Thứ Ba, tháng 8 11, 2026

Phác thảo về chân dung anh Nguyễn Đăng Hợp (kì 2)

 

2/ Anh Hợp và các hoạt động của lớp

Anh Hợp là người chịu khó tìm gặp được nhiều anh chị em trong lớp KT20A mỗi khi anh có điều kiện công tác. Đây là điều rất đáng quý bởi anh như người lớp trưởng năm xưa luôn quan tâm đến sự trưởng thành của mỗi người trong lớp và tạo ra sự liên lạc của mọi người với nhau. Anh kể với tôi anh đã đến thăm anh Mai Quỳnh Quốc ở Lạng Sơn, chị Hoàng Thị Khánh ở Ninh Bình và rất nhiều người khác trong lớp.

Có lẽ tôi không thể nói hết được những quan tâm của anh đối với lớp. Tập thể lớp KT20A - một tập thể giàu tình nghĩa là ấn tượng của anh với mọi người và mọi người với anh. Mọi thành viên KT20A hãy liên tưởng đến quan hệ với anh để có dịp nói thêm các kỉ niệm về anh.

Các lần tổ chức gặp mặt khóa 20 ngành kinh tế nông nghiệp, anh đều chủ trì với ý thức chuẩn bị rất kĩ. Anh cũng thường trao đổi với tôi và các anh em đang công tác ở trường về tổ chức gặp gỡ. Anh muốn tổ chức cuộc gặp gỡ có cả KT20A và KT20B tham gia nhưng mấy lần không thành vì anh em lớp KT20B về không đông đủ như KT20A. Vả lại, hình như anh Khương, anh Hồng, anh Long… cho rằng tổ chức theo lớp thuận lợi hơn.

Anh lo nghi lễ tổ chức, lo nơi ăn ở, lo mời các thầy, cô… Anh rất muốn mọi người nhớ về những kỉ niệm năm xưa nên khi gặp mặt anh muốn mọi người có dịp thăm hoặc ngủ lại KTX B3 để hồi tưởng cuộc sống sinh viên.

Năm 2000, lớp KT20A tổ chức kỉ niệm 20 năm ra trường rất trang trọng (nay còn nhiều hình ảnh đẹp). Trong tất cả các lần gặp gỡ, tôi thấy chuẩn bị phát biểu của anh rất chi tiết và cảm động. Đặc biệt anh luôn nhấn mạnh những tấm gương phát triển tốt trong thực tiễn cuộc sống nhưng không quên nhắc đến các đức tính và sự phát triển của từng người. Có thể nói ai cũng hài lòng khi được nghe vị lớp trưởng năm xưa điểm thông tin đến từng cá nhân, nêu được những đức tính và các ảnh hưởng của từng cá nhân đến với mọi người. Các anh Hoàng Việt Cường, Nguyễn Đức Trí, Ngô Văn Ly, Đỗ Văn Đức, Vũ Đình Hòe, Nguyễn Văn Ngọc, Lê Cao Bính… luôn được nêu gương như những tấm gương phát triển tốt trong lớp.

Có lần giáo viên dạy Nga văn cho lớp KT20A là cô Nguyễn Thị Hòa từ miền Nam ra thăm trường, anh Hợp đã tổ chức nhóm đón tiếp rất thân tình. Có một buổi còn mời cô Hòa đến thăm nhà chị Trịnh Thị Lục cùng mấy anh em chúng tôi. Cô Hòa rất vui khi mọi người nhớ về kỉ niệm học tiếng Nga những năm 1975-1976 gian khổ.

Nhiều cuộc đi thăm viếng anh em gần Hà Nội được anh tổ chức rất chu đáo. Tôi cũng thường xuyên được anh mời tham gia đi cùng nhóm đại diện KT20A. Còn nhớ lần đến dự cưới con anh Ngô Văn Ly, con anh Nguyễn Đức Trí, con anh Hoàng Việt Cường. Với danh nghĩa lớp, anh cũng tổ chức đến thăm cụ bà thân sinh anh Nguyễn Đức Trí khi cụ ốm đau và viếng khi cụ mất. Hồi anh Hoàng Việt Cường mất vào dịp covid-19 bị cấm cản đi lại nên lớp KT20A chỉ nhờ gửi lễ viếng mà không đến được. Gần đây anh tổ chức đại diện KT20A đến viếng cụ bà thân sinh Âu Dương Đức…

Việc hình thành quỹ lớp vốn không được đặt ra nhưng sau mỗi lần gặp gỡ, các kinh phí còn dôi dư được anh nhờ Kiều Tuyết Nga ghi chép rất chi tiết. Phần quỹ dôi dư lớp nhờ anh trông giữ và các chi tiêu bao giờ cũng được anh báo cáo hết sức rõ ràng mỗi khi gặp lại.

Mấy năm gần đây, mọi người ít gặp gỡ nhân các dịp này nọ, nhưng anh vẫn rất quan tâm khi các nhóm tổ chức gặp mặt. Dịp một số anh em trong lớp tổ chức đi Hà Tây năm 2023, anh cố gắng đi cùng dù “cà nhắc” cầm batoong đi theo. Lần đi Mộc Châu năm 2024, anh đến gặp và tặng quà cho nhóm đi cùng… Anh ngăm đen có duyên, tuổi càng cao thì nụ cười càng quyến rũ, chứng tỏ xưa đẹp trai, còn nay thì quá đẹp lão!

Anh là “lớp trưởng chung thân”, là chỗ dựa “linh hồn” của lớp KT20A. Anh vui lòng nhận trách nhiệm với niềm vui sướng và tự hào. Mọi thành viên trong lớp “phục tùng” ý kiến và tôn trọng anh như một mặc nhiên tất yếu – bởi anh xứng đáng được tin yêu và kính trọng.

3. Phần phụ: Anh Hợp có năng khiếu bóng chuyền và biệt tài tiếu lâm

Về năng khiếu bóng chuyền

Anh biết chơi bóng chuyền từ trước khi vào đại học. Tôi nhớ đội bóng chuyền của lớp luôn có anh chủ công cùng anh Hòe, anh Điến, anh Việt… Nếu tham gia đội của Khoa, anh Hắc KT19 chủ công, còn anh Hợp phụ công. Từ năm học thứ 3, anh ít có điều kiện tham gia các hoạt động thể thao chung nhưng anh luôn có mặt cổ vũ phong trào.

Về biệt tài tiếu lâm

Cho đến nay tôi khẳng định không có ai có biệt tài tiếu lâm hơn anh trong lớp KT20A. Tiếu lâm là năng khiếu vì có nhiều chuyện tưởng ai cũng đã biết, nhưng người giỏi tiếu lâm kể lại thì vẫn phải cười – cái chất “khiếu” ấy là do trời sinh ra và lộc trời tặng cho những người biết dành tiếng cười cho mọi người. Đối với các câu chuyện của anh Hợp, tiếng cười do anh gieo vào chúng tôi cứ vang mãi mỗi khi nghĩ đến, mỗi khi kể lại và nhất là khi được nghe anh kể thêm. Dưới đây là một số chuyện và một số tình tiết có liên quan đến anh.

-       Hồi mới vào đại học, chuyện “con nai” nổi tiếng của anh kể ở Tổ 1 năm 1975 thực sự là đáng nhớ nhất. Người cười to nhất và nhớ lâu nhất là Lê Cao Bính (có lẽ Âu Dương Đức, Mo Lan và Khuất Cao Nội chưa chắc còn nhớ). Vì sự nổi tiếng của câu chuyện, anh bàn với tôi có nên kể lại chuyện này khi cả lớp đi Ba Vì-Sơn Tây năm 2023 không. Tôi khuyến khích anh nên kể lại nhưng thực tình tôi nghĩ anh không dám kể chuyện đó vì nhóm đi lần này có rất đông nữ, lại có cả một số phu nhân, phu quân tháp tùng. Hôm cả lớp ngủ lại, ngay sau liên hoan ăn tối, anh Hợp có bài phát biểu dài rất tâm đắc về lớp KT20A và tình cảm của mọi người (đánh máy đầy mấy trang giấy A4). Anh vẫn không quên nhắc lại các kỉ niệm, các cá nhân thành đạt như tính cách người lớp trưởng điểm thông tin. Nhưng đặc sắc nhất là anh kể về chuyện “con nai” với một biến tấu hoàn toàn mới rất thông minh. Cả nam lẫn nữ, cả thành viên trong lớp lần khách quý tháp tùng nghe xong đều cười sung sướng. Quá tuyệt vời về phiên bản “con nai 2023”[1] của anh. Nay ai muốn nghe phiên bản “con nai 1975” thì xin hỏi lại Lê Cao Bính, Trần Hữu Giang nhé. Lê Cao Bính kể là hay nhất vì vừa kể vừa cười rất vô tư như đúng cái tuổi 20 năm 1975.

