Thứ Sáu, tháng 7 24, 2026

Những ngày chờ thi tốt nghiệp

Chúng tôi trở về trường từ cơ sở thực tập tốt nghiệp vào khoảng 10-3-1980. Ôn thi bắt đầu vào 20-4-1980 nên có khoảng hơn 1 tháng để chỉnh sửa báo cáo tốt nghiệp. Lúc này đa số anh em ở gần đều về quê để hoàn thiện báo cáo hoặc chờ thầy hướng dẫn góp ý rồi chỉnh sửa, do đó chỉ có rất ít người ở KTX. Ban KTX xếp các nam sinh viên KT20A và B ở phòng 4 tầng 1 nhà A1, nhưng tính ra cũng chỉ dăm người cả hai lớp.

Trong phòng có anh Nguyễn Mạnh Đ. lớp KT20B rất hay chuyện. Chuyện anh kể sự vui tếu thời đi bộ đội lẫn những chuyện anh trải nghiệm. Trước khi đi ngủ, tối nào chúng tôi cũng được nghe anh kể để cười với nhau. Dưới đây là 3 câu chuyện rất đáng nhớ, nhớ rất lâu, rất kĩ. Khi nghe xong cũng chỉ là cười, nhưng tôi cũng tự nghĩ biết đâu mình có thể học hỏi, bắt chước. Nay đã 70 tuổi mà nội dung câu chuyện thì còn nhớ nguyên, nhưng chưa từng bắt chước để áp dụng cho mình lần nào – vì thế tôi gọi là chuyện dễ gì bắt chước được!

Câu chuyện thứ nhất

Anh Nguyễn Mạnh Đ. kể chuyện hồi anh ở chiến trường làm lính trinh sát. Tôi không biết anh kể có đúng không, nhưng chỉ biết đó là những chuyện rất có lí.

Một trong những chuyện anh kể như sau: Hồi ở chiến trường anh đã xung phong vào lính trinh sát. Vì lính trinh sát rất nguy hiểm nên khi anh xung phong vào, anh đã được đơn vị tuyên dương về tinh thần dũng cảm, dám hi sinh. Anh nói, vì mình mưu trí nên tụi ngụy không thể bắt được, vả lại kỉ luật bọn ngụy không nghiêm nên đêm gác thường túm tụm hút thuốc. Mà thuốc salem của chúng thơm kinh khủng, nghe mùi thuốc là tìm ra bọn chúng đang ở đâu, thành ra bộ đội trinh sát ta vào căn cứ địch khá dễ dàng.

Khi đi trinh sát, việc quan trọng nhất là nắm được các điểm cần thiết để về báo cáo đơn vị như vị trí chỉ huy, nơi đặt súng máy, nơi lính gác đi tuần, giờ đổi gác… Đó là chuyện nhỏ. Chuyện khác tối cần thiết đối với mình là phải tìm được chỗ ẩn nấp an toàn khi quân ta bắt đầu tấn công vì đây là lúc bọn chúng có ưu thế nhất và bộ đội ta bị thương vong nhiều nhất.

Đến ngày tấn công, mình bao giờ cũng tìm cách đăng kí được suất đi đầu với nhiệm vụ vào trong căn cứ địch, xin nổ quả bộc phá đầu tiên làm hiệu lệnh xung phong. Là lính trinh sát nên biết rõ hơn căn cứ địch, vì thế bao giờ cũng được cấp trên đồng ý. Đúng giờ quy định thì nổ quả bộc phá vào điểm quan trọng làm hiệu lệnh tấn công. Mình vào trong chọn vị trí đánh bộc phá, đến đúng giờ quy định, mình làm “cái oàng” xong thì rút ngay vào chỗ hôm trước đã xem xét kĩ. Thế là 2 bên bắn nhau chết như rạ, mình nằm im trong chỗ ẩn kín chờ tàn cuộc chui ra. Các trận ta thắng thì yên trí thế nào cũng được tuyên dương, còn gay nhất những trận ta thua, không tấn công vào được thì rút ra mới là chuyện khó. Nhưng với tài mưu trí của mình thì sao mà lại không thoát được chứ. Có lần phải nằm lại bên trong căn cứ địch hôm sau mới rút ra trở về đơn vị. Mà những trận như thế mình càng được cấp trên tin cậy và tuyên dương.

Thế mới biết anh còn sống được để trở về hôm nay là cả quá trình mưu lược để thoát thân mà luôn được tuyên dương là người dũng cảm. Chuyện anh kể đúng sai thì khó kiểm chứng được nhưng cái có lí thì đã hẳn.

 Câu chuyện thứ 2

Khi anh Đ. nhập ngũ và chuẩn bị cưới vợ thì được lệnh đi B. Anh và người yêu thống nhất cứ cưới rồi đi B, sống chết có số. Nhưng bên nhà bố vợ khó tính lại sợ anh đi B hi sinh thì con gái mình khổ, thế là chưa muốn cho cưới. Anh còn nói người yêu mình cũng tưởng đã có thai rồi nên càng quyết tâm cưới. Còn mấy ngày nữa thì đơn vị đi B, anh nghĩ ra một kế: viết thư cho bố vợ, nhưng trong thư anh viết nội dung là như để gửi cho bố mẹ đẻ ra mình.

Đại loại thư viết như sau: “…Con và người yêu con đã thống nhất sẽ cưới trước khi con đi B vì chúng con đã có đứa con trong bụng vợ tương lai của con. Khi nào cháu sinh ra, chúng con nhất thiết phải nhờ bố mẹ giúp. Tuy nhiên bên gia đình bố vợ chưa muốn cho cưới vì lo con đi B không biết khi nào về. Con cũng vừa viết thư cho ông bố vợ tương lai nói rõ nếu ông ấy không đồng ý thì con cũng đành chịu vậy. Bây giờ con ra bưu điện gửi thư cho bố và ông bố vợ tương lai luôn để nói rõ tình hình, mong bố mẹ cứ yên tâm để con đi B và sau này có gì thì bố mẹ giúp đỡ nuôi đứa con cùng vợ con”…

Cứ tưởng anh ta cho nhầm thư vào phong bì, ông bố vợ tương lai nhận thư đọc thấy thế đành giục con gái báo ngay nhà trai để chấp nhận cưới gấp trước khi anh đi B. Đám cưới xong hơn chục ngày sau thì anh đi. Thật ra sau khi cưới, vợ mới có mang nên sau này anh cũng không lo bị chửi mà hai nhà đều nói (nói riêng với nhau thôi) rằng con so thì vẫn có thể đẻ dư ngày. Thế là xong được vụ “cản cưới” của ông bố vợ. Ngoài ra cũng vì động lực đã có đứa con nhỏ mà mình đã có rất nhiều mưu mẹo trong chiến trường hơn mấy thằng ranh như kiểu chúng mày bây giờ học hết đại học cũng chưa biết yêu là gì.

Câu chuyện thứ 3

Những ngày chờ thi tốt nghiệp, anh Nguyễn Mạnh Đ. hôm nào cũng đi cái xe đạp lọc cọc vào các làng quanh trường để lân la trò chuyện với dân. Anh có tài nói chuyện nên đi gặp dân kể vài chuyện bộ đội đánh nhau thì dân mê tít, cứ gọi là uống trà, hút thuốc lào thoải mái, có khi còn được bữa ăn miễn phí…

Hồi đó nhiều nhà dân đã mua được cái quạt “con cóc” của mậu dịch quốc doanh. Điện nông thôn thì chập chờn lúc có lúc không, lúc mạnh lúc yếu nhưng có cái quạt “con cóc” cũng là oai lắm rồi.

Trong lúc chuyện trò với chủ nhà, anh thường cầm xem cái quạt, khen chê một hồi rồi về. Khi về không quên nói với chủ hôm nào cháu rỗi lại ghé thăm bác uống nước. Vài ngày sau anh trở lại thì được nghe ông chủ nhà nói: "Cái quạt ‘con cóc’ dạo này chán quá, mấy hôm nay cứ chạy lờ đờ rồi nóng ran lên thành ra không dùng được, thôi ra sân ngồi cho mát". Anh cầm lên xem một hồi rồi nói: “Cái này cháu sửa được. Cháu về lấy đồ rồi vào sửa cho bác”.

Thế là quay trở lại với cái tuốc-nơ-vít cầm tay, anh tháo, chỉnh gõ một lúc thì quạt lại quay vù vù, cả chủ lần khách đều sướng. Ông chủ mời cơm và khen anh có tài, lại nhiệt tình, lần sau trong xóm có quạt nhà ai hỏng thì ông sẽ giới thiệu để anh giúp. Từ đó anh cứ lân la quanh xóm ấy một vòng, rồi thì quạt “con cóc” cả xóm đều có vấn đề và đều được anh chỉnh sửa “ngon lành” hơn cả trước khi mua về.

Anh bảo: “Có gì đâu, loại quạt này quay trên 2 cái bạc bên trong, tớ cứ cầm lên xem là vặn mạnh tay một cái, cái bạc lệch vị trí liền, thế là trục trặc, “quạt lành thành quạt què”. Hôm sau quay lại hì hục mở ra, gõ lại bạc đúng chỗ, thế là quạt lại ngon. Cứ thế tớ thành thợ chữa quạt cho cả mấy làng. Mình cho nó tí bệnh, mình có thuốc chữa nên hỏng lại lành 100%. Tha hồ “cơm bưng nước rót” lại có mấy đồng tiêu vặt chứ như lũ chúng mày, hơn hai chục tuổi mà chỉ xin tiền nhà, sau này vợ con chúng mày có mà ăn cám!”

Tôi cười nghĩ rằng trong chiến tranh chỉ có lính trinh sát cỡ như anh chúng ta mới thắng được giặc và anh không thể chết trong chiến trận được. Nay trong thời bình thì tất nhiên anh không thể “chết” vì nghèo được.

Sau này anh làm Chủ tịch huyện T. tỉnh Nam Định. Tôi gặp lại anh khi anh đến thăm con anh cũng học ở ĐH Nông nghiệp I. Tôi thầm nghĩ những người như anh thì chắc con anh khó lòng theo được tầm cỡ người cha. Con không hơn được cha là… gì nhở!!! 

Thứ Sáu, tháng 7 17, 2026

Thực tập tốt nghiệp – công việc thực hành kĩ sư kinh tế nông nghiệp (kì 2)

6/ Công việc thực tập

6.1 Thu thập số liệu

Giáo viên hướng dẫn là thầy Quý không nêu nội dung cụ thể gì cần phải làm nên tôi và anh Đĩnh phải chọn cho mình nội dung nghiên cứu. Về định hướng chung thì anh Đĩnh chọn nội dung cơ giới lớn, còn tôi là cơ giới nhỏ.

Công việc cơ giới lớn lúc bấy giờ là do Trạm Máy kéo quyết định gồm việc dùng máy kéo lớn để làm đất, vận chuyển. Ngoài ra còn có các trạm bơm tưới tiêu lớn tại huyện Hải Hậu. Tuy nhiên khi thực hiện sau này thì anh Đĩnh chỉ tập trung vào 2 việc lớn là làm đất và vận chuyển bằng máy kéo, chủ yếu bằng máy kéo MTZ của Liên Xô. Số liệu sử dụng cho đề tài phần anh Đĩnh thì ở Trạm Máy kéo đã rất đầy đủ. Toàn bộ kế hoạch năm 1979 đã có sẵn trong các hợp đồng giữa Trạm và tất cả các HTX trong huyện, còn kế hoạch năm 1980 thì cũng đã có vì Trạm vừa tổ chức hội nghị khách hàng với các HTX.

Nội dung cơ giới nhỏ thì không có nhiều số liệu trên huyện. Nhờ lần đi thực tế của KT20 hồi tháng 6, chúng tôi có được số liệu thống kê về các máy móc cơ giới nhỏ toàn huyện. Tuy nhiên số liệu này cũng có vài thay đổi vì một số trang bị thêm đôi khi chưa cập nhật. Vì thế tôi thấy cần phải đi thêm một số HTX để bổ sung tình hình đến cuối năm 1979.

