Thứ Bảy, tháng 8 22, 2026

Vài nét chấm phá về anh Khuất Cao Nội


Chúng tôi có nhiều kỉ niệm khó quên với anh Khuất Cao Nội ở Tổ 1 lớp KT20A ĐHNN I. Anh học khóa 14 thì phải (tôi chưa có điều kiện kiểm tra lại) rồi xung phong đi bộ đội từ trường ĐHNN I. Thời gian thì khóa 14 vào trường là năm 1969, tức là anh hơn chúng tôi khoảng 6-7 tuổi. Hồi vào trường anh học ngành kĩ thuật, không phải ngành kinh tế nông nghiệp. Một lần tôi nghe anh nói khi trở lại trường thì người ta khuyên các anh đi bộ đội về nên chuyển sang học ngành kinh tế nông nghiệp vì tuổi cao hơn sẽ có kinh nghiệm chỉ đạo, quản lý kinh tế. Anh Nội cũng như đa số anh em bộ đội trở lại học đều chuyển sang ngành kinh tế nông nghiệp[1].

Sau này một lần tôi có dịp vào thăm nhà truyền thống của trường, tình cờ tôi nhìn thấy một kỉ vật rất quý giá: đó là lá quốc kì lưu chữ kí của sinh viên nhà trường đi bộ đội. Trên lá cờ đó tôi bỗng nhận ra một chữ kí kiểu phiên tên tiếng Nga: Хуаmжяhой (tức Khuất Gia Nội). Hồi mới học tiếng Nga, nhiều người thích chuyển tự sang tiếng Nga theo cách đọc gần đúng nhất trong bảng chữ cái Cyrillic. Trong chữ ký của anh, chữ X kéo rất dài nét thứ nhất, đúng ra thì жя nên phiên thành Зя, nhưng cũng có thể phiên жя cho nặng âm lên. Anh nói tên anh cũng có khi dùng Cao Nội, cũng có khi dùng Gia Nội. Thật vinh dự cho anh và đồng đội anh năm xưa còn lưu được chữ kí trên lá cờ Tổ quốc ở ĐHNN I trước khi lên đường đi chiến đấu.

Thứ Ba, tháng 8 11, 2026

Phác thảo về chân dung anh Nguyễn Đăng Hợp (kì 2)

 

2/ Anh Hợp và các hoạt động của lớp

Anh Hợp là người chịu khó tìm gặp được nhiều anh chị em trong lớp KT20A mỗi khi anh có điều kiện công tác. Đây là điều rất đáng quý bởi anh như người lớp trưởng năm xưa luôn quan tâm đến sự trưởng thành của mỗi người trong lớp và tạo ra sự liên lạc của mọi người với nhau. Anh kể với tôi anh đã đến thăm anh Mai Quỳnh Quốc ở Lạng Sơn, chị Hoàng Thị Khánh ở Ninh Bình và rất nhiều người khác trong lớp.

Có lẽ tôi không thể nói hết được những quan tâm của anh đối với lớp. Tập thể lớp KT20A - một tập thể giàu tình nghĩa là ấn tượng của anh với mọi người và mọi người với anh. Mọi thành viên KT20A hãy liên tưởng đến quan hệ với anh để có dịp nói thêm các kỉ niệm về anh.

Các lần tổ chức gặp mặt khóa 20 ngành kinh tế nông nghiệp, anh đều chủ trì với ý thức chuẩn bị rất kĩ. Anh cũng thường trao đổi với tôi và các anh em đang công tác ở trường về tổ chức gặp gỡ. Anh muốn tổ chức cuộc gặp gỡ có cả KT20A và KT20B tham gia nhưng mấy lần không thành vì anh em lớp KT20B về không đông đủ như KT20A. Vả lại, hình như anh Khương, anh Hồng, anh Long… cho rằng tổ chức theo lớp thuận lợi hơn.

Phác thảo về chân dung anh Nguyễn Đăng Hợp (kì 1)


Nếu kết thúc các ghi chép về những năm tháng đại học của tôi thì có thể còn vài day dứt. Tôi thấy cần phải ghi chép thêm phác thảo chân dung qua những kỉ niệm với một số người trong lớp. Sau khi ra trường tôi có nhiều dịp gặp lại các anh chị em trong lớp KT20A, lại bổ sung thêm những tình cảm và nhận thức mới về tình bạn bè trong cuộc sống có yếu tố gắn bó từ những ngày ở lớp KT20A đại học.