-       Anh Ngự (Dâu tằm 20) hồi ở KTX A2 ghé qua kể cho chúng tôi nghe chuyện anh Hợp (vì anh Ngự có 1 năm dự bị đại học cùng anh Hợp). Anh Ngự nói hồi anh Hợp công tác ở Lai Châu - Trại trưởng trại ngựa giống. Anh Hợp rất thích ngựa và giỏi cưỡi ngựa. Các lần thi ngựa kiểu gì anh Hợp cũng có giải: đua ngựa, thi ngựa khỏe, ngựa đẹp… Anh Ngự bảo hồi ấy anh Hợp đoạt giải nhất ở Lai Châu nhưng nay anh Hợp đi thi thì chắc chắn được giải khuyến khích toàn quốc!

-       Chuyện này cũng liên quan đến anh Hợp, chắc chắn Cao Ngọc Đức còn nhớ. Hồi lớp lao động ở vườn quả tháng 3-1976, vì mọi người cũng chưa quen nhau lắm nên có một bạn nữ sinh trong lớp hỏi anh Hợp: “Anh Hợp trước đây công tác ở Nai Châu à?” Vì còn âm hưởng địa phương nên bạn ấy định nói Lai Châu lại chệch sang thành “Nai Châu”. Cao Ngọc Đức bảo: “Nghe hỏi thế anh Hợp đỏ mặt cười to lắm, chắc anh nghĩ bạn nữ ấy đã biết chuyện ‘con nai’ của anh kể ở Tổ 1.” Chắc chắn Cao Ngọc Đức nhớ chi tiết “vụ này”.

-       Chuyện có một cô gái trong lớp thích xưng với anh là “chú – cháu” vì quen không sửa được (trước cũng học dự bị đại học với nhau). Anh Hợp kể cho chúng tôi nghe câu chuyện:. Chuyện này chắc chắn Giang, Ảnh, Bính, Cao Đức còn nhớ. Nội dung sơ bộ như sau: Chuyện hai “chú-cháu” gặp nhau ở nơi đông người. Người được xưng là chú bảo: “Chú-cháu gì, khéo cháu lại ‘hạ bệ’ chú ngay ấy chứ.” Người xưng cháu nghe thế cãi lại: “Làm sao lại ‘hạ bệ’ được chứ? Chú là chú mà cháu là cháu mà.” Bỗng “bụp!” một cái, kẻ nào đó chốn đông người có hành động gì đó với người cháu. Người cháu giật mình quay lại nhìn ông chú có vẻ rất nghi ngờ nghĩ: “Hay là ‘lão ta’ vừa ra tay?” Hô hô…

-       Chuyện này anh Hợp kể với tôi: Hồi Cao Ngọc Đức ra Hà Nội công tác, anh Hợp ghé qua thăm Cao Đức ở 37, Hùng Vương (Nhà khách Chính phủ). Anh kể rằng khi vào cổng, cậu lính gác cổng yêu cầu kiểm tra an ninh. Anh xách cái cặp to có “tỉ thứ” trong đó bị yêu cầu mở kiểm tra. Bỗng cái cặp tuột tay anh rơi xuống đất bung ra “tỉ thứ” trước cửa bốt gác. Không biết có những thành phần gì trong “tỉ thứ” bung ra từ cặp của anh mà cả anh lẫn cậu lính gác đều ngượng đến đỏ mặt. (Chuyện này Cao Đức không biết, mà chi tiết thứ bung ra để 2 người đỏ mặt là cái thứ gì anh Hợp cũng không nói cho tôi biết).

-       Chuyện ở sân bóng rổ: Hồi năm thứ 2, lớp KT20A học môn bóng chuyền. Giáo viên yêu cầu mỗi người phải phát bóng vào đúng ô khi bốc thăm số ô. Bộ môn Thể dục Thể thao mượn mặt sân bóng rổ trước KTX A3 kẻ và ghi rõ số vị trí ô từ 1 đến 6 để mọi người tập phát bóng. Anh Hợp đang đứng cùng mọi người thì bỗng anh cởi cái áo sơ mi đang mặc ra, chỉ mặc mỗi áo may-ô rồi đi ngang qua chỗ tôi đứng. Anh chụp cái áo sơ-mi vào đầu tôi. Tôi vội giơ tay lên đỡ áo thì anh bảo: “À, Ảnh đấy à, Tớ cứ tưởng cái cột cháy nên ra treo cái áo!” Ý anh là hồi đó tôi gầy đen như cái cột cháy, ha ha…

-      

4. Một số hình ảnh và chú giải

Có rất nhiều lần gặp gỡ ở Hà Nội cùng bạn bè trong lớp, nhưng trước năm 2000 chưa có điều kiện ghi hình ảnh. Dưới đây là một số hình ảnh về anh mà một số người trong lớp có được.

Hà năm 2000, nhân vợ chồng Trần Hữu Giang ra Hà Nội chơi, chúng tôi tổ chức gặp mặt tại quán bánh tôm Hồ Tây nổi tiếng thời đó. Anh và mấy anh em trong lớp có mặt gồm Bính (từ Nghệ An ra), vợ chồng Ảnh và Nguyễn Đình Chiến.

Gặp mặt dịp vợ chống Giang ra Hà Nội hè năm 2000 tại quán bánh tôm Hồ Tây.
Anh Hợp và Bính (từ Nghệ An ra), vợ chồng Ảnh và Nguyễn Đình Chiến.

Tháng 12-2000, nhân kỉ niệm 20 năm ra trường, anh đứng vai tổ chức cuộc gặp gỡ đáng nhớ.

Anh chủ lễ gặp mặt


Anh Hợp và các anh em nguyên Ban cán sự lớp (hồi đó vắng anh Nguyễn Đình Chình không tham dự)

Lớp KT20A tôn vinh các anh Ban cán sự và một số anh chị thành đạt trong lớp.


Anh Hợp và anh Ngô Văn Ly tặng hoa thầy Nguyễn Quang Thoại, Nguyễn Dương Đán, Nguyễn Tiến Thêu và Trần Đình Đằng.

Bức ảnh chụp chung 25 thành viên đến dự năm 2000.
Đứng hàng sau có anh Tiến (phu quân Trần Thị Quế), người đứng ngay sau Kiều Tuyết Nga.

Anh Hợp chụp với một số thành viên trong lớp


Cuộc gặp năm 2011 nhân dịp 55 năm thành lập trường – Lớp KT20A cùng GS TS Trần Đình Đằng trước nhà 4 tầng


Cuộc gặp 2016, anh Hợp cùng một số anh em trong lớp

Nhóm thành viên lớp KT20A trong chuyến đi Ba vì - Sơn Tây 2023

Trước nhà 4 tầng và cổng làng Đường Lâm (2023)

 Anh Hợp cùng Lê Cao Bính (2023), người nhớ nhất chuyện “con nai phiên bản 1975”
Anh Hợp chụp kỉ niệm cô gái dân tộc tại Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam (2023)

Anh Hợp cùng Kiều Tuyết Nga (2023), người nay vẫn “chú – cháu” vì quen rồi khó sửa





-       Anh Hợp và nhóm KT20A thăm trường

-       A

-       

-       Chúng tôi thăm làng cổ Đường Lâm

-       Anh Hợp chụp kỉ niệm cô gái dân tộc tại Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam

Đi Mộc châu

Đi MC

-      

Anh Hợp chụp ở trường cùng nhóm KT20A đi Mộc Châu




Các lần gặp gần đây

nh Hợp và chúng tôi ở nhà anh Lê Ngọc Lan

Anh Hợp và chúng tôi ở nhà anh Lê Ngọc Lan

Anh Hợp và chúng tôi ở nhà anh Âu Dương Đức

Anh Hợp và chúng tôi lần gặp 7-2026 (chụp tại Nhà hàng Trà Giang - Đức Giang Hà Nội )


[1] Nội dung phiên bản “con nai 2023” còn trong bản lưu của anh Hợp

Phác thảo về chân dung anh Nguyễn Đăng Hợp (kì 1)


Nếu kết thúc các ghi chép về những năm tháng đại học của tôi thì có thể còn vài day dứt. Tôi thấy cần phải ghi chép thêm phác thảo chân dung qua những kỉ niệm với một số người trong lớp. Sau khi ra trường tôi có nhiều dịp gặp lại các anh chị em trong lớp KT20A, lại bổ sung thêm những tình cảm và nhận thức mới về tình bạn bè trong cuộc sống có yếu tố gắn bó từ những ngày ở lớp KT20A đại học.

Anh Nguyễn Đăng Hợp là lớp trưởng đầu tiên của KT20A (sau đó anh Nguyễn Đình Chình thay khi anh bận công việc gia đình nên xin ở ngoại trú KTX). Tôi không dám viết chân dung đầy đủ về anh vì dù rất quen thân với anh nhưng một chân dung đầy đủ phải đi từ gia thế, xuất thân, cuộc sống, sự nghiệp, các giá trị ảnh hưởng của anh với mọi người và xã hội... Tôi chỉ phác thảo vài nét chân thực về anh qua những kỉ niệm của tôi với anh, qua cảm nhận của tôi với những hoạt động của anh với lớp. Một phác họa mộc mạc về người lớp trưởng đại học đầu tiên của chúng tôi.

1/ Kỉ niệm của tôi với anh

a/ Những ngày đại học

Những ngày đầu tiên là sinh viên, anh Hợp thương tôi ốm yếu, bệnh tật. Như người anh có cách nhìn kinh nghiệm nhân gian độ lượng, anh biết tôi vốn ra đi từ cuộc sống gian nan và có ý chí vươn lên tìm cơ hội sống tốt hơn.