Những tháng đầu tôi quan niệm cơ giới nhỏ gồm các máy móc sử dụng động cơ nổ chủ yếu là động cơ D12 (công suất 12 mã lực) do nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo sản xuất. Bao gồm động cơ sử dụng đa dụng các công việc trong HTX như lồng đất (ở những nơi máy kéo lớn không vào được hoặc các đầu bờ thửa), bơm nước tưới tiêu, tuốt đập, xay xát và vận chuyển. Tuy nhiên khi đi đến các HTX tôi thấy một số nơi còn dùng điện để sản xuất như xã Hải Bắc có máy dệt khăn mặt thủ công kiêm bán cơ khí, hay một số xã có máy xát gạo dùng điện chứ không chỉ dùng máy nổ.

Khoảng 2 tháng đầu tôi đi đến nhiều HTX. Đầu tiên là đến các HTX gần huyện như Hải Thanh (sát chợ Yên Định), Hải Bắc, Hải Trung, Hải Hưng, Hải Phương (nơi anh Tường thực tập) và Hải Đường (nơi Giang thực tập). Các HTX này cơ bản cũng đã có số liệu từ lần đi thực tế trước nên tôi cơ bản chỉ kiểm tra việc trang bị và hỏi về những vấn đề về sử dụng như tình trạng hư hỏng, công việc sửa chữa tại HTX, nhân lực sử dụng, chất lượng công việc sử dụng máy… Vì do không có chuyên môn kĩ thuật về cơ khí nên tôi cũng chỉ gặp được vài cán bộ để hỏi chung chung và cũng không thu lượm được gì lớn. Tuy nhiên nhờ có đi đến các HTX tôi phát hiện ra nhiều điều mới:

-       Ở Hải Phương, lần đầu tiên tôi biết máy bơm nước trục đứng: loại máy bơm này kết nối với động cơ D12 được đặt trên các thuyền nhỏ. Người ta chèo thuyền đến các khu vực cần tưới thì dừng thuyền để bơm nước từ kênh lên ruộng. Vì bơm ngay sát ruộng nên máy bơm trục đứng hút nước từ kênh và đẩy qua một ống sắt cong chừng dưới 1m đổ vào ruộng mà không cần các ống cao su như ở các trạm bơm khi có độ cao chênh lệch lớn. Các máy bơm này rất cơ động khi xử lý kịp thời công việc tưới ở các HTX.

-       Ở Hải Bắc, tôi thấy các máy dệt cơ khí dùng điện. Vì ở Hải Hậu lúc đó tất cả các HTX đều có điện, người ta cải tiến máy dệt thủ công thành máy dệt có mô tơ điện rất hiệu quả. Tuy nhiên nội dung này tôi chỉ nêu được số lượng máy ở HTX chứ không đặt thành nội dung cho đề tài.

-       Ở Hải Hưng, Hải Phương tôi phát hiện ra công việc quan trọng: người ta dùng máy công nông nhỏ sử dụng để kéo đá trên sân kho khi gặt lúa về. Lúa mới gặt được rải ra sân kho một lớp dày hình tròn, sau đó dùng máy công nông D12 kéo 2 hoặc 3 viên đá tròn. Các viên đá này được đóng vào một khuôn gỗ nối với đầu kéo. Người lái công nông lôi theo dàn đá để hạt thóc tách khỏi rơm, sau đó giũ rơm lấy thóc. Máy kéo nhỏ có 2 bánh lốp kéo theo 2 hoặc 3 viên đá nên chỉ đi 1-2 vòng là xong cho cả một sân lớn. Đây là kiểu cải tiến rất thông minh, đơn giản mà năng suất còn hơn dùng máy tuốt cố định. Tất nhiên ở các HTX đều có máy tuốt lúa gắn với máy nổ cố định.

Riêng về trang bị tôi nhận thấy không có nhiều thay đổi so với số liệu mà sinh viên đã thu thập hồi tháng 6 nên tôi quyết định không đi thêm các HTX. Vả lại hồi đó không có chuyện mua sắm tự do mà cơ bản đều được phân phối qua cơ quan vật tư huyện. Còn hỏi về các vấn đề kĩ thuật thì tôi không sâu về chuyên môn nên chẳng qua cũng chỉ sơ sơ khi nghe cán bộ kĩ thuật HTX mô tả những khó khăn như thiếu phụ tùng thay thế, không có cơ sở sửa chữa chuyên nghiệp, trình độ cán bộ cơ khí được đào tạo ngắn hạn… Đại loại thế.

Sau khi đến các HTX trên tôi còn được biết thêm về phong cảnh và hoạt động nông nghiệp. Tôi cũng tranh thủ thăm thú thắng cảnh như đến xã Hải Anh thăm cây cầu ngói cổ rất đẹp. Ngắm phong cảnh nông thôn: đồng ruộng, làng xóm, kênh mương tưới tiêu, bờ kênh là những đường đi rất đẹp trong nông thôn…

6.2 Về trường báo cáo tình hình

Cuối tháng 9, tôi bàn với anh Đĩnh về trường gặp thầy Quý bàn bạc về tình hình đề tài và xin ý kiến thầy về nội dung công việc tiếp theo. Khi gặp, thầy Quý cơ bản không góp ý gì về những nội dung chúng tôi đã thu thập và tình hình nắm được. Tuy nhiên thầy Quý gợi ý chúng tôi nên qua gặp anh Long bên Bộ Nông nghiệp để xin thêm ý kiến.

Tôi và anh Đĩnh qua gặp anh Long, anh khá bận nên chỉ tiếp chúng tôi được một lúc, cho mượn thêm vài tài liệu mới về đánh giá chương trình cơ giới toàn quốc. Ở Hải Hậu thì anh cũng không có chỉ đạo gì vì cơ bản Bộ cũng đã nắm biết được tình hình rồi. Tôi hỏi anh về kinh nghiệm đánh giá cơ giới nhỏ địa phương, anh bảo tôi: “Tổng cục không quan tâm nhiều về cơ giới nhỏ nên tôi cũng không có tư liệu. Nhưng có một anh tên Bích, cơ quan ở phường Phương Mai, đã nghiên cứu vấn đề này. Nếu cần thì em nên đến đấy hỏi thêm.” Hôm sau, anh Đĩnh có việc về quê, còn tôi tìm đến gặp anh Bích.

Anh Bích, khoảng gần 50 tuổi, là kĩ sư kinh tế Đại học KT-KH lúc đó đang ở Bộ phận quy hoạch thiết kế nông nghiệp (sau này là Viện Quy hoạch Thiết kế nông nghiệp). Anh niềm nở đón tôi trong gian nhà cấp 4 nơi anh làm việc, cho tôi mượn một số tài liệu nhưng anh cũng đề nghị tôi cung cấp cho anh những số liệu tôi thu thập được ở Hải Hậu. Nhờ tài liệu của anh Bích mà tôi có thêm một số kiến thức về trang bị cơ giới nhỏ. Các tài liệu anh cho mượn tôi đã hoàn trả đầy đủ khi đi thực tập về cùng với việc trao toàn bộ số liệu tôi thu thập được về cơ giới nhỏ ở Hải Hậu cho anh. Có một chi tiết tôi còn rất nhớ: Hồi trước khi đi thực tập tốt nghiệp, một hôm tôi ghé thăm Bách hóa Trâu Quỳ thấy có bày một cái cặp cán bộ giả da màu đen rất đẹp, có 2 khóa ấn vào hai túi trước. Tôi hỏi mua họ nói chưa có giá bán. Mấy hôm sau tôi lại đến ngắm và xin được xem. Cô bán hàng nói đây là hàng mẫu, không bán. Nếu có giấy giới thiệu thì có thể bán hạn chế. Tôi lấy giấy giới thiệu cán bộ Tổng cục Trang bị kĩ thuật đi công tác Hải Hậu cho cô xem, cô ấy băn khoăn một hồi rồi bán cho tôi. Tôi quý cái cặp này lắm. Khi về Hải Hậu tôi đã nhờ anh công nhân cơ khí gia cố thêm một cái nẹp sắt dưới tay xách để khi cặp có đựng vật nặng thì bảo đảm không bị biến dạng. Hôm về Hà Nội tôi có mang theo cái cặp này. Anh Bích khen: “Ái chà, cậu có cái cặp cán bộ oách quá, bọn tớ ở đây mơ ước mà cũng không mua được!” Cái cặp đó có giá 32 đồng (tức là gần bằng 2 tháng học bổng học sinh 18đ/tháng), vậy tôi đã dám liều “tậu” được một vật quý giá từ khi đang còn đi học.

Lúc trở về Hải Hậu, thầy Quý bảo tôi đi cùng thầy Đinh Văn Đãn. Thầy Đãn được bộ môn cử đi kiểm tra tình hình công việc thực tập của sinh viên ở Hà Nam Ninh. Thầy Đãn có xe đạp nên tôi và thầy sang Hà Nội rồi đi tàu về Ninh Bình. Từ Ninh Bình thầy Đãn đèo tôi về Yên Khánh – quê vợ thầy. Buổi trưa ăn cơm với gia đình bên vợ thầy. Ông bố và gia đình bên vợ đặc biệt chu đáo, quý thầy ra trò nên tôi cũng được đãi bữa ăn rất cao cấp, chân tình. Chiều hôm đó thầy Đãn đưa tôi về nhà thầy, hình như cũng Yên Khánh hay Yên Mô gì đó. Nhà thầy chỉ có một mẹ chừng khoảng 60 tuổi nhưng còn khỏe mạnh. Ngôi nhà tranh đơn sơ với cái sân đất nhỏ. Hồi đó đang có mưa nên bà nói nhà còn mấy ruộng lạc chưa kịp thu hoạch, rất lo lạc bị ngập nước hỏng mất. Thế là sáng sớm hôm sau tôi và thầy Đãn đi nhổ lạc cho bà. Nhổ từ sáng sớm tinh mơ đến trưa thì cơ bản xong, bốc hết lạc từ những ruộng đang xấp nước lên bờ và gánh về nhà cho bà phơi. Buổi chiều thầy Đãn đèo tôi về Hải Hậu, cách khoảng hơn 30km.

Ở Hải Hậu, tôi cũng không biết thầy Đãn đã đi kiểm tra những điểm thực tập nào, có đến chỗ anh Tường và Giang không?

6.3 Tiếp tục thu thập thông tin các xã mới

Sau khi lên trường báo cáo về, tôi thấy tình hình giao đề tài không rõ ràng gì cả. Thầy Quý có ý là chúng tôi xem bên Tổng cục Trang bị kĩ thuật muốn gì, nhưng anh Long có vẻ không quan tâm lắm. Thế là tôi bàn với anh Đĩnh tự sắp xếp nội dung đề tài nghiên cứu.

Anh Đĩnh về quê mãi sau hơn 1 tháng mới trở lại Hải Hậu nên trong lúc ở một mình tôi đã có chuyến đi đến 2 xã phía nam huyện là xã Trực Cường và xã Hải Thịnh. Chuyến đi này phần nhiều là muốn thăm 1 xã vùng Trực[1] và một xã miền biển để xem có gì thêm cho công việc đề tài. Tôi mượn xe đạp của Giang và một mình đến các xã này.

Tại Trực Cường, tôi đến HTX được tiếp với tư cách cán bộ Bộ Nông nghiệp như giấy giới thiệu. Tuy nhiên nội dung trao đổi của tôi quá đơn giản, HTX lại không được huyện thông báo đón tiếp nên người ta cho rằng tôi đi nghiên cứu cá nhân. Họ trao đổi ngắn gọn với tôi và gửi tôi cho bác bảo vệ HTX lo cơm nước và nghỉ qua đêm. Tôi nhớ các buổi ăn cơm cùng bác bảo vệ, bao giờ bác cũng bảo: “Chú làm dấu thánh giá đi rồi ăn.” Tôi bắt chước ông lấy tay làm dấu. Đây là vùng công giáo toàn tòng. Tôi không thu hoạch được gì đáng kể về chuyên môn nhưng có may mắn là được thăm nhà thờ đẹp ở Trực Phú[2] gần đó.

Hải Thịnh là một xã lớn, có bãi cát dài và dải phi lao sát biển rất đẹp (nay là khu du lịch Thịnh Long). Tôi cũng với tư cách cán bộ Bộ Nông nghiệp công tác được tiếp đón và trao đổi công việc. Sau đó được HTX bố trí ở trong một gia đình bác dân chài quê biển rất khỏe mạnh. Tôi ngủ lại nhà bác một đêm, bác rất chu đáo lo cơm nước, được ăn cùng gia đình bác. Tôi nhớ bác có vườn chấp[3] quả rất to nhiều nước. Bác bảo vùng đất này rất hợp với cây chấp nên nhà nào cũng trồng nhiều cây trong vườn. Tuy nhiên chấp khó bán vì ít người mua nên chỉ làm bột chấp thôi, nay chắc không còn ai trồng chấp vùng này (?) Buổi chiều tôi ra thăm biển thấy trong các rặng phi lao có những khẩu pháo vươn nòng ra biển. Bác bảo tôi đó là pháo của dân quân xã bảo vệ bờ biển.