Anh Nguyễn Đăng Hợp là lớp trưởng đầu tiên của KT20A (sau đó anh Nguyễn Đình Chình thay khi anh bận công việc gia đình nên xin ở ngoại trú KTX). Tôi không dám viết chân dung đầy đủ về anh vì dù rất quen thân với anh nhưng một chân dung đầy đủ phải đi từ gia thế, xuất thân, cuộc sống, sự nghiệp, các giá trị ảnh hưởng của anh với mọi người và xã hội... Tôi chỉ phác thảo vài nét chân thực về anh qua những kỉ niệm của tôi với anh, qua cảm nhận của tôi với những hoạt động của anh với lớp. Một phác họa mộc mạc về người lớp trưởng đại học đầu tiên của chúng tôi.

Thứ Sáu, tháng 8 07, 2026

Thẳng thắn nhìn lại quá trình đào tạo đại học

 

1. Trở thành người lao động trí óc gần gũi với đội ngũ lao động chân tay

Trong quá trình liệt kê hoạt động đào tạo và cuộc sống sinh viên qua các ghi chép, tôi đã lấy trọng tâm vấn đề là kết quả chúng tôi đã đạt được trong cái thời gian nan ấy – đó là những gì chúng tôi đã vượt qua các rào cản để nhằm mục tiêu biên chế, kiếm cơm, phục vụ suốt đời… Tôi thích nhấn mạnh việc chúng tôi thành kĩ sư chứ ít nói đến việc chúng tôi thành đội ngũ trí thức trong xã hội.

Trở thành kĩ sư theo nghĩa chúng tôi được đào tạo thành người có thể cầm tay chỉ việc, biết hướng dẫn, biết phân tích, đánh giá kết quả của những người lao động chân tay. Chúng tôi chỉ khác họ chút ít: cùng một công việc, họ lao động bằng chân tay, còn chúng tôi sử dụng một phần trí óc. Cái gọi là “lao động bàn giấy” theo dõi, chỉ huy, ra lệnh cho người khác là mô hình chúng tôi trở thành và tất nhiên chúng tôi cũng “bị sự chỉ đạo” của tầng tầng lớp lớp những cấp bậc “lao động bàn giấy” bên trên đầu mình.

Chủ Nhật, tháng 7 26, 2026

Chúng tôi thi tốt nghiệp, trở thành kĩ sư kinh tế nông nghiệp

1. Về tính chất kì thi

Thi tốt nghiệp là công việc cuối cùng của quá trình đào tạo kĩ sư. Kì thi đánh giá kết quả tổng hợp để khẳng định sinh viên mình đủ điều kiện công tác trong thực tiễn. Đối với chúng tôi, trong 4 năm rưỡi đại học (có 2 lần thực tập giáo trình, 1 lần đi thực tế theo nhiệm vụ đột xuất, 6 tháng thực tập tốt nghiệp và khoảng 3 tháng lao động) thì đây là công việc quan trọng nhất.

Kì thi bắt đầu từ 20-4 đến 20-5-1980, nhà trường tổ chức thi như sau:

-         Thi môn Lí luận Mác – Lênin để đánh giá trình độ lí luận chung của người kĩ sư về chủ nghĩa Mác – Lênin và nhận thức về năng lực vận dụng chủ nghĩ Mác của Đảng trong thực tế cách mạng Việt Nam.

-         Bảo vệ thực tập tốt nghiệp – một kiểu bảo vệ đồ án tốt nghiệp. Thông qua 6 tháng thực tập ở cơ sở thực tiễn dưới sự hướng dẫn của giáo viên, một nội dung có tính chất khoa học nhất định được sinh viên đi sâu nghiên cứu và trình bày trước hội đồng. Các thành viên hội đồng sẽ kiểm tra chất lượng báo cáo qua nội dung làm được, qua cách trình bày, qua trả lời câu hỏi của sinh viên để đánh giá kết quả.

-         Thi môn Kĩ thuật nông nghiệp – chọn một số môn học về trồng trọt, chăn nuôi để thi. Đây là cách kiểm tra lại sự hiểu biết các kiến thức nông nghiệp đã học trước khi ra trường.

Thực chất cuộc thi là đánh giá tổng hợp 3 nội dung chính của người kĩ sư kinh tế: trình độ lí luận, chất lượng thực hành kĩ sư và nắm vững một số kiến thức nông nghiệp cơ bản trước khi ra trường.