Tuần đầu tiên thấy tôi là người tìm được đáp số bài toán giải tích thầy Thanh cho về nhà (dù tôi nhập học sau mọi người 2 tháng), anh bảo tôi một cách chân thành: “Cậu là người đầu tiên trong phòng tìm ra đáp án.” Tôi hiểu đó là lời động viên chân thành không phải vì tôi may mắn tìm ra đáp số mà có ý bước đầu khẳng định tôi có thể cùng mọi người học tập, nếu cố gắng thì dù có nhập học muộn cũng sẽ theo kịp mọi người.

Tháng đầu tiên đi lao động hướng nghiệp năm thứ nhất, một buổi chiều cuối xuân mưa rét, anh là lớp trưởng đã cử tôi một mình ra trại chăn trâu[1]. Việc anh cử tôi ra trại với mấy con trâu to lớn là ý anh muốn giao riêng cho tôi – để khẳng định tôi có thể hoàn thành. Rõ ràng tôi được cử đi là hợp lý nhất, chẳng lẽ cử anh Ngọc, anh Khang, anh Quân hay anh Nội? Tôi giống “kẻ trẻ trâu” nhất và công việc đó không những phù hợp mà rất dễ với tôi mà! Hồi đó, có lúc tôi nghĩ sao anh không cử thêm người cùng đi với tôi. Nghĩ lại thì thấy anh đã cân nhắc kĩ, đâu cần phải thêm ai nữa. Có thể anh biết nếu có cử thêm Bính, Giang hay Cao Đức đi cùng thì sao bằng kẻ chăn trâu chính thống như tôi được.

Tôi nghĩ vì được anh thương quý nhất nên anh đưa tôi về thăm gia đình nhiều nhất trong lớp. Ngồi sau xe đạp anh chở về thăm gia đình ở Đức Giang từ khi mới có cháu Hương, rồi khi có cháu Nhung, tôi tận mắt thấy anh chị có gia đình hạnh phúc và vui vẻ. Nhưng gia đình công nhân viên chăm con nhỏ thật vô cùng vất vả. Dù nằm ngủ cùng anh ở sàn nhà hay ở giường nhỏ để sáng mai anh em lại đạp xe vào học, tôi thấy anh chu đáo chăm lo cho gia đình, cho tôi, nhất là bữa ăn tối và điểm tâm sáng. Anh thường rủ tôi đến khi anh mua được chút thực phẩm hiếm hoi cho gia đình từ tem bìa phiếu hàng tháng.

Mỗi khi về Tết ra trường, anh đều đưa tôi về nhà anh chơi và ngủ lại một đêm. Bao giờ anh cũng để dành đãi tôi món thực phẩm quý giá thời bấy giờ: thịt lợn để dành từ Tết. Anh có cách để bảo quản thực phẩm rất thông minh. Hồi đó làm gì có tủ lạnh, nhưng anh chọn một thanh thịt ngon, luộc chín và vùi sâu vào liễn mỡ của gia đình. Mùa đông lạnh nên mỡ đóng băng bảo đảm giữ thanh thịt vẫn thơm ngon được rất nhiều ngày. Bằng cách đó Tết nào anh cũng có món ngon đãi đứa em. Mà vì nghỉ Tết nhiều ngày nên khi ra đến trường tôi chưa bao giờ có món quà quê gì biếu gia đình anh dịp Tết.

Ở nhà anh khi đó tôi rất ấn tượng với cái bếp anh tạo ra. Có rất nhiều tầng nấc kê bên trên cái kiềng đun nấu bằng củi lá. Cái giá kê bên trên không sập mới là tài. Bếp thấp, anh để trên đó từ củi, gỗ, rồi hàng khô, rồi đồ treo, đồ gác. Thật vô số thứ “bà giằn”. Mà anh nhớ được những món gì để ở đâu cũng thật là biệt tài. Ra nhà anh chơi bao giờ anh cũng dẫn đi thăm chỗ trồng rau, chỗ nuôi gà, nuôi lợn. Chủ yếu là đi theo nhìn anh tưới rau, cho gia súc ăn và không để tôi phải ngồi mà không có ai tiếp chuyện.

Anh chị được phân một gian tập thể của cơ quan chị Thu. Ra thăm anh khi chưa có con, khi một con, 2 con… tôi mới thấy anh đi học khác chúng tôi nhiều lắm. Chúng tôi chỉ vác bát đi ăn tập thể rồi về học, chơi và ngủ. Anh thì giúp vợ, giúp con lại còn tăng gia chăn nuôi, trồng rau. Hồi đó tắm giặt và vệ sinh khu tập thể đều công cộng. Nhà cửa cơm nước, giặt giũ lại tăng gia thì làm sao anh có nhiều thời gian học như chúng tôi trong KTX được. Đó là chưa kể mỗi ngày anh còn đạp xe đi về gần 2 giờ đồng hồ.

Chuyện anh giúp tôi lên gặp thầy Đỗ Mộng Ngọc mới thật khó quên[2]. Hồi đó năm thứ nhất tôi mới nặng khoảng hơn 40kg mà môn thể dục điền kinh chạy cự li ngắn phải đạt tiêu chuẩn điền kinh cấp 3 (15,5giây/100m). Tôi lao đi trên đường chạy với mắt nhắm, môi mím chặt để về đích với 16,5giây và ngay sau qua vạch đích là cú ngã ngất ngay tại chỗ. Lúc tỉnh dậy tôi thấy mọi người bên tôi ở Trạm xá ĐHNN I. Thấy tôi tỉnh lại, anh Ngọc bảo chắc tại Ảnh tim yếu nên ngất do thiếu máu não. Thế là tôi trượt môn thể lực và phải kiểm tra lại. Hồi đó tôi biết có kiểm tra lại thì cũng không thể đạt nên anh Nguyễn Ngọc Minh xung phong chạy thay tôi. Khốn nỗi anh Minh chạy nhanh quá, thương binh gãy chân gì mà chạy như gió, 13,5 giây. Thầy Ngọc phát hiện ra chuyện kiểm tra hộ, thầy dọa đưa tôi lên Khoa để kỉ luật. Anh Hợp với tư cách lớp trưởng sau đó mấy ngày đã đưa tôi lên gặp thầy Ngọc. Chuyện đáng sợ nhất ám ảnh tôi suốt những năm đại học của tôi.

Thầy Ngọc và vợ là cô Bình đều đi học từ Liên Xô về. Gian nhà tập thể chật nhưng có kê bàn tiếp khách, ngay phía sau là cái tủ sách có nhiều đầu sách tiếng Nga. Anh Hợp và tôi gõ cửa xin vào gặp thầy. Thầy Ngọc tiếp chúng tôi trong bộ pi-ja-ma tối, nhưng vẫn rất nghiêm nghị. Tôi vẫn nhớ đôi mắt thầy nhìn sâu, lông mày rậm xoáy nhìn vào tôi. Anh Hợp trình bày với thầy rằng tôi là trường hợp bị đau bụng kinh niên từ nhỏ nên thể lực hạn chế, nhờ thầy thông cảm giúp đỡ. Anh thay mặt lớp nhận lỗi vì đã để lớp có người kiểm tra hộ bạn bè. Anh hứa với thầy từ nay lớp sẽ không vi phạm nữa. Thầy Ngọc không nói thêm gì. Còn tôi lí nhí gửi thầy bản kiểm điểm, xin lỗi thầy và ra về cùng anh Hợp. Giá tôi là anh Hợp thì khi đó tôi biết nói gì nhỉ? Anh với trách nhiệm lớp trưởng nên dù tối muộn vẫn bỏ vợ con ở nhà để đi xin lỗi thầy giúp tôi. Học đại học tôi vẫn nợ môn thể lực, nhưng vì môn kiểm tra (không phải môn thi) nên khoa cũng không đánh giá thành tích học tập của tôi sau này.

Những năm đầu các môn thi vấn đáp anh thường xuyên vào KTX để hỏi thăm tình hình ôn thi và có ý học hỏi kinh nghiệm ôn của bọn chúng tôi. Tôi biết anh không có nhiều thời gian ôn như chúng tôi trong KTX. Chúng tôi đều biết anh có trình độ tiếp thu tốt nhưng công việc gia đình quá bận nên đôi lúc thiếu tự tin, nhất là các môn học cơ bản có rất nhiều công thức.

Sau này nghe anh kể vô vàn gian khó những ngày đầu tiên anh lập gia đình và những kỉ niệm của anh với nhiều người trong lớp tôi càng phục anh chịu đựng gian khổ chăm lo gia đình mà cũng không quên quan tâm đến mọi người trong lớp. Thật sự là anh đã gian nan hơn rất nhiều so với chúng tôi sau này khi có gia đình riêng.

Có thể mọi người cho là chuyện vụn vặt nhưng thực sự chuyện tôi ghi chép ở đây hồi còn học đại học là những kỉ niệm rất khó quên. Có thể anh Hợp cũng không nhớ hết, nhưng đã là kỉ niệm tức là nó đã in dấu trong tôi một quãng đời và kí ức của tôi về anh thì còn mãi theo thời gian.