Qua chuyến đi Hải Thịnh tôi có được một vài thu hoạch về chuyên môn: Vùng khí hậu ven biển có không khí nhiễm mặn nên máy móc hư hỏng nhanh, chi phí bảo quản sửa chữa tốn kém. Định mức chi phí lồng đất bằng cơ khí lớn vùng ven điển cao hơn vùng trong đồng. (Điều này tôi đã trao đổi với anh Đĩnh vì anh làm đề tài này). Đất màu ven biển pha cát nên có thể làm bằng công cụ thủ công, không cần công cụ cơ khí. Ruộng lúa ở đây phải ngăn mặn nên hệ thống tưới và tiêu nước khá hoàn chỉnh, đa số các cống, kênh và bơm cố định được đầu tư hoàn chỉnh, hoạt động rất tốt.

6.4 Bắt tay viết nội dung đề tài

Vì không được giao tên đề tài cụ thể nên tôi viết trước phần Tình hình trang bị cơ giới nhỏ ở huyện Hải Hậu. Cơ bản số liệu đã có qua thu thập của các nhóm sinh viên chuyến đi tháng 6 cộng với số liệu thu thập của huyện nên tôi nhanh chóng nháp xong phần này, dài gần 30 trang. Đại loại là tình hình trang bị chung (theo loại máy), sau đó chia theo các HTX và chia theo 4 tiểu vùng sinh thái của huyện. Trên cơ sở diện tích đất nông nghiệp, đất canh tác, đất lúa… đã thu thập được nên tôi đã tổng hợp cơ bản được thành số liệu phân tích để đánh giá mức trang bị theo tiểu vùng, theo HTX. Các máy móc cơ giới nhỏ căn cứ theo các báo cáo của Bộ Nông nghiệp được chia thành nhóm, gồm nhóm làm đất, vận chuyển, bơm nước, tuốt đập và xay xát. Các máy móc cơ khí có liên quan khác như máy dệt thì có đề cập ở mục tổng trang bị nhưng về đánh giá thì tôi lờ đi vì các nội dung nghiên cứu chủ yếu cho ngành sản xuất nông nghiệp.

Khi anh Đĩnh quay xuống Trạm Máy kéo thì tôi đã viết được hơn 40 trang nháp gồm phần Mở đầu và phần Tình hình trang bị. Anh thấy tôi viết được nhiều nên có vẻ hoang mang. Tôi bảo anh có số liệu rất đầy đủ về cơ giới lớn thì chỉ việc lập ra các bảng rồi đánh giá. Anh xem phần tôi viết để tham khảo đề cương và có vẻ sốt ruột khi thấy tôi đã làm được nhiều mà anh chưa viết gì.

Phần đề tài còn lại sẽ là gì là vấn đề tôi băn khoăn lắm. Suy đi tính lại tôi bàn với anh Đĩnh là nên làm theo hướng xây dựng kế hoạch trang bị. Hai anh em sẽ trên cơ sở đánh giá tình hình để đề xuất xây dựng kế hoạch trang bị cơ giới cho chuyện. Anh Đĩnh đồng ý và anh bắt tay vào sắp xếp số liệu qua các báo cáo trang bị và kế hoạch khách hàng năm 1980 vừa họp giữa trạm với các HTX để xây dựng kế hoạch.

Có một mục thuộc hoạt động cơ giới làm các trạm thủy nông và hệ thống cống điều chỉnh tưới tiêu của huyện. Khi anh Đĩnh về quê, tôi có đến làm việc với trạm Thủy nông huyện và được biết ở đây người ta đã có hệ thống tưới tiêu rất hoàn chỉnh. Nào là các thời điểm ngăn mặn, đóng mở cống lấy nước tiêu nước, vận hành các trạm bơm… Tuy nhiên tôi bàn việc này với anh Đĩnh xem nên có đưa vào nội dung cơ giới lớn của anh không thì anh cũng lảng tránh vì anh không đi thực tế thủy nông. Tôi chỉ quan tâm đến diện tích được tưới tiêu chủ động bằng hệ thống cơ giới lớn, phần còn lại của diện tích không được tưới chủ động thì tôi tính trang bị cơ giới nhỏ.

Xây dựng kế hoạch cơ giới nhỏ có nội dung rất khó là định mức trang bị. Tôi thu thập định mức trang bị qua các báo cáo của Bộ Nông nghiệp và đã tập hợp được định mức khối lượng vận chuyển phân bón, lúa từ ruộng về sân kho theo ước lượng khối lượng công việc của máy để tính số lượng trang bị. Định mức xay xát thì cơ bản theo số khẩu ăn và lương thực/khẩu trong năm. Cái khó nhất vẫn là định mức tưới tiêu vì nó liên quan đến diện tích tưới, số lần tưới, mức độ tưới ngập bao nhiêu mỗi lần tưới, kết hợp với thủy lợi lớn và lượng nước mưa tự nhiên. Toàn bộ phần trang bị cơ giới nhỏ của tôi gặp khó khăn nhất ở nội dung này.

Tuy nhiên sau khi nắm được diện tích cần tưới của cơ giới nhỏ, tôi đã hỏi thêm được nhiều nội dung về lần tưới, mức tưới để từ đó xác định được số lượng máy bơm cố định, máy bơm di động cho từng HTX rất cụ thể. Sau này Hội đồng đánh giá tốt nghiệp xoáy hỏi tôi nhiều câu hỏi khó nhưng tôi trả lời lưu loát, được hội đồng, trong đó quan trọng nhất là thầy Sắc, thầy Liễm, cô Thanh đánh giá cao đề tài tôi về khả năng tính toán và hiểu biết sâu thực tiễn. Tôi sẽ có thêm ghi chép về phần thi tốt nghiệp.

7. Những kỉ niệm với người cùng lớp đi thực tập

Tôi muốn có thêm phần ghi chép này vì chúng tôi có khá nhiều thời gian cùng ở Hải Hậu và cũng có nhiều kỉ niệm đáng nhớ. Có thời gian ở gần những người bạn, người anh cùng lớp, nay ngẫm nghĩ lại mới thấy đó là thời gian hạnh phúc, vì luôn có những người quan tâm và giúp đỡ mình. 

7.1 Với anh Dương Ngọc Đĩnh

Khi ở trường, tôi và anh Dương Ngọc Đĩnh rất ít khi nói chuyện với nhau vì anh thuộc nhóm các anh lớn tuổi hơn, lại ở tổ khác (tôi ở phòng Tổ 1 còn anh ở phòng Tổ 2). Anh Đĩnh có vẻ thân với anh Chiến, anh Trí trong Tổ 2 hơn cả. Quê anh ở Yên Mỹ gần trường nên các năm cuối có lẽ anh ít khi ngủ lại ở phòng KTX.

Tôi cùng thực tập với anh Đĩnh ở Hải Hậu, nhưng thực ra cũng không có nhiều kỉ niệm với anh Đĩnh lắm. Lí do chính là anh cũng ít ở Trạm Máy kéo. Thời gian thực tập cơ bản không có ai quản lí, giáo viên hướng dẫn thì không xuống thăm lần nào. Anh Đĩnh khi đó vừa sinh cháu nhỏ nên lo giúp vợ nuôi con. Anh lại đang có nhiều việc ở quê Yên Mỹ, Hải Hưng (nơi anh Khang và anh Hợp thực tập tốt nghiệp ở đây). Mỗi lần xuống Hải Hậu, tôi thấy anh kể nhiều chuyện phức tạp ở quê mà anh phải giải quyết, đại loại là những việc anh đã có cách xử lí riêng anh. Anh kể về từng việc đã được giải quyết như nhà đất, ruộng vườn… rất hứng thú nhưng chi li và dài dòng. Còn tôi thì vì nể mà nghe anh kể nhưng thực sự không thấy thích thú lắm.

Tính anh Đĩnh rất ưa hình thức, anh có đến mấy cái kính dâm Đức đẹp hay lấy ra khoe với tôi. Hồi đó anh cũng ưu ái để lại (giá rẻ) cho tôi một cái kính Đức gọng trắng. Cái gọng trắng sau này tôi đeo bị mọi người chê không hợp với khuôn mặt đen và gầy của tôi nên khi đi bộ đội tôi đã cho người khác. Áo quần anh Đĩnh cũng nhiều và khá chỉn chu, sạch sẽ. Anh cũng thích những thứ mà nhờ đi với anh tôi mới được trải nghiệm. Chẳng hạn, lần tôi với anh về Hà Nội, 2 anh em nghỉ một đêm ở nhà anh trai tôi. Chiều tối anh rủ tôi đi bộ xem phim ở rạp chiếu phim Chợ Mơ. Nhờ anh rủ mà lần đầu tiên tôi được đi xem phim rạp ở Hà Nội. Một lần khác, lúc sắp cuối năm anh rủ tôi đi chụp ảnh ở một hiệu ảnh phố Đông Biên. Cho đến nay tôi vẫn còn giữ được tấm ảnh này và vẫn còn nét bút anh ghi phía sau: “Nhớ mãi người Đoàn phó ngày thực tập Hải Hậu.” (Vì hồi đó, trên giấy giới thiệu của Tổng cục Trang bị kĩ thuật Bộ Nông nghiệp có tên 2 chúng tôi, nhưng ghi rõ anh Đĩnh là Đoàn trưởng).


Tôi rất ấn tượng với cách nói chuyện của anh. Anh nói chuyện với tôi hoặc với nhiều người khác, tôi thấy anh có lối nói khá giống nhau. Khi một ai đó nói ra lời bình hoặc một câu hỏi, anh luôn hỏi lại hoặc nhắc lại câu nói đó. Ban đầu tôi thấy lạ, nghĩ rằng hình như anh không kịp nghe chăng. Nhưng thực ra đó là cách để anh có thời gian suy nghĩ để phản ứng lại với người nói. Không bao giờ tôi thấy anh trả lời ngay dù là câu hỏi đơn giản nhất. Tôi nghĩ đó cũng là một cách hay vì anh không bao giờ bị động hoặc vội vàng phản ứng để hớ hênh khi nói chuyện. Có thể đó là cách nói là khôn ngoan của người từng trải. Hoặc khi từng ở chiến trường, anh đã học được cách nói chuyện này để chắc chắn anh sẽ không bao giờ quên khi nhận mệnh lệnh chiến đấu hoặc nhiệm vụ được giao từ cấp trên. Tuy nhiên tôi biết tôi không thể bắt chước theo kinh nghiệm của anh được.

Hồi làm đề tài tốt nghiệp, anh đùa rằng trong nội dung đề tài thì ai cũng có một vài con số bịa đặt và anh gọi là “hệ số phịa” nhưng sau anh bảo để cho có vẻ khoa học, ta gọi là “hệ số phi-a.” Một hôm anh bảo tôi: “Ảnh này, các tính toán phần tổng hợp rất chi tiết của Ảnh là tính toán thật hay là ‘hệ số phi-a’ thế?”

Tôi còn gặp anh nhiều lần sau này. Trước khi ra quân, tôi có về trường gặp anh Hợp và anh Đĩnh. Khi đó anh Hợp làm việc ở Phòng Tài vụ, anh Đĩnh làm việc ở Phòng Tổ chức. Nhờ gặp gỡ các anh mà khi trở lại QK9, tôi có mang theo được 2 giấy tiếp nhận công tác: một là giấy tiếp nhận của Ban Tổ chức chính quyền tỉnh Thanh Hóa (nhờ anh Khang xin để ra quân thì chuyển về Sở Nông nghiệp Thanh Hóa) và hai là giấy tiếp nhận của ĐHNN I (anh Hợp và anh Đĩnh cho rằng tôi cứ chuyển về trường rồi nhà trường sẽ phân công công tác theo chỉ tiêu của Bộ Nông nghiệp). Sau này tôi cân nhắc sử dụng giấy tiếp nhận của ĐHNN I để làm thủ tục ra quân. May thay thời đó tình cờ gặp thầy Trần Đình Đằng, thầy bảo tôi nên chuyển về công tác ở Khoa Kinh tế Nông nghiệp. Một nhân duyên để tôi trở thành giảng viên của Trường.