Thứ Sáu, tháng 7 24, 2026

Những ngày chờ thi tốt nghiệp

Chúng tôi trở về trường từ cơ sở thực tập tốt nghiệp vào khoảng 10-3-1980. Ôn thi bắt đầu vào 20-4-1980 nên có khoảng hơn 1 tháng để chỉnh sửa báo cáo tốt nghiệp. Lúc này đa số anh em ở gần đều về quê để hoàn thiện báo cáo hoặc chờ thầy hướng dẫn góp ý rồi chỉnh sửa, do đó chỉ có rất ít người ở KTX. Ban KTX xếp các nam sinh viên KT20A và B ở phòng 4 tầng 1 nhà A1, nhưng tính ra cũng chỉ dăm người cả hai lớp.

Trong phòng có anh Nguyễn Mạnh Đ. lớp KT20B rất hay chuyện. Chuyện anh kể sự vui tếu thời đi bộ đội lẫn những chuyện anh trải nghiệm. Trước khi đi ngủ, tối nào chúng tôi cũng được nghe anh kể để cười với nhau. Dưới đây là 3 câu chuyện rất đáng nhớ, nhớ rất lâu, rất kĩ. Khi nghe xong cũng chỉ là cười, nhưng tôi cũng tự nghĩ biết đâu mình có thể học hỏi, bắt chước. Nay đã 70 tuổi mà nội dung câu chuyện thì còn nhớ nguyên, nhưng chưa từng bắt chước để áp dụng cho mình lần nào – vì thế tôi gọi là chuyện dễ gì bắt chước được!

Thứ Sáu, tháng 7 17, 2026

Thực tập tốt nghiệp – công việc thực hành kĩ sư kinh tế nông nghiệp (kì 2)

6/ Công việc thực tập

6.1 Thu thập số liệu

Giáo viên hướng dẫn là thầy Quý không nêu nội dung cụ thể gì cần phải làm nên tôi và anh Đĩnh phải chọn cho mình nội dung nghiên cứu. Về định hướng chung thì anh Đĩnh chọn nội dung cơ giới lớn, còn tôi là cơ giới nhỏ.

Công việc cơ giới lớn lúc bấy giờ là do Trạm Máy kéo quyết định gồm việc dùng máy kéo lớn để làm đất, vận chuyển. Ngoài ra còn có các trạm bơm tưới tiêu lớn tại huyện Hải Hậu. Tuy nhiên khi thực hiện sau này thì anh Đĩnh chỉ tập trung vào 2 việc lớn là làm đất và vận chuyển bằng máy kéo, chủ yếu bằng máy kéo MTZ của Liên Xô. Số liệu sử dụng cho đề tài phần anh Đĩnh thì ở Trạm Máy kéo đã rất đầy đủ. Toàn bộ kế hoạch năm 1979 đã có sẵn trong các hợp đồng giữa Trạm và tất cả các HTX trong huyện, còn kế hoạch năm 1980 thì cũng đã có vì Trạm vừa tổ chức hội nghị khách hàng với các HTX.

Thứ Ba, tháng 7 14, 2026

Thực tập tốt nghiệp – công việc thực hành kĩ sư kinh tế nông nghiệp (kì 1)

1/ Một cách trải nghiệm thực tiễn trước khi tốt nghiệp đại học

Thời chúng tôi đi học, kĩ sư kinh tế (người thầy về kĩ nghệ) phải trả qua 4 năm học lí thuyết theo chương trình được thiết kế gồm kiến thức cơ bản, kiến thức cơ sở và chuyên môn, rèn luyện thực hành, trải nghiệm độc lập quan sát thực tế bằng những đợt lao động, thực tập giáo trình. Người ta thiết kế đào tạo kiểu người kĩ sư như là một nhân vật phải hiểu biết chung chung nhưng toàn diện, nắm được thực tiễn từ khi còn trong nhà trường để học xong là có thể đảm đương công việc với khả năng tự giải quyết các vấn đề trong công tác.

Thật ra, cách học này theo đánh giá ngày nay thấy có quá nhiều thiếu sót, hạn chế. Cách đào tạo đó làm sao thành được người tài năng trước thử thách phức tạp của cuộc sống. Nhưng dưới chế độ “bao cấp xã hội chủ nghĩa” thì đây là cách kiếm cơm áo lương thiện, không vụ lợi. Tuy rất ít cơ hội thăng tiến nhưng cơ bản bảo đảm mức sống dưới trung bình của xã hội và quan trọng nhất con người vẫn còn lương tri, còn niềm tự hào, còn tinh thần cống hiến và sự hài lòng với cuộc sống trong đội ngũ trí thức đương thời.