 

b/ Khi tôi là giảng viên ĐHNN I

Hồi tôi đi bộ đội về thăm trường, khi đó anh Hợp đang công tác ở Phòng Tài vụ của ĐHNN I nên bao giờ tôi cũng đến thăm anh.

Vào năm 1984, tôi đi phép về quê xin thủ tục công việc để chuyển ngành theo chính sách quân đội. Khi đến trường thăm anh, tôi có trao đổi với anh là sắp tới tôi sẽ về quê công tác theo giấy tiếp nhận của tỉnh Thanh Hóa (anh Khang giúp). Anh bàn với tôi rằng tôi trước đây tốt nghiệp loại giỏi có đủ tiêu chuẩn ở lại Khoa làm cán bộ giảng dạy, nay suy nghĩ xem có nên ở lại trường không. Anh bảo tôi gặp anh Đĩnh ở phòng Tổ chức cán bộ của trường hỏi xem tôi có thể cứ chuyển về trường rồi từ trường phân công công tác theo chỉ tiêu của trường được không? Qua anh Đĩnh tôi biết cô Diệp (Trưởng Phòng Tổ chức Cán bộ) cho rằng trường hợp đi bộ đội từ nhà trường thì khi ra quân có thể chuyển về trường và lấy chỉ tiêu của Bộ để phân công công tác cũng chấp nhận được (vì vào thời điểm 1984, nhiều người ra trường tự xin được việc mà không bắt buộc phải qua chỉ tiêu Bộ phân cho trường). Chính là nhờ ý kiến của anh Hợp và anh Đĩnh nên tôi chọn giấy chuyển ngành về Hà Nội thay cho giấy tiếp nhận về Thanh Hóa[3] khi làm thủ tục ra quân.

Khi đã về trường công tác thì 2 anh em cũng thường xuyên gặp nhau. Anh luôn coi tôi như đứa em, vẫn hay mời tôi về thăm gia đình. Đến thăm nhà khi anh chị mua đất làm nhà riêng tôi mới thấy anh chăm lo gia đình, cố gắng nuôi con, làm nhà, tăng gia cải thiện đời sống… Chuyện anh làm nhà ra khu đất mới quả là sự tính toán gian nan. Khu đất anh mua phải mất rất nhiều công sức san nền vì đó là khu đất trũng ngay dưới con kênh nổi. Mỗi lần anh dẫn tôi đến lại thấy anh san lấp được thêm một chút, dần dần nổi lên hình thù cái nền nhà. Rồi căn nhà ban đầu xây xong, có sân, có vườn, có chuồng nuôi lợn, nuôi gà, lại có cả phần ao quây lưới nuôi vịt, thả bèo, hình như có nuôi được cả cá. Từ căn nhà ban đầu đó, anh chị còn nhiều lần tu bổ, cải thiện, chồng tầng, lên cốt theo một kiểu rất riêng. Chị Thu cười bảo tôi rằng kiểu Nguyễn Đăng Hợp.

Tôi luôn được mời dự cưới các con anh chị. Anh rất cẩn thận chu đáo mời bạn bè trong lớp. Trong lễ cưới con anh Hợp tôi đã gặp anh Nguyễn Đức Trí, anh Hoàng Việt Cường và nhiều người ở KT20A về dự. Có lần gặp cả anh Ngự từ Thái Bình lên dự (anh Ngự học lớp Dâu tằm 20, trước cùng học lớp dự bị đại học với anh).

Có một lần anh đưa tôi về quê anh ở Lạng Giang (khi đó là tỉnh Hà Bắc) thăm cụ thân sinh ra anh. Có một kỉ niệm đáng nhớ là hôm về quê, 2 anh em đi xe máy. Anh lái Simson Đức to đùng, tôi đi cái Honda80 máy cối bé tẹo. Đến Thị xã Bắc Giang, anh em ngồi ăn trưa và có uống mấy cốc bia. Đường về quê quanh co xuyên qua các thôn làng lạ lẫm, lắm ổ gà ổ trâu. Anh đi trước phóng vù vù, tôi mải nhìn theo sợ mất bóng anh nên xe va vào vật gì đó trên đường. Thế là cả người và xe tôi bay xuống ruộng. Loay hoay mãi tôi mới lôi được xe lên bờ, rửa qua những chỗ bùn đất trên quần áo và không cảm thấy đau gì. Mãi một lúc sau thấy anh quay lại đón, chắc tưởng tôi đi lạc đường. Khi đó anh mới biết tôi ngã và có vết rớm máu trên má phải (cái sẹo này phải gần 3 năm mới mất).

Anh làm việc ở phòng Tài vụ (thầy Đoàn Tử Lâm là trưởng phòng), sau đó có thời gian anh làm quản lý ở Phòng Đời sống và quản lý ở Trại Thực tập Thí nghiệm. Hồi anh ở Phòng Đời sống, biết tôi sắp bảo vệ luận án PTS, anh bảo tôi nên tổ chức buổi liên hoan nhân ngày quan trọng này. Hồi đó, điều kiện khó khăn nên khi bảo vệ luận án cấp cơ sở tôi chỉ vay được tiền làm 2 mâm cơm mời hội đồng. Khi bảo vệ chính thức lại càng khó khăn, tôi nói anh Hợp chắc em cũng chỉ lo được 2 mâm cơm mời hội đồng thôi. Anh bảo đây là dịp quan trọng, cậu là PTS trẻ nhất trường khi đó nên cứ vay mượn để tổ chức bữa liên hoan cho vui vẻ đàng hoàng. Mình chưa có điều kiện thật nhưng không nên để tình trạng “áo gấm đi đêm”. Tôi đã nghe theo anh tổ chức bữa liên hoan rất vui vẻ (mặc dù phải có sự vay mượn khá nhiều của nhóm anh em cùng nghiên cứu sinh trong nước). Bảo vệ luận án thành công ngày 16-1-1996, vợ tôi lo được 5 mâm cơm mời hội đồng và các thầy cô trong Khoa, Bộ môn. Đúng là phải lo đến bạc mặt nhưng là kỉ niệm rất đáng nhớ về tư vấn của anh.

Một lần vào năm 1996, anh trao đổi với tôi về việc anh có ý định học cao học ngành Kinh tế nông nghiệp. Anh cho rằng mình ở đây có điều kiện học hành hơn anh em các địa phương về học. Tôi trao đổi với anh nên cân nhắc kĩ vì học thêm cao học thì có điều kiện sẽ thể trở thành giáo viên, khi đó có thể anh sẽ không làm quản lý nữa. Anh cố gắng quyết tâm học học cao học (thuộc số cán bộ trong trường học rất sớm hồi đó). Cô PTS Nguyễn Thị Tâm hướng dẫn anh đề tài về tín dụng. Tôi nhớ anh có hỏi ý kiến tôi về hướng nghiên cứu đề tài luận văn. Khi anh bảo vệ, tôi đã đủ tiêu chuẩn tham gia hội đồng chấm luận văn. Nhà trường cử tôi làm Phản biện 1 cho luận văn của anh. Đây có lần đầu tiên tôi là Phản biện 1 luận văn cao học. Đến nay tôi vẫn lưu giữ văn bản phản biện này ghi ngày 27-9-1997. Có thể anh bảo vệ sau đó vài hôm (vì nguyên tắc phải nộp bản phản biện trước khi hội đồng bảo vệ).

Năm 1997, khi tôi cho in cuốn giáo trình Tài chính nông nghiệp, anh tỏ ra rất phục tôi vì tôi đã trở thành người viết sách cho người khác đọc và giảng bài. Cuốn sách đầu tay của tôi in tại NXB Nông nghiệp. Bản in rất tệ, có nhiều lỗi công thức, nhưng anh tỏ ra phục tôi lắm. Mỗi khi có dịp trao đổi với ai đó, anh đều nói rằng Ảnh viết sách dạy người làm giàu mà bản thân thì sống rất bình thường giản dị.

Khi về hưu, anh có trao đổi với tôi về việc anh tham gia công việc quản lý ở trường Đại học Đông Á. Anh công tác ở Đại học Đông Á nhiều năm, sau này chủ yếu tham gia công việc cán bộ giảng dạy. Từ cương vị giảng viên, anh có điều kiện đi công tác ở nhiều địa phương trong nước. Các chi tiết về công việc giảng dạy của anh tôi không rõ lắm, chỉ biết anh thường kể cho tôi anh đã đến địa phương nào, gặp được anh em nào trong lớp, trong khóa…

  

Thứ Sáu, tháng 8 07, 2026

Thẳng thắn nhìn lại quá trình đào tạo đại học

 

1. Trở thành người lao động trí óc gần gũi với đội ngũ lao động chân tay

Trong quá trình liệt kê hoạt động đào tạo và cuộc sống sinh viên qua các ghi chép, tôi đã lấy trọng tâm vấn đề là kết quả chúng tôi đã đạt được trong cái thời gian nan ấy – đó là những gì chúng tôi đã vượt qua các rào cản để nhằm mục tiêu biên chế, kiếm cơm, phục vụ suốt đời… Tôi thích nhấn mạnh việc chúng tôi thành kĩ sư chứ ít nói đến việc chúng tôi thành đội ngũ trí thức trong xã hội.