Tôi về trường một thời gian ngắn thì anh Đĩnh chuyển công tác sang Công ty Bông Trung ương (nơi Nguyễn Đình Chiến công tác) và sau đó anh vào công tác phía Nam. Những lần gặp mặt lớp KT20 tôi không thấy anh về dự. Anh định cư ở Sài Gòn và anh bị bệnh trọng mất tại Sài Gòn khi tuổi còn khá trẻ, chắc gần 60 gì đó. Nghe nói Giang và một số anh em ở Sài Gòn có gặp anh và gia đình anh khi anh chuyển về công tác ở một công ty bảo hiểm nước ngoài.

7.2 Với Trần Hữu Giang thực tập ở xã Hải Đường

Trần Hữu Giang thực tập ở Hải Đường được HTX quan tâm rất chu đáo. Người ta bố trí Giang ở nhà gia đình bác nông dân tên Chư (tên bác là Giang nhớ lại). Tôi đến thăm nhà bác để gặp Giang mấy lần, có khi đi bộ xuống chơi hoặc đến mượn xe đạp của Giang để đi đến các HTX. Cũng có vài lần Giang lên chỗ Trạm Máy kéo chơi với tôi, thường đi cùng với anh Tường.

Tôi không rõ thầy Đinh Văn Hiến hướng dẫn Giang làm về nội dung gì ở HTX Hải Đường. Có lần hỏi về trang bị cơ giới nhỏ ở HTX thì Giang bảo chẳng có gì nhiều, vẫn như số liệu lần trước anh em sinh viên đã thu thập gửi cho đoàn thôi.

Tôi rất thích nhà bác Chư mà Giang được bố trí ở trong thời gian thực tập. Có một ngõ nhỏ vào nhà bác, đầu ngõ có một cái ao nuôi cá khá to ngay sát nhà. Bờ ao trồng nhiều cây râm mát. Ngôi nhà ngói có một sân rộng vừa phải, kiểu nhà có trần hiên và một cái bể nước mưa to ngay cạnh nhà phía sát ao. Bên trong nhà gọn gàng, sạch sẽ. Giang được bố trí nằm ở gian cạnh buồng chái bên phải. Phía trước giường còn có chỗ kê bộ bàn ghế uống nước. Tôi thấy Giang xếp một số sách vở cạnh bàn, chắc là nơi Giang đọc sách và viết đề tài.

Bác Chư hiền lành, vui vẻ nhưng tôi đến chỉ chào Bác rồi vào nói chuyện với Giang, không có điều kiện hỏi han gia đình bác. Nghe nói HTX có hỗ trợ lương thực cho Giang và Giang được bác Chư nấu cơm ăn chung với gia đình rất tình cảm. Nhà bác có một nam thanh niên kém Giang vài tuổi rất hợp tính, nghe nói cùng đi câu, đi chơi quanh làng. Giang cũng có đôi lần lên huyện chơi nhưng nhìn chung rất ít di chuyển đến các xã khác. Chắc thời gian thực tập ở đây Giang cũng có lần về thăm nhà vì Giang có xe đạp và quãng đường về nhà cũng chỉ gần 50km. Nói chung Giang được số tốt may mắn thực tập ở đây, không phải đi lại nhiều như tôi và được gia đình bác chủ nhà cũng như HTX hỗ trợ ăn nghỉ chu đáo. Không biết sau này Giang có dịp nào về lại thăm nhà bác Chư không? Nhưng tôi nghĩ tình cảm của Giang với gia đình bác thì chắc chắn khó quên.

Một lần đến gặp bác ở cạnh bờ ao, tôi hỏi bác về cá nuôi trong ao. Bác nói có cá mè, cá chép là chính. Tôi còn được nghe bác Chư nói là cá mè ao có thể chế biến thành món gỏi[4] rất ngon. Bác nói về cách chọn cá mè làm gỏi phải là con vừa phải, không quá to. Đặc biệt gỏi ngon phải là cá tươi mới bắt từ ao lên. Thậm chí đồ làm gỏi còn phải chuẩn bị sẵn để chế biến ngay khi bắt cá lên. Món gỏi cá phải biết thái lớp để cá mè dù rất nhiều xương nhưng vẫn có thanh cá nạc, ăn không gặp xương. Món chẻo thì phải biết pha đủ độ sánh và đặc. Bột gạo rang xay mịn, rau sống dứt khoát phải có lá sung, quả sung bánh tẻ… Đại loại tôi còn nhớ bác nói nhưng chưa từng thấy ai chế biến món này và cho đến nay cũng chưa từng được ăn nên không hình dung hết cái ngon và cách chế biến cầu kì như bác kể. Chắc Giang ở nhà bác Chư đã từng được nếm món gỏi cá mè do chính tay bác làm.

Vườn nhà bác Chư có nhiều cây cối, rau xanh tự túc đủ ăn quanh năm nhưng không rõ nhà bác có loại cây ăn quả gì. Nghe nói xã Hải Đường có giống cam quý, nhiều nhà trồng được cam ngon để dành đến Tết mới đem bán. Mùa Tết, các xe ca từ Hải Hậu lên Hà Nội luôn có các sọt cam lớn chất đầy mui xe.

Vào dịp gần Tết, tôi đến thăm thấy Giang đã viết được kha khá đề tài thực tập tốt nghiệp. Lúc này cơ bản tôi cũng đã nháp xong một vài lần. Giang nghe tôi nói đã viết xong nhưng tỏ ra không sốt ruột gì. Tôi thấy tập giấy trên bàn xếp ngay ngắn bèn lấy mở ra xem thấy ngay trang đầu được viết khá đẹp. Dòng chữ đầu tiên vẫn còn nhớ: Hòa chung khí thế kỉ niệm 5 năm ngày miền Nam giải phóng… Cái chữ H hoa được Giang tô bay bướm khá bắt mắt. Cho đến khi về trường hoàn chỉnh đề tài nộp bản chính thức, tôi vẫn thấy Giang giữ nguyên câu này với nét chữ H viết hoa như lần đầu tiên viết nháp ở Hải Đường.

Cũng như đi thăm các nơi khác, tôi chưa bao giờ ở lại ăn cơm cùng Giang và gia đình bác Chư. Cái hồi bao cấp này thật khó có thể tiếp nhau được bữa ăn đạm bạc. Giang có thể cũng ngại mời tôi vì tiêu chuẩn ăn đã được gửi nhờ bác chủ, còn gia chủ cũng ngại mời khách vì đến chơi đột xuất chẳng lẽ mời mà vẫn cơm nước như thường lệ. Hơn nữa tôi đến lại thường chủ động nói phải về để kịp giờ bữa ăn bếp tập thể, không có điều kiện lưu lại lâu hơn (hồi đó không có quán ăn uống ngoài đường). Vì thế dù cách chỗ Giang chưa đến 5km nếu đi qua cầu ở xã Hải Quang, nhưng nếu đi nhờ thuyền qua sông Múc phía Hải Phương thì chắc chưa đầy 4km, nhưng tôi bao giờ cũng về Trạm Máy kéo ăn cơm đúng giờ.

Còn nhớ hôm 2 đứa cùng từ biệt Hải Hậu về trường, khi đến Hà Nội thì trời đã tối nên tôi và Giang vào nhà anh trai tôi ngủ lại qua đêm. Khi đến nhà anh thì tôi nghe tin mẹ tôi đã mất cách đó 1 tuần. Giang ngủ cùng tôi đêm đó và sáng về trường, còn tôi đi tàu về quê viếng mẹ. Chắc Giang còn nhớ thảm cảnh của tôi khi nghe tin mẹ mất ở quê xa mà không được về gặp lúc mẹ lâm chung.

7.3 Với anh Nguyễn Văn Tường thực tập ở xã Hải Phương

Anh Tường được phân công về xã Hải Phương thực tập. Xã Hải Phương thì rất gần chỗ tôi ở, nếu nhờ được thuyền qua sông Múc thì đi bộ đến chỗ anh Tường chỉ khoảng 1km, còn đi qua Yên Định rồi đến Hải Phương chừng hơn 3km.

HTX Hải Phương bố trí anh Tường ăn ngủ tại nhà chị Điền - nơi lần trước anh Hòe và anh Bính, chị Thanh đã ở. Nhà chị Điền như tôi đã mô tả ở ghi chép trước: nhà thoáng mát rộng rãi, rất gần khu trung tâm xã. Gia đình chị có cụ già và mấy em nhỏ, chồng chị đi làm xa lâu lâu mới về nhà. Gia đình chị Điền rất chu đáo nên anh Tường được bố trí ăn ở khá tiện lợi, lại rất gần nơi làm việc của Ban quản trị HTX. HTX cũng hỗ trợ anh Tường về lương thực nên anh cũng không phải lo lắng gì về ăn ở.

Anh Tường nhìn qua thì là kiểu người khó gần vì anh ít nói, trông kiểu trai lơ, phớt đời dân đất Cảng. Anh không hiểu lý do gì mà phải chuyển từ KT19 xuống KT20 vào năm thứ 3 (cùng anh Tuấn Nhái và chị Nguyên). Mắt anh cận nhưng không đeo kính nên các anh KT19 gọi anh là Tường cận. Khi quen với anh thì tôi thấy anh cũng hiền, ít nói nhưng ngay thẳng. Hồi đầu đi thực tập anh không mang xe đạp đi, nhưng sau đó về nhà lấy xe đạp xuống Hải Hậu. Tuy có xe đạp nhưng anh chẳng đi đâu nên đôi khi tôi đến mượn xe của anh đi các xã.

Anh ngủ đúng cái giường ngày trước Bính và anh Hòe nằm, mấy lần tôi xuống thăm đều thấy anh nằm trên giường hoặc ngồi đọc hay viết nhưng giường chiều lôi thôi không gấp chăn màn. Tôi vẫn nhớ cái vỏ chăn màu lam bộ đội rối tinh trên giường, mà sao anh không nể gia chủ xếp lại gọn ghẽ? Chắc chị Điền cũng dễ tính nên không thèm để ý đến tính cẩu thả của anh.

Tôi vẫn nhớ kiểu anh câu chuyện bên điếu thuốc lào, chân co trên ghế, mắt cận nhìn xa xôi. Ngồi nói chuyện với anh phải quen mới thấy anh có cái duyên ngầm. Tuy nói hơi văng mạng chút, nhưng rất chậm, rề rà vài câu rồi cười tủm không ra kiểu gì cả nhưng nhìn thì hơi phớt đời. Tôi chẳng khi nào thấy anh nói gì về đề tài tốt nghiệp. Anh bảo số liệu thì HTX có đủ cả, nhưng chẳng biết phải làm gì, chép đầy mấy tập giấy rồi thôi không phải lên gặp gỡ gì nữa. Mà có lên gặp thì cũng vậy thôi. Vào khoảng tháng 11, tôi hỏi anh khi nào viết xong, anh nói ở đây không làm được gì cả, chắc phải về trường hay về nhà mới viết xong được. Tôi hiểu anh có cách làm riêng cho anh, có khi phải có áp lực thì mới tiến triển chăng?

Anh lại cũng mấy lần về quê Hải Phòng nên số gạo HTX hỗ trợ và số gạo tiêu chuẩn dư thừa không ăn hết. Một hôm tôi xuống chơi, anh rủ tôi mang gạo đem lên chợ Yên Định bán. Hai anh em đứng bán gạo ngay cạnh cổng chợ. Nếu mọi người nhìn vào chắc thấy kì lắm: Anh Tường quần loe áo bó đứng bên bao gạo mở túi bao ra, còn tôi đứng cạnh. Cả hai đều thẹn thò vì thanh niên có ai đi bán gạo giữa chợ? Một lúc lâu không có ai hỏi vì có khi người ta cũng không biết chúng tôi bán gạo. Sau có một bà chị đến xem và chê nọ kia và trả rẻ, anh Tường cũng bán cho xong vì chắc cũng ngại đứng giữa chợ bán gạo. Anh bảo tiền bán gạo sẽ mua vải may áo. Tấm vải anh mua may áo màu xanh đen có rất nhiều chấm trắng li ti thẳng hàng khá đẹp. Anh mặc áo chẽn này với quần loe rất hợp với kiểu trai lơ, mắt cận không kính, dáng cao gầy nghênh ngang kiểu hơi bất cần đời. À, cái hôm đi bán gạo xong, anh rủ tôi đi ăn bánh chưng bà Thìn. Tôi được ăn cái bánh chưng nổi tiếng ở Hải Hậu cùng anh Tường, cho đến nay vẫn chưa quên cái thơm ngon của bánh và chưa quên lòng thơm thảo của anh Tường đãi bạn.