Thứ Hai, tháng 6 15, 2026

Chuyến đi thực tế KT20 về Hải Hậu, Hà Nam Ninh

 

a/ Một phát sinh chương trình “đột xuất”

Trong khóa 20, đây là một kế hoạch phát sinh trong chương trình đào tạo. Nếu đi lao động công ích (như hồi năm thứ 3) thì cơ bản cũng đã có kế hoạch trong toàn khóa, nhưng đi chuyến này của chúng tôi là một phát sinh “đột xuất” vì việc thực tập giáo trình theo chương trình đã hoàn thành và chúng tôi đang học những tuần cuối kỳ 2 năm thứ 4 để nghỉ hè lên là đi thực tập tốt nghiệp.

Phải nói thêm về công việc chuyến đi này: sau ĐH IV (1976), Đảng ta có chương trình cơ giới hóa nông nghiệp toàn quốc (theo mô hình Lê Duẩn). Năm 1977, Đảng ta chọn tỉnh Hà Nam Ninh làm thí điểm cơ giới hóa nông nghiệp, trong đó trọng tâm là huyện Nam Ninh. Có người gọi huyện Nam Ninh là nơi “thử trái bom” cơ giới hóa nông nghiệp. Tuy nhiên các huyện khác của Hà Nam Ninh đều là những trọng điểm đầu tư cơ giới hóa. Sau Nam Ninh là Hải Hậu và nhiều huyện khác…

Giai đoạn này thầy Lê Duy Thước, Hiệu trưởng ĐHNNI đang có nội dung nghiên cứu khoa học rất lớn là Chương trình điều tra kinh tế xã hội Tây Nguyên. Trường đã huy động nhiều giáo viên và sinh viên toàn trường tham gia. Khóa 17 được huy động hầu hết tham gia nhiệm vụ điều tra Tây Nguyên, thậm chí công nhận đặc cách tốt nghiệp cho những sinh viên học xong chương trình năm thứ 4 mà không phải thi tốt nghiệp. Khóa 18 và 19 cũng có nhiều người còn tham gia chương trình. Trong ngành Kinh tế nông nghiệp, các lớp KT17 có rất người người được cử vào chương trình Tây Nguyên, được công nhận ngay là “kĩ sư đặc cách”. Đến khóa 20 thì chương trình Tây Nguyên kết thúc nên không huy động sinh viên nữa. Nhưng chúng tôi lại có cơ hội được huy động vào việc tìm hiểu cơ giới hóa nông nghiệp ở Hải Hậu.

Thứ Bảy, tháng 5 16, 2026

Năm thứ 4 – Những môn học cuối cùng


Các năm học trước, tôi đã lần lượt ghi chép theo tên những môn học trong các kì hoặc theo nhóm môn học được dạy lên tiếp trong nhiều kì (như ngoại ngữ, thể dục, quân sự…). Dưới đây là ghi chép 4 môn học cuối cùng ở năm thứ tư để tạm dừng những kí ức trên ghế giảng đường trong quãng đời đại học của chúng tôi. Chuyện nhớ nội dung môn học nhiều hay ít cũng tùy theo từng môn, nhưng tôi thấy quan trọng hơn là những kí ức sâu lắng về những thầy, cô giảng bài. Lại cứ như thấy các thầy, cô đang hiển hiện trên giảng đường và chúng tôi - những sinh viên nghèo, đói khổ đang nghiêm túc dõi theo những điều các thầy, cô dạy. Tất cả đã thành những kỉ niệm. Các sinh viên xưa nay đã trở thành các ông, các bà, đa số đã không còn nhớ nữa. Tôi vẫn muốn dành chút suy tưởng để ghi chép về một thời không rực rỡ cho lắm nhưng không thể nói là “vô bổ” hay không đáng tự hào!

Thứ Hai, tháng 4 27, 2026

Năm thứ 4 – môn học Chăn nuôi cơ bản và Thú y cơ bản


Chúng tôi được học kiến thức ngành chăn nuôi

Cuối cùng rồi chúng tôi cũng được học một chút đại cương về ngành chăn nuôi. Chăn nuôi vốn là thế mạnh trong đào tạo của ĐHNN I.