Trở thành kĩ sư theo nghĩa chúng tôi được đào tạo thành người có thể cầm tay chỉ việc, biết hướng dẫn, biết phân tích, đánh giá kết quả của những người lao động chân tay. Chúng tôi chỉ khác họ chút ít: cùng một công việc, họ lao động bằng chân tay, còn chúng tôi sử dụng một phần trí óc. Cái gọi là “lao động bàn giấy” theo dõi, chỉ huy, ra lệnh cho người khác là mô hình chúng tôi trở thành và tất nhiên chúng tôi cũng “bị sự chỉ đạo” của tầng tầng lớp lớp những cấp bậc “lao động bàn giấy” bên trên đầu mình.

Chính vì thế chúng tôi rất tin rằng quá trình đào tạo đại học là được học trong một nhà trường tốt, có chương trình đào tạo tốt, tin các giáo viên đều đúng, đều chuẩn. Tất nhiên chúng tôi cũng tin vào mọi nội dung học đều cần, đều nên thuộc. Sau nữa, chúng tôi tin rằng tất cả các chịu đựng đều là thử thách cần thiết, đều xứng đáng để được tin cậy và giao việc sau này.

Điều đó đúng sai thế nào thì nay cũng khó đánh giá. Tại sao ư? Bởi điều quan trọng nhất là khi ra trường chúng tôi cơ bản đều có chỗ kiếm được cơm ăn, có cuộc sống với biên chế công việc suốt đời.

Mặc dù khi ra trường chúng tôi thấy thực tế có rất nhiều điều không như những gì đã học. Ban đầu hơi choáng váng một chút, nhưng nghĩ lại thấy chuyện đưa thực tế vào bài học thì làm sao bài học sống lâu được. Thay đổi của chính sách là “sáng đúng, chiều sai đến mai lại đúng.” Chúng tôi thành người lao động trí óc rất gần gũi với đội ngũ lao động chân tay nhưng thực ra họ còn giỏi hơn chúng tôi về kĩ năng và kinh nghiệm lao động.

2. Người lao động trí óc có tâm hồn còn nghèo nàn, thiếu sinh khí

Trước hết, chúng tôi thiếu tự tin, thiếu tình yêu nam nữ. Chuyện cấm đoán yêu đương trong trường đại học chỉ là cái cớ. Nghĩ đến yêu đương như nỗi sợ cấm đoán là hèn nhát, bản chất là thiếu dũng khí về năng lượng cá nhân. Ở tuổi thanh niên mà chúng tôi như bị kìm nén mọi bề, thấy giống lối sống “thầy tu” hơn là sinh viên đại học. Còn nhớ hồi trẻ đọc cuốn “Tuổi trẻ Các Mác”[1] thấy Mác trả lời con gái câu hỏi: “Câu cách ngôn mà cha thích nhất?”. Mác trả lời: “Không có gì thuộc về con người mà xa lạ đối với tôi” và chuyện Mác đã yêu Jenny von Westphalen xinh đẹp mê say cuồng nhiệt đến thế nào mới thấy sinh viên như chúng tôi thật đáng hổ thẹn.

Che đậy bằng sự “giả tạo chân quê”: nào là nề nếp gia đình, nào là truyền thống quê hương, tinh thần hiếu học… Thực chất đó là “cái mặt nạ” vùi dập sự ham muốn hiểu biết, ham muốn tương tác, học hỏi. Đa số giữ mình ở cái coi nề nếp, truyền thống là nhất, là đủ, thậm chí còn coi là hơn cả nơi khác. Ấu trĩ thay!

Chúng tôi không có nền tảng giá trị tốt từ trước khi vào đại học. Vốn cơ bản là con em nông dân nghèo khổ, phần lớn có xuất phát tầm thấp ở mọi khía cạnh, sống thiếu năng lượng và sinh khí.

3. Không được đào tạo trở thành người trí thức

Ở đây tôi muốn nói chung cho sinh viên thời ấy chứ không chỉ riêng ở ĐHNN I chúng tôi.

Phải nói không dám dùng từ trí thức[2] vì hầu hết chúng tôi không biết tầm cỡ lao động trí thứclao động sáng tạo. Lao động trí óc và lao động trí thức rất khác nhau. Lao động trí óc của chúng tôi dùng cho quản lý, tức là không phải dùng tay chân như công nhân hay nông dân. Do đó không hẳn là lao động trí tuệ sáng tạo giá trị tinh thần, không có tâm hồn trí thức biết dấn thân. Sinh viên không có cuộc sống của trào lưu trí thức sôi sục, không có hoạt động trí thức tiên phong hướng đạo, không biết tham gia diễn đàn, thi đàn, văn đàn… Không biết các xu hướng tranh luận xã hội và không biết đường đi của đội ngũ trí thức.

Trên thực tế chúng tôi không có sách để đọc và không biết cách đọc sách. Chúng tôi không biết ngoại ngữ để sử dụng kiến thức, tìm kiếm tri thức.

Nhân đây tôi có suy nghĩ là tại sao các học sinh được đào tạo thời thuộc Pháp lại đều giỏi tiếng Pháp từ khi đang còn đi học. Điển hình phải kể đến những trí thức nổi tiếng Cù Huy Cận, Xuân Diệu, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Phạm Huy Thông… Điểm rất yếu của chúng tôi là không thể hiện hơi thở thời cuộc của “trí thức” (kiểu như thời của các vị như Cù Huy Cận, Xuân Diệu[3]). Thực tế là tâm hồn buồn tẻ, ít lí tưởng hoài bão cao xa.

Cần nhấn mạnh thêm lúc chúng tôi học, Hiệu trưởng ĐHNN I là GS Lê Duy Thước[4]. Giáo sư Lê Duy Thước từng là trưởng hướng đạo sinh tỉnh Quảng Nam do Tạ Quang Bửu tiến cử và hoạt động của ông chính danh là người trí thức nổi tiếng ở Việt Nam thời ấy.

Chúng tôi vì thiếu tình yêu lứa đôi chăng nên không biết và tất nhiên không cảm thụ được cảm xúc cuộc sống trong âm nhạc, nghệ thuật hội họa, điêu khắc… Đa số không biết lắng nghe thiên nhiên. Nhiều người còn nhẫn tâm trước môi trường sinh thái, không biết xử lí nhân văn các tác động của thiên nhiên với con người và ngược lại. Thái độ còn vô cảm, bàng quan, thiếu cân nhắc về tính tương tác, tính hòa hợp.

Chúng tôi không biết nhiều về điều rất quan trọng khác của danh dự trí thức: dấn thân, trung thực, đạo đức nghề nghiệp. Khi thành người lao động trí óc, chúng tôi còn thiếu các giá trị cốt lõi về trách nhiệm và gánh vác trách nhiệm trước tập thể và xã hội thay vì đổ lỗi. Chưa đủ tự tin để thể hiện lòng tự trọng và phẩm giá: giữ mình thanh sạch, không vì lợi ích tầm thường. Nhận thức còn hạn chế về sự độ lượng và khiêm nhường trong đối xử nhân ái, tôn trọng nhân gian. Ngoài ra còn hạn chế về ý chí kiên cường, hiên ngang, khoan thai đối mặt với mọi nghịch cảnh trong đời sống.

4. Không trở thành trí thức nhưng đủ thành người mộc mạc “chân quê”

Trong hoàn cảnh xã hội khó khăn, chúng tôi chấp nhận nghèo khó như số phận bao con người của đất nước. Chúng tôi cũng chính là hiện thực về thân phận con người trong xã hội, là những con người chịu đựng và hi sinh cùng vận mệnh của đất nước.

Bởi giàu tính “chân quê” giản dị nên chúng tôi dễ dàng đi vào lòng dân. Nhờ biết rõ chuyện nông gia, chuyện nấu cơm, vá áo nên chúng tôi hòa vào cuộc sống, vô hình hòa vào dân gian.

Chúng tôi chấp nhận lặng lẽ âm thầm về danh tiếng. Vốn biết không xứng danh mang hồn sông núi, hồn dân tộc nhưng trong mỗi chúng tôi vẫn sâu đậm sự mộc mạc hồn quê, hương quê. Ý tôi muốn nói là điều cao siêu dù không đạt tới nhưng chúng tôi không bị hư hỏng, hủy hoại bởi thói hư tật xấu, không vô dụng trong cuộc sống lao động chân chính của mình. Đó chẳng phải là ĐỦ VÀ QUÁ ĐỦ!!!



[1] Tác giả: E-lê-na I-li-i-na (Elena Ilyina) nhà văn Liên Xô. Nhà xuất bản Thanh Niên, 1969.

[2] Trí thức có danh từ gốc là intellect (trí  tuệ, trí thông minh). Một người có học vấn cao được mang danh “trí thức” nếu người đó sẵn sàng bước ra khỏi lĩnh vực chuyên sâu của mình để lên tiếng – với lập luận vững chắc - về những bất cập xã hội, với động cơ không vụ lợi, ngày nay gọi là phản biện. Trí thức để tôn vinh những người có học vấn uyên thâm, làm nghề sáng tạo như học giả, nhà văn, nào là nghệ sĩ, bác học… Để được gọi là trí thức, điều kiện “cần” là làm nghề sáng tạo các giá trị tinh thần; còn điều kiện “đủ” là phản biện xã hội - để xã hội tốt đẹp thêm. Việt Nam quan niệm “trí thức” là học giả, soạn giả, tác gia, bác học… thậm chí còn là bằng cấp và nghề nghiệp như tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư, nhạc sĩ, họa sĩ, nhà điêu khắc, giáo sư, nhà văn, nhà khoa học… Từ “trí thức” rốt cuộc chỉ là nói về giới “có học” trong xã hội.