Sau này, hồi tháng 9-1980 (khi đã tốt nghiệp và học xong sĩ quan dự bị) tôi còn nhớ gặp anh Tường ở buổi đi khám tuyển nghĩa vụ quân sự theo giấy báo của ĐHNN I. Chờ ở phòng kết luận, anh bảo tôi: “Người ta bảo tao bị cận thị nặng không trúng tuyển, nhưng tao xin đi cho khỏi phải về quê xin việc.” Còn tôi thì hội đồng tuyển nghĩa vụ quân sự bảo tôi bị thủng màng nhĩ cả hai tai, nhưng bị từ bé nên có đi bộ đội cũng không sao!

7.4 Thăm gia đình anh Phạm Trọng Tuệ

Anh Phạm Trong Tuệ hơn chúng tôi gần chục tuổi, không rõ anh thuộc cán bộ đi học hay bộ đội chuyển về. Tính anh Tuệ cũng nghiêm túc, ít nói, lại ở phòng Tổ 3 nên trong quá trình học tôi cũng được tiếp xúc với anh không nhiều.

Cũng nhờ đến các HTX nên lần về xã Hải Thanh, tôi đã gặp được vợ chồng anh Tuệ ở đây. Khi đó vợ anh đang dạy học ở xã Hải Thanh, anh Tuệ và chị cùng con nhỏ ở một phòng tập thể của trường. Vợ anh to cao, hơi mập, trắng trẻo hay chuyện. Trong gian phòng tập thể nhỏ sơ sài, anh nói hiện nay tớ thường xuyên ở đây với vợ mặc dù nhà anh ở xã Hải Trung, cách đấy chừng 4km.

Vì tôi đến làm việc với HTX nên ghé thăm anh chị một lát rồi về Trạm Máy kéo (hôm đó đi bộ). Hồi đó thăm nhau nhưng rất ít khi mời nhau ăn uống vì thời bao cấp kinh tế khó khăn lắm. Cũng như tôi đến thăm anh Tường ở Hải Phương hay Giang ở Hải Đường nhưng không bao giờ ăn uống cùng nhau.

Sau đó hôm về xã Hải Trung công tác thì tôi lại được vào thăm nhà riêng anh Tuệ ở chính quê anh. Nhà anh có một vườn mía to trước nhà. Một ngôi nhà anh chị đang đang xây dở dang, chưa xong cả tường và mái. Tường mới được xây xong vài bức nhưng phần gỗ trên mái đã hoàn chỉnh. Mái nhà cũng chỉ là lợp tranh lá mía sơ sài. Chắc anh chị cũng phải dành dụm nhiều năm mới nữa có điều kiện hoàn thiện ngôi nhà khá to này. Đồ đạc trong nhà rất ít vì lúc này anh chủ yếu ở với vợ con trong gian nhà tập thể trường xã Hải Thanh. Cũng như lần trước, tôi ghé thăm gia đình anh một lúc rồi về, không ăn uống gì cùng gia đình anh chị.

Có điều tôi không nhớ được là hồi đó anh Tuệ đi thực tập ở đâu, nội dung thực tập do bộ môn nào hướng dẫn. Và tôi cũng không hình dung được làm sao tôi lại liên lạc được để thăm anh cả ở Hải Thanh và ở quê Hải Trung – mà cả 2 lần đều gặp cả anh và chị.

8. Về vùng đất, con người Hải Hậu

Có thể nói Hải Hậu là vùng đất có văn hóa cao, nông sản trù phú, con người siêng năng và cần cù lao động. Hải Hậu có khung cảnh nông thôn rất đẹp: những cánh đồng xanh mướt bao quanh làng xóm. Đa số các xã đều có những nhà thờ công giáo đẹp, cao vút trong các làng mạc trông rất nên thơ. Là vùng đất quê mới[5] nên Hải Hậu có nhiều kênh mương đào đắp mấy trăm năm qua, các bờ kênh đều có đường đi ngay thẳng. Dân cư sống bình yên theo lề lối công giáo nên rất ít các tệ nạn tiêu cực. Người dân chăm chỉ lao động, trình độ thâm canh cao. Đường giao thông, kênh mương tưới tiêu, trường học cơ bản khá hoàn thiện. Có một thời gian tôi nghe nói nước ta đón đoàn cán bộ Lào thăm Hải Hậu, người ta phát biểu rằng dân tộc Lào mơ ước có được mô hình XHCN như Hải Hậu (?)

Trước hết, về thâm canh nông nghiệp, Hải Hậu có tiếng về năng suất lúa cao, kinh nghiệm canh tác phong phú, là nơi được coi là điển hình thâm canh lúa xuân trong công cuộc cách mạng nông nghiệp do GS Bùi Huy Đáp thực hiện. Chính GS Đáp đã cử ông Nguyễn Đức Triều, một cán bộ của Viện về Hải Hậu công tác để phát triển phong trào lúa Xuân vùng Đồng bằng Bắc bộ.

Nếu hiểu đúng nhất từ “bờ xôi ruộng mật” thì phải nói đến Hải Hậu. Ở đây người ta tận dụng đất đai tối đa: tất cả các bờ đường trong đồng, các kênh mương, các bờ ao, lối đi… đều được bồi kê một lớp bùn để trồng cây khoai nước, một sản phẩm có tiếng ở Hải Hậu. Khoai nước có thể thay lương thực chống đói cho người và chăn nuôi rất tốt. Khoai nước ở đây được chăm sóc cẩn thận, giống tốt nên củ to, bột bở trắng, khi luộc hay đồ lên ăn rất thơm ngon. Để dự phòng, người ta có cách thái nhỏ, phơi khô làm thực phẩm dự trữ lâu ngày.

Hải Hậu khi đó có nhiều cây trái trong vườn, nổi tiếng thơm ngon là cam, chanh, chuối. Bến xe ca từ Yên Định hàng ngày chạy lên Hà Nội bao giờ cũng chất đầy hoa quả trên nóc xe. Cam ở đây ngon, là của hiếm được dành bán trên Hà Nội vào dịp Tết. Người dân ở đây kể với tôi về cách để dành cam đến Tết bán: lấy mật mía trộn với vôi bôi lên núm quả, sau đó vùi vào cát chôn sâu xuống đất thì có thể để được mấy tháng cam vẫn còn tươi. Quả chấp thì to, mọng nước có thể vắt ra cái mâm nhôm rồi phơi nắng làm bột chua. Xã Hải Đường nơi Giang thực tập có nhiều giống cam, chấp rất nổi tiếng.

Con người Hải Hậu siêng năng cần cù, giỏi thâm canh. Chỉ riêng chuyện người ta dùng cái móng để lật đất vườn đủ biết trình độ thâm canh cỡ nào. Vườn nhà cứ vài năm lại lật đất từ dưới lên trên, kiểu xới đất đến tận cùng, sâu hàng 40-50cm.

Ở Hải Hậu có đặc sản“bánh đa Ninh - bánh chưng Thìn.” Tôi chỉ còn nhớ hai thứ trong một câu liên quan đến 4 sản phẩm nổi tiếng ở đây. Bánh đa Ninh Cường thì chưa được nếm nhưng bánh chưng Thìn thì ở ngay bến xe Yên Định, tôi và anh Tường đã được trải nghiệm. Một hôm anh Cư ở Trạm Máy kéo nói với tôi rằng Hải Hậu có món ngon đặc biệt, mỗi tháng anh đều phải nếm: đó là bánh chưng bà Thìn. Cái biển ghi chữ “Bánh chưng bà Thìn” trên tấm bìa giắt bên cửa, bên trong có hàng ghế ngồi và bán nước chè. Bánh bán chạy và bà Thìn cũng làm có hạn nên không phải lúc nào cũng có. Lí do là hồi đó không thể mua được thịt lợn để làm nhân bánh. Do thịt lợn cấm bán nên bánh chưng bà Thìn cũng chỉ là kiểu bán chui, không dám lộ diện công khai. Hôm tôi và anh Tường ăn buổi chiều tối, tôi thấy một cái bánh 2 hào to chừng nắm đấm trẻ con, được gói theo kiểu bánh ít, không vuông. Bánh vẫn nóng, khi bóc gói lá mỏng là đến lớp gạo nếp trắng. Chỉ cắn nhẹ vào là răng ngập ngay vào miếng thịt mỡ lợn lớn, mềm thơm trong lớp đậu xanh mỏng. Thật ra rất ít gạo nếp, bánh gói khá mỏng và miếng thịt lợn nhiều mỡ khá to làm nên vị ngon nổi tiếng. Ăn bánh chưng bà Thìn thực chất là được ăn miếng thịt lợn nhiều mỡ. Hồi bao cấp đói kém được ăn món bánh chưng này thì tất nhiên ngon phải biết!

Vào năm 2021, tôi có dịp đưa đoàn khách đi du lịch Hải Hậu. Nhân đó tôi có giới thiệu đặc sản bánh chưng bà Thìn. Anh lái xe nói thương hiệu đó nay vẫn còn nổi tiếng. Tôi bảo lái xe dừng để mọi người mua và ăn thử. Khi ăn xong các phát biểu khen không nhiều, nhưng chê bánh quá nhiều thịt mỡ. Nay bà Thìn đã mất mà vẫn giữ nguyên cách làm bánh truyền thống khi xưa. Chỉ tội bây giờ nghe nói bánh nhiều thịt mỡ thì không còn ngon như thời bao cấp nữa. Món ngon theo thời gian đã không còn được khen dù nó vẫn y nguyên lối làm bánh cũ. Cái ngon mỗi thời mỗi khác, thời ăn kiêng đã không còn giống thời xưa đói kém!

Dân Hải Hậu biết ăn chơi, kiểu đồng hồ quả lắc Pháp có đổ chuông khá phổ biến trong các gia đình khá giả. Nhiều người có xe máy rất sớm. Các gia đình biết trồng hoa, chơi hoa, cây cảnh. Làng quê thanh bình, chiều chiều tiếng chuông nhà thờ vang xa trong cảnh làng quê hoàng hôn đẹp rất nên thơ đáng nhớ. Ở đây hồi tôi thực tập thấy có tục thứ 7 dân chúng ăn mặc đẹp đi lễ nhà thờ. Cảnh cha mẹ đi bên các con, cảnh nam nữ thanh lịch ăn mặc đẹp đến nghe lễ thánh chiều thứ 7 rất ấn tượng. Có lần tôi và anh Tường cùng đến ngắm và vào nhà thờ nghe ban hát thanh ca toàn các em gái trẻ xinh đẹp. Các vị cha xứ ăn mặc hành lễ trang nghiêm. Có thể nói đây là nét quê yên bình và no ấm thời bấy giờ.

Người dân Hải Hậu rất quý nước mưa. Nhà nào cũng có một cái bể nước mưa lớn nước dùng quanh năm. Món mắm cáy mặn cũng ngon rất nổi tiếng. Ngày nay, Hải Hậu có món gỏi nhệch rất ngon, thay thế món gỏi cá mè (vì cá mè có nguy cơ nhiễm sán cao nên người ta không dám ăn nữa). Nhệch là loài sống nước lợ nên cơ bản được coi là không có các kí sinh trùng sán như cá nước ngọt.

9. Vài lời tổng kết

Như tôi đã nói ở phần đầu, kiểu thực tập tốt nghiệp là bài tự học cuối cùng trước khi thành kĩ sư kinh tế nên người ta “thả sinh viên” vào thực tế làm quen từng bước. Tôi bỗng nghĩ giống như ngày nay ở mấy trạm cứu hộ động vật, ban đầu người ta nuôi nhốt rồi cho động vật làm quen với tự nhiên và dần dần thả trở lại rừng sâu, bảo đảm chắc chắn chúng kiếm sống được không cần người nuôi dạy.