Ngành chăn nuôi là có từ khi thành lập trường (1956). Như tôi đã ghi chép trong một bài từ năm thứ nhất, trường có hẳn một khu chăn nuôi gọi là Trại Quang Trung[1] và 1 Bệnh viện Thú y do Liên Xô xây (lớn nhất Đông Nam Á). Duy có lần được tham quan và nghe giới thiệu hồi lao động hướng nghiệp năm thứ nhất, chúng tôi chưa có hoạt động nào liên quan đến ngành chăn nuôi. Về ngành trồng trọt thì nhiều: trồng cây trong khu vườn quả, cấy lúa ngoài khu Trại TTTN và được học hàng chục loại cây trồng nông nghiệp… Rõ ràng là kiến thức trồng trọt vẫn được ưu tiên hơn trong đào tạo kĩ sư kinh tế.

Tôi nghĩ người ta sắp xếp như vậy chắc cũng có ý định vì nền kinh tế khi đó có cơ cấu ngành trồng trọt lớn hơn ngành chăn nuôi rất nhiều. Học xong kiến thức các môn cây trồng thì đến năm cuối mới học chăn nuôi và thú y. Cách học này bảo đảm cho các kì năm thứ 3 trở đi luôn có môn học không phải chuyên môn kinh tế - có thể là cách làm cho sinh viên cho đỡ nhàm chán hơn khi phải cả kì chỉ học các môn chuyên môn nhạt nhẽo.

Thứ Hai, tháng 4 13, 2026

Năm thứ 4 – Học môn Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp (post kì 2)

 Nội dung học ở kì 2

Vào kì 2, môn học có tới 3 giáo viên giảng bài.

·       Nghe thầy Liễm dạy

Phần chuyên môn ở kì 2 môn học này chủ yếu do thầy KS Nguyễn Liễm dạy. Các chương quan trọng nhất thầy Liễm dạy là Tổ chức lao động; Tổ chức quản lý sản xuất ngành Trồng trọt; Tổ chức quản lý sản xuất ngành tiểu thủ công nghiệp; Tổ chức phân phối sản phẩm nông nghiệp… 

Thứ Bảy, tháng 4 11, 2026

Năm thứ 4 – Học môn Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp (post kì 1)

 

Đây là môn học trọng tâm trong chương trình đào tạo kĩ sư kinh tế nông nghiệp - môn học kéo dài cả 2 kỳ trong năm thứ 4, có tới 240 tiết học. Đó là chưa kể có tới 8 tuần đi thực tập khu vực NTQD kiểm chứng lại thực tiễn các nội dung đã học. Thời đó cái gì đã có trong thực tiễn thì cũng có trong giảng dạy. Học xong ra trường là làm được việc ngay. Kiến thức học không xa xôi viễn vông, chỉ cơ bản là các nội dung hướng dẫn người kĩ sư trong thực hành công việc của mình. Hơn nữa, qua rà soát các chương trình thực tập giáo trình, giáo viên có thể điều chỉnh nội dung giảng dạy hoặc cập nhật các thay đổi kiến thức mới.

Tuy nhiên kiểu dạy này có nhiều cái không hay: tính lí luận yếu, phần lớn học theo các chế độ, chính sách, quy định cứng nhắc. Mỗi khi có chính sách mới là hàng loạt nội dung học bị lạc hậu, lỗi thời. Các chính sách thì luôn thay đổi nên kĩ sư ra trường vài năm là mất hết các thứ đã học trong trường, phải tự cập nhật tình hình để làm việc. Bản thân giáo viên đôi khi cũng không kịp cập nhật chế độ, chính sách nên bị lạc hậu so với thực tiễn ngay từ khi dạy cho sinh viên trong nhà trường.

Thứ Sáu, tháng 4 03, 2026

Năm thứ 4 và năm thứ 5 – “nốt lặng” một thời đại học

 

Tôi sẽ dành nhiều thời gian để ghi chép những sự kiện về cuộc sống sinh viên ở năm thứ 4 và 6 tháng của năm thứ 5 đại học mà chúng tôi trải nghiệm, nhất là những lắng đọng sâu sắc mà chúng tôi được vui sống bên nhau. Đây là những năm tháng tôi thật sự được sống với sự háo hức học hỏi, cảm nhận và cho đến nay vẫn thấy hồi đó mình đã có rất nhiều giá trị thu hoạch được.

Cũng nói luôn về những điểm rất yếu của chúng tôi thời đó – rất ít chuyện ái tình, rất ít chuyện thể hiện hơi thở thời cuộc của “trí thức” - chỉ thực tế là nhiều chuyện thời đói cơm thiếu áo, ít lí tưởng hoài bão cao xa. May mắn là vẫn còn giữ được chân chất hồn quê trong mỗi con người.