[3] Sách “Hồi kí song đôi” của Huy Cận, NXB Hội Nhà văn, 2011.

Chủ Nhật, tháng 7 26, 2026

Chúng tôi thi tốt nghiệp, trở thành kĩ sư kinh tế nông nghiệp

1. Về tính chất kì thi

Thi tốt nghiệp là công việc cuối cùng của quá trình đào tạo kĩ sư. Kì thi đánh giá kết quả tổng hợp để khẳng định sinh viên mình đủ điều kiện công tác trong thực tiễn. Đối với chúng tôi, trong 4 năm rưỡi đại học (có 2 lần thực tập giáo trình, 1 lần đi thực tế theo nhiệm vụ đột xuất, 6 tháng thực tập tốt nghiệp và khoảng 3 tháng lao động) thì đây là công việc quan trọng nhất.

Kì thi bắt đầu từ 20-4 đến 20-5-1980, nhà trường tổ chức thi như sau:

-         Thi môn Lí luận Mác – Lênin để đánh giá trình độ lí luận chung của người kĩ sư về chủ nghĩa Mác – Lênin và nhận thức về năng lực vận dụng chủ nghĩ Mác của Đảng trong thực tế cách mạng Việt Nam.

-         Bảo vệ thực tập tốt nghiệp – một kiểu bảo vệ đồ án tốt nghiệp. Thông qua 6 tháng thực tập ở cơ sở thực tiễn dưới sự hướng dẫn của giáo viên, một nội dung có tính chất khoa học nhất định được sinh viên đi sâu nghiên cứu và trình bày trước hội đồng. Các thành viên hội đồng sẽ kiểm tra chất lượng báo cáo qua nội dung làm được, qua cách trình bày, qua trả lời câu hỏi của sinh viên để đánh giá kết quả.

-         Thi môn Kĩ thuật nông nghiệp – chọn một số môn học về trồng trọt, chăn nuôi để thi. Đây là cách kiểm tra lại sự hiểu biết các kiến thức nông nghiệp đã học trước khi ra trường.

Thực chất cuộc thi là đánh giá tổng hợp 3 nội dung chính của người kĩ sư kinh tế: trình độ lí luận, chất lượng thực hành kĩ sư và nắm vững một số kiến thức nông nghiệp cơ bản trước khi ra trường.

2. Thi môn Lí luận Mác - Lênin

Môn Lí luận Mác – Lênin thi chung cho tất cả các ngành học 4,5 năm, hình thức thi viết. Tuy nhiên ngành kinh tế có đề thi khác vì ngành chúng tôi được học nhiều hơn về số tiết. Tôi còn nhớ các giảng viên Khoa Mác - Lênin có 3 buổi phụ đạo ngắn, mỗi buổi chừng 2 tiết về Triết học, Kinh tế chính trị và Lịch sử Đảng. Thầy Đạm hướng dẫn phụ đạo môn Lịch sử Đảng nói với chúng tôi rằng trình độ các em ngành kinh tế nông nghiệp có thể đã đạt mức lí luận chính trị trên sơ cấp nên thi cử không đáng lo ngại, chẳng qua chỉ như thủ tục và thường không có ai trượt. Nhưng đạt điểm cao thì hơi khó, rất ít điểm 8-9, còn điểm 10 thì từ trước đến nay chưa ai đạt được. Tuy nhiên mọi người vẫn cố gắng ôn thi nghiêm túc.

Khi xem lại các nội dung hướng dẫn ôn thi, tôi nhận ra là các thầy đã chọn lọc và thu gọn lại nhiều. Triết học duy vật biện chứng chỉ còn nội dung vật chất và ý thức6 cặp phạm trù. Triết học duy vật lịch sử chỉ còn nội dung về chế độ xã hội và đấu tranh giai cấp. Kinh tế chính trị TBCN là giá trị thặng dư, Kinh tế chính trị XHCN nhấn mạnh quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội (là năng suất lao động ngày càng cao, hơn hẳn chủ nghĩa tư bản). Lịch sử Đảng tập trung vào sự ra đời của Đảngý nghĩa của lãnh đạo của Đảng trong Cách mạng Tháng 8 và Chiến thắng 1975. Khi ôn thi tôi thấy bất ngờ là nhiều người trong chúng tôi vẫn còn thuộc rất nhiều điều được học từ năm thứ nhất như khái niệm vật chất, khái niệm giai cấp của Staline, nội dung cơ bản của 6 cặp phạm trù… Rõ ràng thời trẻ chúng tôi đầu tư vào học để ghi nhớ những thứ này. Không chỉ vẫn còn thuộc sau gần 5 năm mà thậm chí cho đến nay tôi vẫn còn thuộc nguyên xi hai khái niệm về vật chất giai cấp. Đáng sợ quá, về hưu mấy năm mà nay viết đến chuyện này tôi lại vẫn lôi ra được 2 khái niệm đã thuộc từ 1975-1976. Đúng là rất khó tẩy não được những thứ đã đưa vào kiểu nhồi sọ thời tuổi trẻ. Nhân đây tôi nghĩ buông bỏ vật chất thì dễ, còn bảo phải buông bỏ tâm trí thì quá khó, chỉ có là đừng nghĩ đến chúng thôi cũng đã quá khó rồi. Cả một đời tha về đủ thứ, từ của cải vật chất đến kiến thức học hành, nay vứt bỏ thì vẫn đầy trăn trở!

Sáng 29-4 chúng tôi thi viết môn Lí luận Mác - Lênin. Hai lớp kinh tế 20A và 20B ngồi chung giảng đường 8 CLB cán bộ trong thời gian 180 phút. Ai cũng tập trung hí hoáy làm bài, chừng sau tiết thứ nhất là bắt đầu có người xin giấy thi viết thêm. Không ai ra trước giờ thi. Nộp bài xong mọi người đều thở phào bước vào chuẩn bị môn tiếp theo. Tôi đạt kết quả môn này là 7/10.

3. Bảo vệ báo cáo thực tập tốt nghiệp

a/ Hình thức bảo vệ

Báo cáo thực tập tốt nghiệp được đánh giá theo kiểu bảo vệ đề án: mỗi sinh viên được báo cáo nội dung đề tài thực tập trước một hội đồng chuyên môn trong thời gian quy định 20 phút. Phần trả lời câu hỏi của hội đồng khoảng 20-30 phút. Hội đồng tổ chức cho 3 sinh viên bảo vệ trong mỗi buổi. Cách làm này bắt buộc chúng tôi phải nắm rất vững nội dung thực tập để trình bày báo cáo và quan trọng nhất – cũng là lo lắng nhất – là trả lời được các câu hỏi của hội đồng. Hội đồng thường hỏi câu hỏi xoay quanh đề tài, tuy nhiên có nhiều thầy, cô hỏi cả các thứ liên quan, thậm chí không thuộc nội dung nghiên cứu.

Khoa tổ chức đồng thời 2 hội đồng thi, mỗi hội đồng gồm 7 thầy cô trong Khoa. Người ta xếp chung sinh viên 2 lớp thi theo thứ tự vần tên có lưu ý tính chất đề tài. Có một hội đồng chuyên về nội dung thực tập chăn nuôi, một hội đồng khác chuyên hơn về nội dung thực tập trồng trọt. Tất nhiên những người thực tập nội dung khác như ngành nghề, lao động, cơ khí… thì cứ xếp theo vần vào danh sách thi (với hội đồng thì nội dung nào cũng đánh giá được). Thành viên hội đồng gồm toàn giáo viên lâu năm, có kinh nghiệm, thường tuổi từ trên 40 mới được tham gia hội đồng.

b/ Chuẩn bị nội dung báo cáo

Bản báo cáo chính thức chúng tôi đã nộp cho giáo viên hướng dẫn. Nay mọi người phải lấy bản lưu của mình ra để chọn lọc nội dung trình bày báo cáo.

Sinh viên phải trình bày báo cáo nội dung qua các bảng biểu kẻ trên giấy A0 treo trước bàn hội đồng. Cái khó của nhiều người là lo mua được giấy A0 và lo nhờ được người kẻ bảng bằng mực tàu. Các năm trước, căng-tin nhà trường có phân phối giấy A0 cho sinh viên khóa cuối nhưng đến năm 1980 thì không còn nữa. Chúng tôi phải dùng mọi khả năng tìm kiếm để mỗi người có khoảng 7-10 tờ để giăng lên trước hội đồng. Về khoản này, tôi và anh Đĩnh may mắn mua được ở Hải Hậu khi lấy danh nghĩa cán bộ Tổng cục Trang bị kĩ thuật Bộ Nông nghiệp. Cũng nhờ có giấy A0 sớm nên tôi đã chuẩn bị xong nội dung và nhờ kẻ bảng từ trước khi thi môn Lí luận Mác - Lênin, vì thế nay khá nhàn, chỉ còn chỉnh sửa và tập trung nắm vững các nội dung báo cáo. Tôi còn được nhiều người nhờ kẻ bảng biểu. Tôi biết chia hàng, cột và sau đó có thể viết được các số, còn tên bảng và chữ lớn thì các anh Học, anh Thoại, anh Khang kẻ chữ đẹp làm là chính. Anh Học mượn được một phòng xép của người quen ở giảng đường tầng 2 CLB sinh viên nhìn ra KTX B1. Mấy ngày đó chúng tôi ôm bó giấy A0 lên kẻ bảng và tỏ ra oai lắm: ta đây là những kẻ cuối khóa sắp ra trường!