Quan sát thực tiễn để liên hệ với bài học, nhưng thực ra chẳng có bài học nào giống với thực tiễn. Tuy nhiên phải qua thực tiễn mới thấy sáng ra được cái cần học. Anh Lê Ngọc Lan kể hồi anh đi thực tập ở Hải Phòng, thầy Doãn Xuân Sắc giao cho anh đề tài khó về chu chuyển đàn lợn ở HTX. Tôi nghĩ nhất định anh sẽ học được nhiều điều từ thực tiễn khó hơn rất nhiều so với cái bảng chu chuyển kế hoạch của thầy Sắc minh họa trên bảng hồi dạy môn Kế hoạch nông nghiệp. Tuy vậy tôi vẫn nghĩ nếu các thầy giáo ngay từ đầu giao rõ cho chúng tôi một tên đề tài thì tốt biết bao. Tôi và anh Đĩnh phải thực tập hơn 2 tháng mới tự tìm ra cho mình nội dung cần làm.

Cái rất quan trọng ở người kĩ sư kinh tế nông nghiệp là phải va chạm thực tiễn và từng bước học về công việc, nhưng không thể bỏ qua kiến thức xã hội và con người. Đây mới thực sự là bài học quý. Vốn xã hội được hình thành rất rõ nét trong những ngày chúng tôi đi thực tập. Từ những ngày thực tập, đám trẻ chúng tôi học được rất nhiều về tính nhân văn. Về trường rồi mà vẫn thấy trong đầu ấn tượng về thực tế quanh mình có rất nhiều người tốt. Qua bạn bè, qua những người ở cơ sở giúp đỡ mình mà mình biết cảm ơn, trân quý mọi người hơn.

Khi đó, đám trẻ chúng tôi có thể còn đôi chút phiến diện, nhưng nó là hành trang may mắn cho thế hệ chúng tôi tin tưởng đi vào cuộc sống.

 



[1] Lúc đó Huyện Trực Ninh có một số xã thuộc huyện Hải Hậu.

[2] Đó là Đền Thánh Đức Mẹ Mân Côi Ninh Cường (tọa lạc tại xã Trực Phú).

[3] Cây chấp họ cam chanh, quả hơi sần, nhiều nước nhưng vị rất chua.

[4] Món gỏi cá mè nay gần như không còn vì người ta phát hiện nhiều người bị nhiễm sán khi ăn gỏi cá mè.

[5] Theo https://tri8x.violet.vn/entry/show/entry_id/8797459, Xã Quần Anh là địa danh đầu tiên của mảnh đất Hải Hậu từ 1511. Năm 1888, thành lập huyện Hải Hậu gồm 4 tổng: Quần Anh, Kiên Trung, Ninh Nhất, Tân Khai. Các vị Thuỷ tổ sáng lập là Trần Vu, Vũ Chi, Hoàng Gia, Phạm Cập, Vũ Duy Hoà, Nguyễn Công Trứ, Đỗ Tông Phát cùng với Cửu Tộc: Lại, Nguyễn, Lê, Bùi, Phan, Đoàn, Đỗ, Trần, Vũ.

 

 

 

Thứ Ba, tháng 7 14, 2026

Thực tập tốt nghiệp – công việc thực hành kĩ sư kinh tế nông nghiệp (kì 1)

1/ Một cách trải nghiệm thực tiễn trước khi tốt nghiệp đại học

Thời chúng tôi đi học, kĩ sư kinh tế (người thầy về kĩ nghệ) phải trả qua 4 năm học lí thuyết theo chương trình được thiết kế gồm kiến thức cơ bản, kiến thức cơ sở và chuyên môn, rèn luyện thực hành, trải nghiệm độc lập quan sát thực tế bằng những đợt lao động, thực tập giáo trình. Người ta thiết kế đào tạo kiểu người kĩ sư như là một nhân vật phải hiểu biết chung chung nhưng toàn diện, nắm được thực tiễn từ khi còn trong nhà trường để học xong là có thể đảm đương công việc với khả năng tự giải quyết các vấn đề trong công tác.

Thật ra, cách học này theo đánh giá ngày nay thấy có quá nhiều thiếu sót, hạn chế. Cách đào tạo đó làm sao thành được người tài năng trước thử thách phức tạp của cuộc sống. Nhưng dưới chế độ “bao cấp xã hội chủ nghĩa” thì đây là cách kiếm cơm áo lương thiện, không vụ lợi. Tuy rất ít cơ hội thăng tiến nhưng cơ bản bảo đảm mức sống dưới trung bình của xã hội và quan trọng nhất con người vẫn còn lương tri, còn niềm tự hào, còn tinh thần cống hiến và sự hài lòng với cuộc sống trong đội ngũ trí thức đương thời.

Chúng tôi đi thực tập tốt nghiệp như chuyến đi quan sát, trải nghiệm thực tiễn để về báo cáo kết quả chuyên môn trước một hội đồng giáo viên rồi vinh dự nhận danh hiệu “kĩ sư kinh tế.” Sau đó dám chấp nhận bất kì sự phân công nào của tổ chức và trở thành người của “biên chế nhà nước” hưởng thụ sự trả công xã hội chủ nghĩa (theo bìa phiếu), thủ thường an phận suốt đời.

Đi thực tập vừa có cái lo của chuyên môn dưới sự hướng dẫn của một giáo viên trực tiếp, vừa có cái lo về việc phải tự xoay xở ở cơ sở thực tập. Thú thật, kiến thức chuyên môn thì đa số chúng tôi không sợ lắm, vả lại biết rằng mình có giáo viên hướng dẫn và sách vở mang theo, nhưng bọn trẻ chúng tôi lo nhất là làm sao xoay xở được quan hệ với cơ sở thực tập để người ta ủng hộ công việc của mình và mình biết cách tự xoay xở để vững vàng và tiến bộ hơn.

Cũng may là thời đó việc học còn được quý trọng. Sinh viên thực tập có vinh dự được xã hội công nhận và kì vọng nhất định. Bản thân sinh viên cũng muốn tự mình thể hiện sự gương mẫu của người trí thức tương lai. Còn nơi chúng tôi tiến hành thực tập (các HTX, NTQD, Trạm trại nông nghiệp) thì người ta cũng ngưỡng mộ chúng tôi và cũng muốn đóng góp công sức nhất định cho sự nghiệp đào tạo. Người sinh viên không dám làm gì gây tai tiếng với cơ sở thực tập (vốn là nơi có quan hệ nhất định với nhà trường), còn cơ sở đón nhận sinh viên cũng muốn được vinh dự đóng góp cho nhà trường. Chính vì thế hầu hết chúng tôi đều được hỗ trợ về công việc, về cuộc sống vật chất: ở không mất tiền, được hỗ trợ thêm gạo, rau xanh… Một số anh em giỏi xã giao còn được coi như khách quý, thậm chí được tham gia vào một số công việc của cơ sở. Tôi khẳng định đa số chúng tôi đều nhớ và biết ơn cán bộ, nhân dân ở các địa phương nơi chúng tôi thực tập tốt nghiệp. Nhiều người còn giữ được quan hệ lâu dài với những vùng đất, những con người đã có cảm tình tốt và tôn trọng chúng tôi trong thời gian ngắn ngủi này.

Với riêng tôi, trong ghi chép này, ngoài mô tả về nội dung công việc thực tập phải hoàn thành (giống như mọi sinh viên khác trong lớp), tôi cố gắng thể hiện tình cảm của riêng tôi với những con người đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập tại Hải Hậu gần 6 tháng. Đôi khi có thể hơi miên man, nhưng đã từng gắn bó với họ nên tôi ghi chép như để thêm một lần nữa biết ơn những con người tôi đã gặp, đã chia sẻ công việc với tôi. Viết ra như để trải lòng những trăn trở còn mang hơn 40 năm qua. Chắc chắn họ không bao giờ biết những điều này, có thể rất nhiều người đã mất. Giả sử có còn gặp lại thì cũng không thể còn nhớ nhau, nhưng trong lòng tôi xin được ghi nhận sự trân trọng với con người và vùng đất Hải Hậu những năm tháng này.

2/ Nhóm sinh viên được cử đi thực tập tại Hải Hậu, Hà Nam Ninh

Việc được cử đi thực tập tốt nghiệp là do các Bộ môn của Khoa Kinh tế Nông nghiệp phân công nhưng chủ yếu là giáo viên hướng dẫn trong các Bộ môn quyết định. Giáo viên hướng dẫn quyết định nội dung, địa điểm thực tập, nghĩa là sau khi Khoa phân công sinh viên đến các Bộ môn thì mỗi sinh viên đều sẽ được nhận một công việc và một địa điểm cụ thể do giáo viên phụ trách hướng dẫn quyết định.

Ngay sau kì nghỉ hè ngắn năm thứ 4, vào cuối tháng 8-1979, chúng tôi trở lại trường để nhận phân công đi thực tập tốt nghiệp. Tôi được phân công về Bộ môn Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp và Bộ môn cử nhóm đi thực tập tại Hải Hậu có 4 người: anh Dương Ngọc Đĩnh và tôi đi thực tập về cơ giới hóa nông nghiệp do thầy Nguyễn Văn Quý hướng dẫn, bạn Trần Hữu Giang do thầy Đinh Văn Hiến hướng dẫn và Nguyễn Văn Tường do thầy nào đó hướng dẫn (tôi không nhớ). Trong thời gian thực tập ở Hải Hậu tôi có gặp anh Phạm Trọng Tuệ (KT20A) nhưng không rõ anh ấy thực tập ở đâu. Có thể còn những người khác mà tôi không biết hết.

Số là sau khi được cử làm thành viên nhóm tổng hợp đợt đi thực tế tháng 6-1979 nên tôi và Giang tiếp tục được thầy Nguyễn Văn Quý gợi ý về Hải Hậu. Nhưng thầy Quý chỉ được hướng dẫn 2 người là tôi và anh Dương Ngọc Đĩnh nên nếu thêm Giang thì thầy Quý không còn tiêu chuẩn số lượng. Thầy Quý giao tôi và anh Đĩnh nội dung về cơ giới hóa nông nghiệp và quyết định về thực tập tại Trạm Máy kéo huyện Hải Hậu. Khi đó Giang thì do thầy Đinh Văn Hiến hướng dẫn và tôi không rõ vì sao Giang được phân công về xã Hải Đường. Anh Tường thì cũng không rõ vì sao lại được phân công về xã Hải Phương. Cho đến nay tôi không biết Giang và anh Tường thực tập tốt nghiệp về nội dung gì.

Trước khi tôi và anh Đĩnh về Hải Hậu thì thầy Quý nói rằng có 2 nội dung cần nghiên cứu là về trang bị cơ giới lớn và cơ giới nhỏ, hai anh em tự chọn nội dung cho mình. Anh Đĩnh quyết định anh sẽ thực tập nội dung về trang bị cơ giới lớn ở huyện Hải Hậu, còn tôi làm về cơ giới nhỏ. Tôi và anh Đĩnh được đề nghị về thực tập ngay tại Trạm Máy kéo của huyện Hải Hậu. Trạm đóng trên đất Thị trấn Yên Định, cách UB huyện chừng 2km. Nếu đi qua sông Múc thì tôi chỉ cách anh Tường ở Hải Phương chừng 1km, và cách Giang ở xã Hải Đường chừng 5km. Thế là nhóm thực tập Hải Hậu ban đầu có liên kết khá vui giữa 4 anh em với nhau, trong đó 3 người có xe đạp, chỉ riêng tôi không có nên khi đi xuống các xã thì tôi có thể mượn xe của anh em.

Lúc này thầy Nguyễn Văn Quý đang được Bộ môn phân công hợp tác gì đó với Tổng cục Trang bị Kĩ thuật, Bộ Nông nghiệp nên trước khi chúng tôi về Hải Hậu, thầy yêu cầu tôi và anh Đĩnh đến Tổng cục Trang bị Kĩ thuật (cơ quan ở số 6 Nguyễn Công Trứ - công sở của Bộ Nông trường cũ) để gặp anh Long, cán bộ của Tổng cục đang theo dõi về cơ giới hóa nông nghiệp Hà Nam Ninh. Chúng tôi gặp anh Long và được anh trao đổi về một số nội dung nghiên cứu. Một chi tiết quan trọng là theo đề nghị của anh Đĩnh, anh Long đã giúp chúng tôi có giấy giới thiệu là cán bộ của Tổng cục Trang bị kĩ thuật Bộ Nông nghiệp đi công tác tại Hải Hậu. Sau này tôi có sử dụng giấy tờ này cho vài chuyến đi đến các xã và cũng nhờ đó trước khi về trường anh Đĩnh đã tranh thủ giấy giới thiệu này mà xin mua được 30 tờ giấy A0 (khi đó gọi là giấy tờ-rô-ki rất quý hiếm, không có bán) để kẻ bảng biểu báo cáo tốt nghiệp. Nhìn trên quan điểm thời bao cấp thì việc này có tính vụ lợi nho nhỏ, hơi gian xảo, ranh ma một chút, tôi nghĩ vậy.