Thứ Hai, tháng 1 26, 2026

Năm thứ 3 - Kết thúc lao động hướng nghiệp, rèn nghề và lao động công ích


1. Nhắc lại về lao động hướng nghiệp, rèn nghề

Như tôi đã ghi chép ở các bài trước, chúng tôi có 2 tháng lao động “hướng nghiệp” năm thứ nhất. Từ năm thứ 2 và thứ 3, mỗi kì có 1 tuần lao động “rèn nghề” – vị chi là một khóa học chúng tôi có 3 tháng đi lao động.

Lao động “hướng nghiệp” theo nghĩa là làm quen nghề nghiệp. Mặc dù toàn những công việc mà chúng tôi là con em nông dân nên không xa lạ gì nhưng quan trọng là nhờ đó chúng tôi quen thân nhau ở mức quan hệ xã hội “dân dã”, qua đó biết thêm được công việc lao động nông nghiệp ở nhiều vùng quê, củng cố thêm tình bạn bè. Ngoài ra như tôi đã kể là những ngày đi lao động hướng nghiệp đều được cấp thêm phần bánh mỳ “bồi dưỡng” nên bớt cái đói trong những tháng đầu tiên xa nhà.

Lao động “rèn nghề” nghĩa là rèn luyện nghề nghiệp. Thuật ngữ “rèn” còn mang nghĩa “tôi luyện” trong nghề (nhưng thực tế chỉ là phổ thông). Với con em nông dân như tôi thì công việc lao động chưa ăn thua gì so với hồi lao động ở quê nhà. Chỉ là chuyện giải quyết thời vụ những mùa cấy hái ở Trại Thực tập thí nghiệm nhưng chúng tôi đều cảm thấy thân thiết nhau hơn trong lao động. Chẳng hạn, chuyện bị mất trộm dép hôm đi lao động đã được lớp quan tâm lo lắng để không bị mất thêm và còn tính chuyện “mồi” để rình bắt nếu bọn xấu còn dám trộm lần nữa.

Thứ Hai, tháng 1 19, 2026

Chuyện năm thứ 3 – Học các môn Cơ khí nông nghiệp, Toán xác suất và Thực hành công cụ tính


Ở kỳ thứ 2 năm thứ 3 chúng tôi vẫn được học những môn học đã được thiết kế và bổ sung mới trong chương trình đào tạo. Tôi thấy cũng nên chép lại cho hết những ký ức còn vương vấn. Thực chất của môn học này không có nhiều kỷ niệm và cũng không được áp dụng nhiều kiến ​​thức trong công việc của tôi sau này.

Thứ Hai, tháng 1 12, 2026

Năm thứ 3 - Những môn học đầu tiên về chuyên môn nghiệp vụ của kĩ sư kinh tế nông nghiệp (kì 4)

 Chuyến đi thực tập giáo trình lần thứ nhất – khối HTX

 Vào giữa tháng 4-1978, chúng tôi được huy động đi lao động công ích cải tạo sông Tô Lịch 2 tuần. Đầu tháng 5 về học thêm 2 tuần thì đi thực tập giáo trình lần thứ nhất – khối HTX sản xuất nông nghiệp. Thực tập liên quan đến nội dung hai môn học Thống kê nông nghiệpKế toán nông nghiệp. Ngoài ra môn Kinh tế nông nghiệp cũng có nội dung tìm hiểu, nhưng vì môn học này đã thi xong từ kì 1 nên không thu hoạch được điều gì đáng kể. Dưới đây là những chuyện liên quan đến lần đi thực tập của nhóm của tôi tại xã Cổ Bi, Gia Lâm, Hà Nội.

Thứ Năm, tháng 1 08, 2026

Năm thứ 3 - Những môn học đầu tiên về chuyên môn nghiệp vụ của kĩ sư kinh tế nông nghiệp (kì 3)

 Học môn Kế toán nông nghiệp

Môn học được thiết kế 120 tiết, học ở kì 2 năm học 1978-1979 (năm thứ 3). Giáo viên giảng dạy là PTS[1] Nguyễn Quang Thoại.

Thầy Thoại đi học ở Liên Xô từ thời thiếu sinh quân, sau đó học tiếp lên đại học. Thầy về trường ĐHNN I làm cán bộ giảng dạy khoảng năm 1965-1966 gì đó, sau đó lại được cử đi học nghiên cứu sinh khoảng năm 1968-1971, bảo vệ luận án PTS khoảng năm 1971.

