợi gì lắm vì khi đó không rõ đó là xương gì. Một đêm mưa rào lớn, sáng ra đi làm, anh Trác (lớp KT20B) nhặt được cái sọ người còn bộ xương răng hàm trên. Có người hoảng sợ bỏ chạy hoặc không dám nhìn. Anh Trác cầm lên nhìn bộ răng và nói: “Đây là người chết còn rất trẻ vì hàm răng còn nguyên và rất đều đặn. Có lẽ người ta đã chôn khi anh ta chết đói năm 1945”. Còn nhiều bộ xương nữa hiện rõ sau trận mưa rào. Rõ ràng người ta đã chôn nhiều người chết ở đây mà không có hòm ván gì. Hồi chúng tôi lao động không mê tín gì nên chẳng ai làm thủ tục gì khi gặp những bộ xương rải rác trong công trường[3]. Nghĩ đến bờ sông hoang vắng xưa rất có lẽ là nơi vứt xác hàng nghìn người chết đói năm 1945 hoặc những trận đánh nhau của những người lính năm xưa trên sông Tô Lịch được vứt lên bờ… Ôi xác thân những người đã mất không danh phận, không thông tin thờ cúng. Đáng thương thay!

·        Chuyện đổi tiền 3-5-1978

Thế là chiều thứ 6 được về sớm 1 ngày vì nhờ khoán nên vượt năng suất lao động. Nhiều người tranh thủ về quê thăm gia đình vì ngày 1-5 năm 1978 lại là ngày thứ 2. Thế là có tới 4 ngày nghỉ. Tôi cũng tranh thủ về quê 4 ngày. Đến ngày 2-5 định đi thì nghe nói sắp đổi tiền. Sáng 3-5 người ta đổi tiền thật. Hồi đó chuyện đổi tiền bị lộ thông tin, chúng tôi ở miền quê mà còn biết trước cả 1 ngày. Gia đình tôi cũng như nhiều gia đình khác khi đó không có đủ tiền để đổi theo tiêu chuẩn gia đình nông thôn. Thì ai có bao nhiêu đổi bấy nhiêu. Đây là lần đổi tiền thứ 5[4] của Chính phủ, nhưng là lần đổi thống nhất một loại tiền sau khi thống nhất đất nước.

Sáng 4-5 tôi đi tàu ra Hà Nội và được tiêu những đồng tiền đầu tiên sau khi đổi. Mệnh giá mới nên tiêu cứ thấy tiếc lắm, tiêu mất những đồng tiền giấy mới đầu tiên sau khi đổi.

Sau khi về trường mới biết có chuyện một số sinh viên KT20B bị kỉ luật vì do không về quê nên được nhà trường huy động đi đổi tiền. Có người còn bị “đúp” xuống khóa 21 vì chuyện này. Hồi đó chuyện đổi tiền bị lộ sớm nên những người có nhiều tiền đã kịp gửi cho người khác đổi hộ. Có lẽ mấy anh em KT20B dính vụ này.

*

*   *

Thế là hết những công việc năm thứ 3. Tôi ghi chép chuyện về lao động công ích như bài kết thúc một năm học. Từ những mẩu chuyện về cả năm học cho đến các ghi chép nói về từng môn học, từng người thầy dạy đã qua gần 50 năm rồi mà lại thấy như còn mới lắm. Cái thời gian khó bên nhau đúng là thật nhiều kỉ niệm – mà toàn kỉ niệm vui vẻ, may mắn.

 

 

Phụ lục: Một vài thông tin về đình Làng Cót[5].

Làng Cót hay Kẻ Cót là tên Nôm của hai làng Yên Quyết có từ lâu đời, là Thượng Yên Quyết (ở phía Bắc) và Hạ Yên Quyết (ở phía Nam), đều nằm bên bờ phải sông Tô Lịch. Về sau được lấy làm tên gọi cho làng Hạ Yên Quyết tức làng Bạch Liên Hoa, còn làng Thượng Yên Quyết sau đổi gọi là làng Giấy, do có nghề truyền thống là sản xuất giấy. Cả hai làng Yên Quyết sau thuộc phường Yên Hòa, quận Cầu GiấyHà Nội, nằm ven sông Tô Lịch đoạn từ Cầu Giấy đến gần cầu Trung Kính.