3/ Trạm máy kéo Hải Hậu, mô hình cơ giới hóa rập khuôn Liên Xô

Mô hình Trạm Máy kéo Hải Hậu là kiểu tổ chức trang bị theo Liên Xô về cơ giới hóa nông nghiệp. Khi chúng tôi về đây thực tập, Trạm Máy kéo Hải Hậu đang được Liên Xô viện trợ đồng bộ một Xưởng cơ khí lớn, nhưng còn đang trong quá trình xây dựng. Nghe nói Trạm ở huyện Nam Ninh đã hoàn thiện, đây là trạm thứ 2 ở tỉnh Hà Nam Ninh trong chương trình viện trợ của Liên Xô.

Khi đến Trạm Máy kéo Hải Hậu, chúng tôi tình cờ gặp anh Nguyễn Thế Thìn, sinh viên CK19 của ĐHNN I đang thực tập ở đây. Anh Thìn học Khoa Cơ khí Nông nghiệp có chương trình đào tạo là 5 năm nên đi thực tập đến cuối tháng 9 là về trường để chuẩn bị thi tốt nghiệp vào tháng 12. Tuy chỉ cùng ở với anh Thìn vài tuần trước khi anh về trường, nhưng anh giúp chúng tôi rất hiệu quả trong những ngày đầu tiên chúng tôi về Trạm Máy kéo, nhất là việc làm quen và thủ tục xã giao với cán bộ nhân viên tại Trạm.

Nhân đây cũng nói thêm về anh Thìn, vào khoảng năm 2010, tôi tình cờ gặp được anh Thìn trong một Hội thảo cấp Bộ ở Hà Nội. Khi đó anh là tiến sĩ ngành Kinh tế, bảo vệ luận án tại Đại học KTQD[1] và đang công tác ở một Vụ gì đó thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Điều đặc biệt là anh vẫn còn nhớ tên tôi và những kỉ niệm từ hồi ngắn ngủi gặp nhau ở Trạm Máy kéo Hải Hậu 30 năm trước.

Khi đó người ta đã xây gần xong một Xưởng lớn gồm khung nhà với những cột bê tông cao chừng hơn 20m. Xưởng rộng khoảng 50m, dài gần 100m. Mái tôn đã lợp xong, bên dưới còn ngổn ngang sắt, thép, gạch để xây các phần ngăn cách và đang dựng một số khung xà thép làm cơ cấu treo nâng máy kéo khi sửa chữa. Một số công nhân xây lắp đang còn hoạt động cho đến hết cuối năm 1979 mới hoàn thành.

Xưởng nghe nói được xây dựng theo thiết kế của Liên Xô trong các nông trang tập thể. Tại Xưởng, người ta có thể chăm sóc, bảo dưỡng, sửa chữa máy kéo và các công cụ cơ khí trong toàn nông trang, có lẽ tương đương quy mô diện tích toàn huyện ở Việt Nam. Vào khoảng cuối năm, tức là khi chúng tôi gần về trường, các công việc hoàn thiện Xưởng cơ khí cơ bản hoàn tất, tôi thấy đầy đủ quy mô một Xưởng lớn. Có mấy gian phía sau dùng để phụ tùng, dụng cụ. Một cái khung sắt làm cơ cấu treo khi sửa chữa tháo lắp các bộ phận nặng của máy kéo. Có mấy cái bệ xi măng xây dốc để đưa máy kéo lên chăm sóc phía gầm xe. Một gian có các thiết bị đo, các dụng cụ thay thế lốp xe. Một bộ phận dụng cụ hàn ghép các bánh lồng đất. Có một máy kéo bánh xích DT-75 rất to cũng được đưa về, còn mới nhưng chưa sử dụng. Tuy nhiên công nhân cơ khí rất ít, có lẽ sau khi chúng tôi về trường thì người ta sẽ tuyển dụng thêm khi công việc của Xưởng đi vào hoạt động chính thức. Khi đó, huyện Hải Hậu có mấy điểm tập kết máy kéo ở các cụm xã nên trên Trạm chỉ có dăm cái máy bánh hơi kiểu MTZ, vài rơ-mooc thùng gắn đầu máy vận chuyển trên đường khi đi giao nhận vật tư.

Trạm đặt trên đất Thị trấn Yên Định, sát đường QL21A từ Yên Định đi Chợ Cồn rất thuận tiện giao thông. Toàn bộ diện tích chừng khoảng 1ha, phía trước xưởng có 1 bãi đất rộng rải đá dăm làm nơi tập kết máy móc. Một căn nhà cấp 4 quay lưng ra đường 21A  là nơi làm việc và hội họp chính của cán bộ Trạm. Hai dãy nhà cấp 4 đa dụng khác vừa làm phòng làm việc vừa là nơi ở của cán bộ Trạm. Phía sau có bếp, nhà ăn tập thể nhỏ và vài phòng cho cán bộ và hậu cần bếp. Có một vạt đất nhỏ trồng hoa, cây cảnh trước nhà hội họp và nhà làm việc. Ba mặt của Trạm là những cánh đồng lúa xanh thoáng mát.

Trạm có ao khá rộng, có thả cá, nước trong và khá sâu. Có đoạn bờ ao xây bậc lên xuống ao rất tiện lợi khi tắm giặt. Cạnh bờ ao là một giếng nước có xây 2 phòng tắm. Tắm ao xong có thể tráng nước giếng nếu cần. Khi đó đang cuối thu nên tôi cũng đã từng bơi lội dưới ao với mấy anh em trong Trạm.

Tôi và anh Đĩnh được bố trí ở cùng phòng anh Thìn, lúc đầu 3 người, sau đó anh Thìn về trường thì phòng vẫn kê 3 giường đơn. Đây là một phòng ở giữa dãy nhà làm việc phía trước, nhưng có lẽ người ta dùng để bố trí phòng khi Trạm có khách. Trong phòng có kê một bàn nhỏ để giữa 2 giường cạnh cửa sổ phía sau. Dãy nhà này có nhiều phòng: đầu hồi phòng anh Chiến, thợ lái máy kéo, tiếp đến là phòng anh kĩ sư cơ khí quê xã Hải Ninh (không còn nhớ tên anh) rồi đến phòng chúng tôi. Tiếp theo là phòng anh cán bộ vật tư, phòng anh kĩ sư tốt nghiệp Đại học KT-KH phụ trách kế hoạch (tên Cư), quê xã Hải Phong và tiếp đến một số phòng khác. Dãy nhà phía sau có phòng ăn tập thể (2 gian), một gian kho. Các gian còn lại là phòng ở của chị cấp dưỡng (tên Tròn), các phòng làm việc của cán bộ vật tư, kế toán và có cả phòng dành cho gia đình tập thể. Đa số các anh chị đều ở gần nên chiều về nhà, tối chỉ còn mấy người ở lại.

4/ Cán bộ lãnh đạo Trạm Máy kéo Hải Hậu

Tôi vẫn còn nhớ Trạm trưởng là ông Thừa, ủy viên thường vụ Đảng bộ huyện, khoảng gần 50 tuổi. Lúc này nhiệm vụ cơ giới hóa nông nghiệp rất quan trọng nên lãnh đạo là cấp ủy thường vụ. Ông Thừa có một xe máy Honda màu đỏ, hàng ngày đi làm, trưa ít khi ở lại vì nhà ông ở Thị trấn Yên Định. Hôm chúng tôi về Trạm, ban đầu được gặp ông một lát, ông đọc qua giấy giới thiệu của Tổng cục Trang bị Kĩ thuật thì gọi bác Phó Trạm giao việc bố trí ăn ở. Chỉ thế thôi, ông không gặp lại chúng tôi lần nào, ngay cả khi chúng tôi về trường cũng không gặp để chào ông. Trong kí ức tôi, ông là người mạnh mẽ, nói to, dứt khoát, người vạm vỡ. Không rõ ông học ngành gì nhưng nhìn thấy ở ông một người quan trọng đầy quyền lực – cái quyền toát ra khi ông đi lại, nói năng và cái uy thấy rõ qua thái độ cán bộ nhân viên cấp dưới của ông. Phòng ông ở một phòng chái nhà họp, cửa sổ rộng có trồng nhiều hoa, nhất là đầu mùa đông có hoa thược dược nở những bông vàng rất to, sáng nào ông đến cũng tưới và ngắm nghía.

Một lần ông nói chuyện ở buổi họp như kiểu hội nghị khách hàng với tất cả các HTX trong huyện. Buổi đó chúng tôi cũng được dự ngồi nghe. Ông phát biểu rõ ràng, mạnh mẽ, thể hiện cam kết thực hiện kế hoạch làm đất theo tiến độ canh tác của các HTX. Quan trọng là buổi trưa đó có bữa ăn liên hoan ra trò: có thịt, cá rán, rượu… Chúng tôi ngồi mâm cùng anh em công nhân thưởng thức bữa ăn sang trọng và nghe chuyện rôm rả quanh các bàn rượu. Tôi nghe ông Thừa nói tết năm nào gia đình ông cũng lo được mấy quả nem thịt ngon đón Tết đãi khách. Sau này tôi mới biết loại nem tai Hải Hậu nổi tiếng mà ông nói hồi đó.

Bác phó Trạm (tôi chưa nhớ ra tên) chừng cỡ tuổi 55, rất hiền lành, người cao gầy, hay cười. Tính tình điềm đạm ngược với tính bác Thừa. Phòng bác phía đối diện phòng ông Thừa ở nhà điều hành. Có lẽ bác có quê xa nhà nên không mấy khi thấy bác vắng mặt ở Trạm. Bác cũng gần gũi với anh em cán bộ và nhân viên nên cũng thường thấy bác la cà các phòng, hút thuốc lào, chuyện phiếm với mọi người. Tôi nhớ nhất các buổi sáng bác thường dậy rất sớm, ra bờ ao ngắm cá. Cái ao may ô dài và quần đùi đứng bên ao bình thản và lặng lẽ. Chắc bác đang nhớ nhà, nhớ con, cháu ở quê một cách kín đáo và an phận với chức vụ công tác hiện hành chờ ngày về hưu ở quê nhà nào đó hưởng thú điền viên vườn cây ao cá an nhàn tuổi già.

Nói chung cả 2 vị lãnh đạo đều không quan tâm gì với chúng tôi về công việc thực tập ngoài việc bố trí ăn ở cho chúng tôi.

5. Một vài kỉ niệm về cán bộ và nhân viên Trạm

Tôi ghi chép thêm về một vài kỉ niệm của tôi trong thời gian thực tập. Chuyện dưới đây phần lớn là của tôi, rất ít liên quan đến anh Đĩnh. Lí do là khi thực tập ở Hải Hậu, anh Đĩnh có nhiều thời gian phải về với vợ để giúp chị vì khi đó anh chị mới sinh cháu gái đầu lòng (tên Dương Hà Phương). Vả lại phần số liệu cơ giới lớn ở Trạm Máy kéo đã rất đầy đủ nên anh không phải đi các xã như tôi.

Trạm có 2 anh kĩ sư, một kĩ sư cơ khí học Bách Khoa (nay không nhớ tên) và một anh tên Cư, kĩ sư kinh tế học Đại học KT-KH. Anh kĩ sư cơ khí thì tôi không biết hỏi han gì về chuyên môn và anh cũng ít quan tâm công việc của tôi. Nhưng anh nói chuyện rất dễ gần, luôn động viên khích lệ chúng tôi. Còn anh Cư thì tôi có đến gặp anh một vài lần ở phòng làm việc và cũng là phòng nghỉ ngay bên cạnh phòng tôi ở. Anh mở tủ lấy cuốn sổ tay ghi chép ra trả lời những vấn đề tôi hỏi, nhưng nội dung cơ giới nhỏ thì anh không có tư liệu gì, nhất là các định mức sản xuất và trang bị. Tuy vậy tôi thấy anh rất nghiêm túc với những vấn đề tôi đặt ra và được anh trao đổi rất chu đáo.