Thứ Ba, tháng 1 06, 2026

Năm thứ 3 - Những môn học đầu tiên về chuyên môn nghiệp vụ của kĩ sư kinh tế nông nghiệp (kì 2)

Học môn Thống kê nông nghiệp

Môn học được thiết kế 120 tiết, học ở kì 2 năm học 1978-1979 (năm thứ 3). Giáo viên giảng dạy là cô Kĩ sư[1] Đỗ Thị Ngà Thanh.

Cô Thanh học đại học từ Liên Xô về, nhưng ngày cô dạy chúng tôi thì không ai biết đó là giáo viên đã từng đi học ở Liên Xô bởi cô rất nghiêm nghị khi giảng bài, có cảm giác rất khó gần và luôn giữ khoảng cách với sinh viên rất đúng mực.

Chủ Nhật, tháng 12 28, 2025

Năm thứ 3 - Những môn học đầu tiên về chuyên môn nghiệp vụ của kĩ sư kinh tế nông nghiệp (kì 1)


Mở đề

Đến hết năm thứ 2, chúng tôi mới chỉ được học môn Địa lý kinh tế - “màn dạo đầu” để đi vào chuyên môn. Bắt đầu từ năm thứ 3, chúng tôi được học Kinh tế nông nghiệp (ở kì 1) và Thống kê nông nghiệp cùng Kế toán nông nghiệp (ở kì 2). Việc bố trí chương trình theo tôi là khá hợp lý: người ta đưa hết môn cây trồng vào kì 1, chỉ “nếm thử” Kinh tế nông nghiệp để kì 2 đủ sức “xơi” tiếp 2 môn chuyên môn: Kế toán nông nghiệp và Thống kê nông nghiệp. Môn Kinh tế nông nghiệp là nền tảng kinh tế khi đã “ngấm” vào đầu rồi thì có cơ sở để tiếp nhận các nghiệp vụ chuyên môn. Các anh KT18 nói với chúng tôi: kĩ sư kinh tế nông nghiệp chỉ cần vững 3 “món võ”: Thống kê, Kế toán và Kế hoạch là đi đâu cũng sống được. Chúng tôi tiếp thu kiến thức năm thứ 3 trên tinh thần rất háo hức vì coi đó là những gì cần thu hoạch để ra trường đi làm kiếm ăn, để tìm đường làm nên sự nghiệp của người kĩ sư kinh tế.

Thứ Ba, tháng 12 16, 2025

Kĩ sư kinh tế nông nghiệp được học những gì về cây trồng (kì 3)


Cây công nghiệp và rau quả

Chúng tôi có một nửa thời gian học môn Trồng trọt chuyên khoa gồm rất nhiều loại cây công nghiệp: nhóm cây công nghiệp lâu năm gồm chè và cà phê do thầy Nguyễn Ngọc Kính dạy (30 tiết), nhóm cây công nghiệp lưu niên gồm mía, cói do cô Đoàn Thị Thanh Nhàn dạy (30 tiết), nhóm cây công nghiệp ngắn ngày gồm lạc, đậu tương do thầy Lê Song Dự dạy (30 tiết).

Vào kì 2 năm thứ 3 còn có thêm môn Rau quả (45 tiết) gồm cà chua, bắp cải, su hào do cô Tạ Thị Thu Cúc và chuối, dứa do thầy Cao Anh Long dạy.

Thứ Ba, tháng 12 09, 2025

Kĩ sư kinh tế nông nghiệp được học những gì về cây trồng (kì 2)

Học về lúa – ngô – khoai lang


Môn học Trồng trọt chuyên khoa

Môn Trồng trọt chuyên khoa rất dài (180 tiết) với nhiều giáo viên dạy.

Phần cây lương thực (90 tiết) được học 3 cây: Thầy Giao dạy cây lúa (30 tiết), Thầy Bùi Thế Hùng dạy cây ngô (30 tiết) và Thầy Đinh Thế Lộc dạy cây khoai lang (30 tiết). Đây là 3 cây lương thực chủ yếu, phổ biến ở miền Bắc. Chúng tôi không được học về cây sắn và những cây cũng được coi là từng lương thực như khoai tây, khoai môn, khoai sọ, kê, dong riềng, thậm chí cả mít[1].

Về cây lúa, tôi còn nhớ thầy Giao người xứ Nghệ, dong dỏng cao, da trắng (có vợ tên Phương làm ở Văn phòng Khoa Kinh tế nông nghiệp). Thầy hiền lành, nói chậm, giọng xứ Nghệ nhưng rõ âm điệu nên dễ nghe.