Sau khi có bảng biểu thì việc báo cáo thử diễn ra khắp nơi: trong phòng ở, trên sân thượng, ngoài hành lang… chỗ nào chăng dây treo được biểu thì đều có thể là chỗ báo cáo thử. Người báo cáo cầm cái thước hoặc que ngắn chỉ chỏ, mắt nhìn theo que chỏ, tay kia cầm mấy tờ giấy viết sẵn, miệng lảm nhảm Kính thưa hội đồng giám khảo, kính thưa hội đồng… Chỗ nào quên lại lấy giấy ra kiểm tra lại hoặc lấy bút chỉnh sửa, bổ sung thêm vào. Nhóm báo cáo thử bắt buộc phải mượn được cái đồng hồ để xem có kịp thời gian trong vòng 20 phút không. Sau đó đến lượt người này nghe cho người khác hoặc cả nhóm người nghe để học hỏi lẫn nhau. Vào những ngày cuối, ai cũng muốn mời được giáo viên hướng dẫn nghe cho 1 lượt. Các thầy thường hướng dẫn nhiều sinh viên nên cả nhóm hẹn với thầy nghe luôn 1 buổi.

Thầy Nguyễn Văn Quý hướng dẫn tôi với anh Đĩnh tổ chức nghe vào cuối buổi sáng ở hành lang góc tầng 2 nhà Học tập 4 tầng. Thầy nghe xong chúng tôi báo cáo, chỉ có vài góp ý nhỏ và bảo yên tâm rồi, cứ mạnh dạn trình bày. Thầy Quý lúc ấy hơn 30 tuổi, học trước tôi 5 khóa nhưng thầy đi bộ đội về, lại là thương binh. Thầy cũng chưa đủ tiêu chuẩn thành viên hội đồng. Mọi người đều muốn có thầy hướng dẫn của mình ngồi trong hội đồng để mong được hội đồng nể nang hoặc được che chở của thầy hướng dẫn…

Nói chung tôi chuẩn bị sớm nên nắm vững các nội dung cần trình bày mà không cần dùng giấy đọc (tuy vẫn phải mang kèm sợ bất chợt quên). Tôi chỉ còn lo vấn đề tâm lý khi đứng trước hội đồng hoặc các câu hỏi mà mình không trả lời được. Buồn cười nhất là mấy anh học mãi không thuộc nội dung báo cáo, cứ ấp úng, ngắc ngứ không trôi chảy nội dung trình bày. Khi bực quá nói đùa Kính thưa hội đồng tra khảo hay Kiến tha hội đồng giám khảo…

c/ Báo cáo trước hội đồng

Tôi được phân công báo cáo buổi đầu tiên theo vần ABC, ngay sau anh An lớp KT20B. Các thầy cô hội đồng tôi còn nhớ có tên 3/7 người gồm thầy Nguyễn Liễm, thầy Doãn Xuân Sắc, cô Đỗ Thị Ngà Thanh. Đây là hội đồng thiên về nội dung thực tập ngành trồng trọt. Đề tài của tôi là cơ khí nhỏ trong nông thôn được coi gần với nội dung trồng trọt vì liên quan đến các loại máy bơm, tuốt đập, lồng đất… phục vụ cây trồng.

Tôi tự tin trình bày nội dung trước hội đồng khá lưu loát. Tuy nhiên cũng mất gần 1 phút trấn tĩnh sự hồi hộp ở phần giới thiệu đề tài. Tôi thấy tất cả các thầy cô chăm chú lắng nghe. Bên ngoài cửa ra vào thấy lố nhố những người đứng xem vì tò mò hoặc để học hỏi kinh nghiệm, nhất là nghe phần hỏi của các thầy. Tôi gần như thuộc nội dung nên báo cáo chưa hết thời gian quy định đã hoàn thành.

Các buổi đầu thường các thầy, cô đặt nhiều câu hỏi. Tôi được hỏi và trả lời chừng 30 phút, phần hỏi đáp chiếm thời gian nhiều hơn phần trình bày báo cáo. Tôi thấy tất cả các thầy đều hỏi, kể cả các câu hỏi có tính chất tìm hiểu thêm như Tổng cục có cử người xuống Trạm Máy kéo Hải Hậu không, khi tính toán có ai giúp đỡ không… Nhưng tôi nhớ nhất là các câu hỏi của thầy Doãn Xuân Sắc. Thầy dạy môn kế hoạch nên hỏi rất kĩ về cách tính nhu cầu trang bị cơ khí nhỏ cho huyện, đặc biệt là xác định lượng nước tưới, mức nước tưới, diện tích bề mặt đồng ruộng, số lần tưới từng vụ... để cân đối với công suất máy bơm và quy ra số lượng máy bơm từng loại cần trang bị. Thầy Sắc và cô Thanh trao đổi nhỏ với nhau nhiều lần. Chuyện này tôi tự tính toán rất kĩ nên trả lời tốt. Sau khi nghe trả lời, tôi thấy thầy Sắc gật gù tỏ vẻ hài lòng.

Trong đợt thực tập, tôi may mắn gặp các chuyên gia như anh Long ở Tổng cục trang bị kĩ thuật Bộ Nông nghiệp, anh Bích ở bộ phận quy hoạch nông nghiệp để trao đổi các nội dung đề tài nên nắm được định mức trang bị. Vấn đề chính là xác định mức độ hoạt động cho từng khâu công việc thì tôi đã tính toán được đầy đủ số liệu nên rất yên tâm về nội dung báo cáo.

Khi xong tôi ra cửa thì mọi người nghe bên ngoài chúc mừng tôi, khen tôi trả lời được hết các câu hỏi. Có người còn nói nhìn thầy Liễm, cô Thanh, thầy Sắc vui vẻ, gật gù là yên tâm rồi… Tuy nhiên hội đồng không có ai kết luận gì nên không biết được điểm ngay sau khi báo cáo.

Bảo vệ xong tôi thấy sung sướng vì đã xong công việc mà nhiều người vẫn còn đang rất lo lắng. Tôi cũng thường lên nghe báo cáo của những người khác. Phải nói thêm chút về những tranh luận sau bảo vệ: mọi người đều cho rằng hội đồng hỏi nhiều vấn đề sâu sắc, thậm chí rất khó. Các thầy không hẳn nhận ra được khi chúng tôi tìm hiểu thực tế có vấn đề rất khác lí luận, vì thế có thầy không tin, không đồng tình. Khó nhất là từ các nội dung thực tiễn được các thầy yêu cầu tổng quát hóa tầm lí luận. Rồi lại có những thứ hỏi về các công việc khác mà không có trong nội dung thực tập. Tôi đơn cử vài trường hợp:

Một chị (xin không nêu tên) quê Thái Bình phát khóc ngay sau khi bảo vệ xong. Chị khóc khá to, vừa khóc vừa nói: “Khi đi làm thì thầy không nói gì, bây giờ lại bị hội đồng hỏi vào những thứ không làm? Phải thi lại thì khổ và oan quá!”

Một anh (cũng xin không nêu tên) nói: “Các thầy vặn vẹo đủ kiểu, nhìn thầy S. ngồi nghe mà như nằm, giống cái cày 51 trên hội đồng, vặn vẹo đủ thứ, toàn câu hỏi râu ria để ép sinh viên hết đường trả lời thì thầy mới thôi.” Ý là thầy hỏi nhiều câu ngoài phạm vi tìm hiểu của đề tài.

Nhiều người khác bảo: chắc qua rồi, hỏi thế làm sao trả lời hết được. Chỉ cần nhận được bằng kĩ sư rồi về “đi cày” kiếm cơm nhà nước là xong.

Giờ nghĩ lại kiểu thi như thế ai cũng nhớ rất lâu những câu hỏi của hội đồng. Từ kinh nghiệm của mình qua kì thi nên sau này làm giảng viên tôi biết những gì mình hỏi và khuyến khích sinh viên trả lời được thì chắc chắn họ sẽ nhớ rất lâu. Nhiều người tôi có dịp gặp lại sau này thường kể với tôi về điều đó, nhất là những câu hỏi và gợi ý của tôi trong hội đồng mà họ đã trả lời được.

4. Tôi được miễn thi môn Kĩ thuật nông nghiệp

Bảo vệ xong tôi lập tức chuyển sang ôn thi môn Kĩ thuật nông nghiệp. Môn này được chia thành 2 phần: phần chăn nuôi và phần trồng trọt.