Làng Yên Quyết, với cái tên Kẻ Cót vốn xưa có từ lâu đời. Đến thời nhà Lý, nơi đây gắn liền với câu truyện lịch sử nhuốm màu huyền thoại: đó là cuộc thi đấu pháp thuật, ân oán giữa pháp sư Từ Đạo Hạnh (người làng Láng hay Yên Lãng), nhưng quê mẹ làng Cót (Yên Quyết) và Lê Đại Điên (người làng Yên Quyết) trong việc đầu thai làm thái tử nhà Lý. Đến thế kỷ 13, thời Lý - Trần, cùng với việc du nhập nghề làm giấy, làng Cót phát triển thành hai vùng với sự phân công lao động trong nghề giấy truyền thống. Nửa trên của làng về phía bắc gần cầu Giấy chuyên nghề làm giấy từ nguyên liệu là vỏ cây dó. Nửa làng dưới nằm ở phía Nam bắt đầu từ cầu Cót trở xuống chuyên làm một thứ sản phẩm là đầu ra của nghề giấy: đó là nghề làm vàng mã. Dần dần, từ một làng Yên Quyết-Kẻ Cót, tách thành hai làng Thượng Yên Quyết (Cót Thượng sau gọi là làng Giấy) và Hạ Yên Quyết (Cót Hạ vẫn được giữ tên gọi là làng Cót). Và cũng chính vì có nghề làm giấy ở làng Thượng Yên Quyết, cũng có ở làng Tiền Dịch Vọng kề bên (nằm ở phía Bắc) mà cây cầu ở gần giáp ranh giữa hai làng Thượng Yên Quyết và Tiền Dịch Vọng mới được gọi là Cầu Giấy.

Làng Cót-Hạ Yên Quyết ở gần kinh đô xưa, là một bến thuyền bên dòng Tô Lịch, nên kinh tế khá phát đạt với nhiều nghề thủ công, buôn bán. Làng Cót Hạ là một vùng đất cổ, với di vật khảo cổ được tìm thấy năm 1978, có niên đại khoảng 2000 năm. Đó là một ngôi mộ cổ bằng thân cây khoét rỗng cùng nhiều đồ tùy táng, nằm bên bờ sông Tô Lịch. Làng Cót từ xưa đã có một chế độ khuyến học thỏa đáng: làng dành ra 3 mẫu ruộng Lộc thư điền, cùng 100 quan tiền, để làm phần thưởng cho người đỗ tiến sĩ. Ngoài ra theo lệ làng, dân làng còn thưởng ruộng cho cả những người đỗ cử nhân nho học, tú tài nho học. Nhờ đó, mà làng có tới 10 tiến sĩ nho học và gần 30 hương cống thời Hậu Lê và 9 cử nhân thời Nguyễn.

Làng Cót hiện còn ngôi đình dựng lại vào năm Minh Mạng thứ 13 (1832) cùng với 5 ngôi miếu, đình làng thờ 5 vị thần trong đó có Cao Sơn đại vương, thần bản thổ. Làng có chùa Ngọc Quán, dựng năm Dương Hoà 8 (1642), hiện còn quả chuông đúc năm Cảnh Thịnh 8 (1800). Ngoài ra, còn có nhà thờ của dòng họ các Tiến sĩ Hoàng Quán ChiNguyễn Như UyênNguyễn Xuân Nham – là biểu tượng cho truyền thống học hành thành đạt của người làng...

 



[1] Chuyện anh Thắng tôi sẽ có dịp kể thêm trong một ghi chép khác. Đây là một người rất thông minh và sáng tạo trong chiến tranh và cuộc sống.

[3] Hiện nay, tại các công trường, mỗi khi gặp một bộ xương hay tiểu cốt, người ta thường hương khói và làm thủ tục đưa đến nơi khác một cách thành kính trang nghiêm.