Thứ Năm, tháng 12 04, 2025

Kĩ sư kinh tế nông nghiệp được học những gì về cây trồng (kì 1)

Mở đề

Chúng tôi được đào tạo để trở thành kĩ sư kinh tế nông nghiệp. Cái danh hiệu kĩ sư rất hay: kĩ sư[1] theo nghĩa Hán Việt là người thầy về kĩ thuật. “Người thầy về kĩ thuật” chuyên ngành kinh tế nông nghiệp tất phải biết rất nhiều thứ: đối tượng sản xuất (cây trồng, vật nuôi), công cụ sản xuất (máy móc, công cụ), tổ chức sản xuất (mô hình sản xuất, kế hoạch sản xuất, phân công lao động…), chỉ đạo quản lý sản xuất (điều hành, bố trí, đánh giá…) và tất nhiên là những thước đo (chỉ tiêu) về năng lực của công việc người kĩ sư.

Đối với lĩnh vực cây trồng chúng tôi được học những môn học sau đây: Trồng trọt đại cương (120 tiết kì 2 năm thứ 2), Trồng trọt chuyên khoa (180 tiết kì 1 năm thứ 3), Rau quả (45 tiết kì 2 năm thứ 3). Tổng số 345 tiết về cây trồng là một ưu tiên rất lớn cho nghề kĩ sư nông nghiệp. Người ta tách môn Rau quả sang kì 2 năm thứ 3 (đủ thời lượng 45 tiết để thành môn kiểm tra) có lẽ để môn Trồng trọt chuyên khoa không quá dài – với lại một kì học toàn cây trồng thành quá “khẳm”.

Thứ Bảy, tháng 11 29, 2025

Vào năm thứ 3 – nhiều chuyện đáng nhớ (kì 2)

Chuyện anh Trương Quốc Vinh

Hồi ở nhà B3, anh Trương Quốc Vinh lớp KT20A có dấu hiệu bệnh tâm thần (?) gì đó. Anh chui cửa vào dọn một góc gác xép tầng 3 bị hỏng khu vệ sinh để ở, không ngủ trong phòng KTX nữa. Trốn vào ngồi học trong khu vệ sinh là chuyện lạ - thực ra cũng chẳng ảnh hưởng đến ai – nhưng quan trọng là chuyện anh cứ xung phong phát biểu và một số chuyện anh nói, anh trao đổi có cảm giác như anh đang ở thế giới khác. Môn Triết học năm thứ nhất mọi người thấy anh nói những chuyện không ai hiểu, nhưng đến môn Kinh tế chính trị năm thứ 2 thì nhiều người cho rằng trong phát biểu của anh là có gì đó ngớ ngẩn, vô nghĩa. Thế rồi người ta cho rằng anh đang bị bệnh tâm thần cần phải đi cứu chữa ở Bệnh viện tâm thần Sài Đồng. Tôi còn nhớ một chi tiết hồi đó anh phát biểu: “Muốn đưa đất nước lên sản xuất lớn XHCN thì trước hết phải giải quyết vấn đề chiến tranh biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc”. Khi đó là năm 1978, chiến tranh biên giới Việt – Trung[1] chưa xảy ra – anh có ý “tiên tri” từ đâu vậy? Anh viết rất to bằng phấn trên tường trong phòng vệ sinh TRƯƠNG QUỐC VINH – QUỐC TẾ VINH. Có lẽ cho đến năm thứ 3 anh Vinh không những không chơi với ai mà có khi anh cũng không biết tên mọi người trong lớp.

Thứ Sáu, tháng 11 28, 2025

Vào năm thứ 3 – nhiều chuyện đáng nhớ (kì 1)

Mở đề

Năm thứ 3 được thiết kế khá thú vị: một gạch nối quan trọng giữa các nhóm kiến thức. Hết năm thứ 3 là chúng tôi hoàn thành kiến thức khoa học cơ bản, khoa học cơ sở, thể chất, quốc phòng và các hoạt động lao động. Các môn học trồng trọt khác cùng với môn Trồng trọt đại cương (học năm thứ 2) được ghép nối để thành bộ kiến thức cây trồng cho kĩ sư kinh tế. Nhiều môn học thuộc chuyên môn kinh tế nông nghiệp được thiết kế để hình thành nội dung thực tập giáo trình lần 1 – khối HTX sản xuất nông nghiệp.

Chuyện năm thứ 2 chỉ còn vài chi tiết về các tuần lao động và môn học Trồng trọt đại cương tôi sẽ tổng hợp theo nhóm bài viết riêng.