Khoa tổ chức mời giáo viên phụ đạo, thực chất là hướng dẫn nội dung thi. Giáo viên môn chăn nuôi hướng dẫn chỉ ôn tập nội dung chăn nuôi trâu bò và chăn nuôi lợn (bỏ phần chăn nuôi gia cầm). Còn thầy Nguyễn Ngọc Kính phụ đạo dặn kĩ chúng tôi cây lương thực chỉ ôn cây lúa, cây công nghiệp chỉ ôn cây chè. Như vậy cũng không có gì đáng ngại lắm.

Khoa quy định như sau: đầu tiên mọi người phải ôn thi tất cả các nội dung của cả 2 phần. 5 ngày trước khi thi thì mọi người được bốc thăm phần thi để chia số người thi ra hai nhóm: nhóm thi môn trồng trọt và nhóm thi môn chăn nuôi. Khi được biết mình thi nhóm trồng trọt nên tôi tập trung ôn kiến thức về cây lúa và cây chè. Thực ra nội dung ôn cũng ngắn nên tôi cơ bản đã học xong cả 2 phần trước đó.

Cũng ngay sau đó tôi được thông báo là tôi đạt điểm giỏi trong môn báo cáo tốt nghiệp nên được miễn thi môn kĩ thuật nông nghiệp. Hình thức miễn thi có động viên chút nhưng chỉ công bố vào thời gian cuối nên coi tôi cũng đã ôn tập xong rồi.

Với kết quả thi tốt nghiệp của tôi: môn Lí luận Mác - Lênin được 7/10 điểm, Báo cáo tốt nghiệp được 9/10 điểm và miễn thi môn kĩ thuật nông nghiệp, nghĩa là tôi thuộc loại kết quả thi tốt nghiệp giỏi. Cộng với thành tích quá trình học của tôi thì khoa thông báo tôi có cơ hội để xét tuyển thành cán bộ giảng dạy khi khoa có nhu cầu tuyển dụng.

5. Hỗ trợ công việc văn phòng khoa

Khi được miễn thi môn Kĩ thuật nông nghiệp, tôi được triệu tập lên giúp việc ở văn phòng khoa. Tôi không rõ có những ai được miễn thi trong cả 2 lớp, nhưng chỉ có mình tôi được gọi lên phụ việc văn phòng khoa.

Một số thầy, cô thỉnh thoảng ghé qua văn phòng chúc mừng tôi đã thi tốt. Cô Thúy Mĩ hỏi tôi có thích ở lại khoa không? Lúc đó tôi trả lời rằng tôi có điều kiện gia đình khó khăn nên sẽ về quê xin việc để giúp đỡ gia đình. Cô nói: “Tùy thôi, có điều kiện tốt mà không ở lại khoa thì có người mơ cũng chẳng được.” Bác Thao – trợ lý tổ chức và cô Phương – nhân viên văn phòng giao tôi việc phụ giúp về hồ sơ. Thầy Thấu – Phó Chủ nhiệm Khoa khi ấy cũng đôi lúc hỏi thăm tôi. Thầy cùng quê Thanh Hóa với tôi nên cũng quan tâm đến điều kiện gia đình tôi.

6. Liên hoan ra trường, về quê chờ quyết định công tác

Thi tốt nghiệp xong, cả khóa có thời gian 2 ngày học chính trị cuối khóa trước khi ra trường và sau đó về nhà chờ phân công công tác. Theo quy định, Bộ Nông nghiệp cấp chỉ tiêu và Phòng Tổ chức của trường quyết định phân công cho từng người.

Vào dịp học chính trị, Tổ 1 quyết định tổ chức liên hoan chia tay (không rõ các tổ khác có liên hoan không). Chúng tôi liên hoan tại phòng 15, tầng 3, KTX A1.

Tôi không nhớ có những món gì, nhưng khi bàn bạc thì anh Học nói nên mua một con chó, trước khi đem về thịt thì xách chó đi qua Ban quản lý KTX cho nó kêu ẳng ẳng để trêu các bác hay bắt phạt sinh viên vi phạm quy định. (Hồi đó Ban quản lý KTX có bác Hiến - người Nam bộ - rất hay bắt sinh viên nấu nướng). Tuy nhiên vì sắp ra trường nên ai cũng sợ bị kỉ luật. Các anh lớn tuổi bàn rồi quyết định tổ chức nhỏ gọn, vui là chính.

Tối hôm liên hoan có uống rượu. Mọi nhiều ngồi trên sàn nhà, trời rất nóng lại mất điện. Ăn gần xong thì mới có điện. Toàn quần đùi cởi trần với nhau, anh Khuất Cao Nội bảo mọi người hát bài: “Cô y tá”. Đây là bài anh Nội hát cho chúng tôi nghe từ dạo tháng 12-1975, ngay những ngày gặp nhau của Tổ 1 năm thứ nhất. Đại loại là bài hát vui của đơn vị anh Nội chế giễu chuyện bộ đội đi khám bệnh chỉ được phát mỗi thuốc Atspirin[1], đau kiểu gì cũng Atspirin, Atspirin chữa bách bệnh. Các kiểu ốm trong bài hát là do bộ đội “liệt kê bệnh” để kiếm cớ tán chuyện với cô y tá xinh đẹp.

Thế là gần cả phòng đứng sát bên nhau hát (trừ các anh Nguyễn Đăng Hợp, Phan Xuân Lục, Phùng Đức Thoại, Nguyễn Đình Chình, Nguyễn Xuân Trí, Công Phương Kình…). Anh Nội lĩnh xướng hát to nhất. Gần chục người đỏ gay vì rượu, nhễ nhại mồ hôi vì nóng khoác tay nhau cởi trần đồng thanh gào:

“Đơn vị tôi có một cô y tá.

Mắt đen, má tròn, trông cô như một đóa hồng thơm ngát.

 

Rồi một hôm một anh đến bên cô:

Anh đau cái đầu, cô cho xin tí thuốc.

Cô xem qua loa, đưa anh 2 gói mang về.

Khi mở ra xem là At-sì-pi-rin

.

Rồi lại một hôm một anh đến bên cô.

Anh đau cái … dạ dày, cô cho xin tí thuốc.

Cô xem qua loa đưa anh 2 gói mang về.

Khi mở ra xem là At-sì-pi-rin.

 

Rồi lại một hôm một anh đến bên cô

Tôi đau cái…xxx cô cho xin tí thuốc.

Cô xem qua loa đưa anh 2 gói mang về.

Khi mở ra xem là At-sì-pi-rin.”

 

Thôi thì bịa ra đủ thứ đau để “xin cô tí thuốc”. Bài hát chỉ khác nhau “vị trí đau” còn thuốc thì vẫn chỉ là Atspirin.  

Một tối liên hoan cười ngả nghiêng, thỏa thích. Sáng hôm sau mọi người chia tay ra về, im lìm giải tán chờ công tác. Sau này bọn trẻ chúng tôi được gọi đi học sĩ quan dự bị. Phần này tôi đã có ghi chép trong mục Những ngày đầu quân ngũ[2].

7. Cuộc sống do duyên phận, mỗi người mỗi nơi

Những ghi chép có tính tổng kết về chương trình đào tạo[3] cũng như đánh giá về đào tạo kĩ sư kinh tế nông nghiệp[4] ở ĐHNN I thì tôi cũng đã có dịp trao đổi, nay xin không bàn thêm.

Một thời gian gần 5 năm bên nhau, tôi nghĩ mỗi người trong lớp KT20A chúng ta, dù thân hay không thân lắm, cả những người trong quá trình học chỉ nói chuyện với nhau một đôi lần, thậm chí không lần nào, nhưng tôi nghĩ chúng ta cũng khó quên nhau. Tôi còn nhớ một lần gặp anh Trần Duy Học, anh bảo: “Giá học xong, các chị trong lớp cứ cưới các anh trong lớp thì hay biết mấy. Không có nơi nào hiểu được nhau hơn hồi học đại học.” Tôi nghĩ anh nói cũng có lí! Tất nhiên thực tế là sau tốt nghiệp, mỗi người một nơi, cả lớp không có đôi nào cưới nhau.

Tôi có may mắn từ công việc giảng viên đại học nên được gặp lại rất nhiều anh chị em trong lớp KT20A. Có dịp tôi sẽ ghi chép chuyện gặp lại từng người - toàn chuyện vui, chuyện đáng gặp gỡ và viết lại.

Riêng tôi, với thời gian học đại học và sau này cũng tại ĐHNN I, tôi được vinh dự nhận bằng TS kinh tế, được công nhận là PGS, Giảng viên cao cấp, Nhà giáo ưu tú và còn được tặng Huân chương Lao động hạng III, tôi thấy cuộc đời vô cùng may mắn là được học ở đây, được gặp các anh chị em lớp KT20A, được sống trong những năm tháng đại học tuy gian khổ mà rất đáng tự hào.

Phải chăng ở KT20A ĐHNN I (khóa 1975-1980) - tôi thấy cuộc đời này thật đáng sống!



[1] Aspirin (acid acetylsalicylic) thuộc nhóm thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm, làm dịu các cơn đau từ nhẹ đến trung bình (nhức đầu, đau răng, đau cơ, cảm cúm).