Trong số anh em ngủ lại đêm ở Trạm tôi nhớ nhất anh Chiến. Anh là thợ lái máy kéo giỏi cấp kiện tướng[2], được tỉnh cử về Trạm như điển hình công tác. Tuy nhiên ở Trạm thì anh lại được phân công lái một đầu máy có gắn rơ-moóc đi chở vật tư – có lẽ do anh có bằng lái đi trên đường. Anh Chiến cũng rất quý tôi. Có lần đi chở hàng trên Nam Định, anh rủ tôi cùng ngồi máy kéo lên tỉnh. Tuy tôi phải ngồi trên rơ-moóc (vì đầu máy kéo chỉ có 1 ghế) nhưng rất thích vì được đi Nam Định và được nghe nhiều chuyện của anh. Khi về, xe qua phà Lạc Quần, lúc đứng trên phà anh nói: “Làng kia là làng Quần Lạc – anh chỉ tay vào làng gần đó, còn đây là phà Lạc Quần.” Bên này có một chợ quê tên là chợ Lạc Quần. Vì thế có một vế đối từ hồi các cụ xa xưa cho đến nay vẫn chưa ai đối được.” Anh nói vế đối thách thiên hạ có cái hay là vừa nghĩa đen vừa dân dã hàm ý tiếu lâm: “Con gái Quần Lạc, đi chợ Lạc Quần, bán lạc mua quần, tối về Quần Lạc.” Anh Chiến phân tích cái hay ở đây là kiểu chơi chữ lạcquần, nhất là thâm ý món quần lạc.

Anh Chiến là cây tếu táo. Anh nói quê anh Bình Lục, trước anh cũng lái máy cày ở Bình Lục, nay chuyển về đây xa nhà nên ít được về. Khi không đi công tác thì anh thường xuyên ăn cơm tập thể với chúng tôi. Cơm tập thể thường chỉ có rau muống luộc và một bát tép kho hoặc cua đồng hay cáy kho rất mặn và vài bát cơm. Tôi góp tiêu chuẩn vào bếp nên cùng ăn như mọi người. Hôm nào có anh Chiến ăn cùng thì rất vui nhộn. Anh bảo chị cấp dưỡng: “Em Tròn rất khéo đi chợ, chọn được toàn của cái béo tròn, ăn béo ngậy trong miệng, trong cổ, bổ cho cả vợ lẫn con ở nhà”. Anh giỏi món “tiếu lâm” độc tấu hài. Tôi còn nhớ vài câu hài của anh. Một lần ăn cơm chiều ở bếp tập thể, anh bảo: “Tròn ơi chiếu cố cho anh thêm bát nước rau muống luộc.” Chị Tròn nghiêng nồi chắt ra cho anh một bát, anh cầm bát nước rau cười rồi nói: “Một bát nước rau bằng một thau philatốp, bằng 10 hộp B12, chỉ phải nuốt chẳng phải nhai mà bổ từ thai đến xương sọ.”

Một lần khác ở quê mới lên, anh rủ tôi qua phòng uống nước. Anh kể hôm về quê người ta mời anh lên sân khấu diễn trò nhân buổi liên hoan văn nghệ nông thôn. Anh đọc tôi nghe bài tấu rất dài, tôi cười ngặt nghẽo. Bài tấu nói về chuyện anh tả cô vợ nông thôn giỏi công việc nhưng hình dáng hạn chế. Nay tôi chỉ còn nhớ một câu: “Vợ tôi da trắng mịn trắng màng trông như tảng mật ong, đến nỗi mấy trăm con muỗi, con mòng nếu dám chạm vào thì chúng có đến chín hàm răng cũng rụng tiệt!”

Anh rất hay trà và thuốc lào. Nhiều lần pha trà anh gọi tôi sang uống. Anh tráng ấm nước nóng giòn, xong lấy trà từ lọ thủy tinh ra và làm một thủ tục rất quan trọng: anh đổ trà khô từ lọ ra lòng bàn tay để như ước lượng, rồi đổ nhanh trà từ bàn tay vào ấm đã tráng nước nóng. Anh bảo:“Chú ý nghe nhé, reng, reng! Trà phải nghe rõ tiếng reng mới là trà ngon.” Sau đó mỗi khi anh gọi tôi sang uống trà, anh nói là qua uống “trà reng”. Thuật ngữ “trà reng” tôi cứ nhớ mãi và nay thủ tục tôi pha trà hàng ngày vẫn bắt chước cách anh đổ trà ra lòng bàn tay như để ước lượng mức trà đủ uống và trút vào ấm để nghe tiếng trà va vào thành ấm nghe reng, reng để nhớ mãi nụ cười về cách pha trà của anh.

Còn chuyện hút thuốc lào anh dạy tôi thì nay đã “thất truyền”. Các buổi tối, nhất là hồi mùa đông hơi lạnh, anh bảo mấy anh em công nhân ra ngồi ngoài sân trước Xưởng cơ khí đang hoàn thiện rồi đốt một đống lửa nhỏ. Mọi nhiều ngồi quanh đống lửa nói chuyện và hút thuốc lào suông. Chuyện thì trên trời dưới biển do anh Chiến bày đặt không bao giờ hết năng lượng, cứ trào lên các đợt cười vang trong đêm. Nhưng có một luật phải theo: khi điếu quay vòng đến tay ai thì người đó phải hút, tất nhiên có thể khề khà đôi chút. Có 5-6 người ngồi quanh thì đến lượt hút không khó gì lắm, vì khoảng thời gian chờ đến lượt cũng vừa đủ sức để hút tiếp. Có vài ông hay chuyện, châm đóm cháy mà chuyện thì cứ nói, đóm cháy vào tay chưa hết chuyện nên lại phải châm đóm mới. Anh bảo ai ham chuyện để đóm cháy hết thì phải hút luôn hai điếu.

Ban đầu tôi cũng được gọi đến ngồi. Hồi đó lần đầu tiên tôi tập hút thuốc lào. Anh dặn: “Cậu phải xì cái xái thuốc ra khỏi nõ điếu rồi mới rít một hơi dài, mở cổ ra cho khói vào phổi, để im trong đó một lúc rồi nhả ra từ từ để thẩm cái làn khói ấm đi qua khí quản ra miệng mới sướng”. Tôi thử được vài vòng thì hoa mắt ho sặc sụa và đương nhiên bị loại ra khỏi chiếu hút!

Anh cũng là người đầu tiên dạy tôi uống rượu. Hồi sinh viên rất ít khi có rượu uống. Có liên hoan gì đó cũng chỉ đôi chén tí tẹo nên coi như chưa biết uống rượu. Đi Hải Hậu nhiều hôm ngồi với anh Chiến buổi tối, anh lấy bọc lạc rang sẵn và một chai “cuốc lủi” sủi tăm ra mời. Mấy anh em công nhân buổi tối cùng nhau uống giải sầu. Ban đầu tôi cũng chưa dám uống, nhưng được các anh khuyến khích, tôi uống được vài ly, rồi cứ thế uống được nhiều thêm. Không đến nỗi say nhưng rõ ràng thấy chút hưng phấn và lại được khen biết uống. Có thể nói đây là nơi tôi biết uống rượu và quan trọng nhất là biết khả năng uống được khá nhiều mà không thấy say!

Anh Chiến là dạng công nhân tôi thích nhất, nói được, làm được, luôn tràn đầy năng lượng khi cùng mọi người.

Hồi đó ở Trạm có anh Tỵ mới được biên chế về Trạm. Anh quê xã Hải Phương, là công nhân kĩ thuật được học từ Bulgari về nước. Anh mới từ châu Âu về nên có cái xe máy khá lạ, nghe nói xe của Balan. Anh cũng chăm chỉ nên được các cán bộ ở Trạm quý mến. Anh Tỵ có cái cần câu đẹp thỉnh thoảng mang ra cơ quan thả câu ở cái ao cá của Trạm – nhưng chủ yếu là khoe cái cần câu là chính, chưa thấy giật được con cá nào.

Vào dịp cuối năm 1979, anh cưới vợ và có mời tôi ăn cưới nhưng tôi không dám đi dự ăn cỗ vì anh Chiến nói ở xứ này chuyện mừng cưới phức tạp lắm. Cô bạn gái chưa cưới nhưng được anh đưa đến cơ quan chào hết mọi người. Khi ra khỏi phòng, cô ta có cách đi rất lạ như đi chéo qua cửa. Anh cán bộ kĩ thuật ngồi trong phòng chờ cô gái đi khuất mới nói nhỏ: “Con gái vùng này kín đáo và có ý lắm. Kiểu đi như vừa rồi là lối đi rất tinh tế: vừa hơi khoe được sự “uốn éo” cần thiết lại vừa có ý che được khi cái quần mỏng lướt qua cánh cửa có ánh sáng từ ngoài chiếu vào sẽ giữ được sự kín đáo nếu người ngồi bên trong nhìn ra”. Lần đầu tiên tôi biết cái tinh tế của con gái xứ Nam này.

Một hôm tôi được anh Tỵ mời về nhà anh chơi. Anh dẫn ra thăm vườn và tôi được biết cách thâm canh của người dân Hải Hậu. Anh chỉ tôi cái móng xới đất và kể về chuyện anh sắp xong việc xới đất vườn năm nay. Móng là công cụ có lẽ ít vùng có: một dạng cái mai nhỏ, dài có cái đạp chân. Lưỡi móng dài khoảng 40cm hoặc hơn. Người dân dùng cây móng để đảo đất vườn sau một vài năm trồng. Lớp đất trên bề mặt sau vài năm canh tác được lật xuống rất sâu để đổi lên mặt một lớp đất mới: một kiểu lật đất triệt để trên-dưới làm thay đổi độ màu mỡ và cải tạo nghiêm túc vườn trong kĩ thuật trồng cây ăn quả vùng này.

Ở Trạm máy kéo gần nửa năm nên cũng có nhiều tình cảm với các anh chị ở đây. Chị Lan kế toán nói ở đây rất ít việc nên rất hay lên phòng chúng tôi nói chuyện với anh Đĩnh. Chị trạc tuổi anh Đĩnh, chưa có chồng (kiểu hơi quá lứa) nhưng nói năng khéo và duyên. Anh Đĩnh lúc này mới sinh cháu gái đầu lòng – cháu Phương Hà – nên cũng hay thích nói chuyện vợ con với chị Lan. Chị Lan khen anh Đĩnh giỏi giang, vợ khéo chiều chồng ở nhà một mình nuôi con cho chồng đi học. Nghe tên Đĩnh ban đầu cứ tưởng anh “đĩnh đạc”, nhưng nói chuyện thấy anh dễ thương!

Chị Tròn cấp dưỡng là bộ đội được chuyển ngành về Trạm nấu ăn. Chị quê có lẽ ở xa nên rất ít khi về, vả lại bếp tập thể khi nào cũng có người ăn, kể cả ngày nghỉ. Bác Trạm phó ăn cơm tập thể đủ 30 ngày trong tháng, tôi thấy rất ít khi bác về nhà hay đi đâu đó. Hơn nữa có một số anh em công nhân đang xây lắp ở xưởng ăn cơm ở bếp này. Các buổi trưa thì đông người ăn vì chiều có nhiều người về nhà. Hồi đó cơm tập thể quá đơn giản, gạo 13kg và mấy hào tiêu chuẩn nấu có lẽ rất khó nên thức ăn thường chỉ rau và tép, cua đồng hay cáy kho mặn, không bao giờ có thịt. Cơm thì rất ít nên ăn thêm rau, bữa nào cũng một đĩa rau rất to. Chị Tròn nấu cơm chu đáo, ngon miệng, hàng ngày đi chợ nấu toàn món quê nhà dân dã.

Bên cửa sổ phòng tôi ở dãy phía sau có một hộ gia đình. Anh chị đều là công nhân nước ngoài về. Anh đang công tác đâu đó nên cứ cuối tuần mới đạp xe về. Chị làm vật tư của Trạm kiêm trông kho. Anh chị có bé gái chừng 3 tuổi rất hay lên chơi với tôi. Nó ca hát suốt ngày. Vì nó không đi mẫu giáo nên mẹ nó dạy nó hát. Bài hát nó thích là “Em yêu trường em[3]. Gần như suốt ngày nghêu ngao: “Em yêu trường em, có cô giáo hiền…” Có một câu nó luôn hát sai: “Cả tiếng chim vui trên cành cây cao, Cả lá cờ sao trong nắng thu vàng” thì nó hát thành “…cả lá cờ sao cho nắc thu vào.” Vì nó còn bé chưa biết chữ nên tôi giải thích và sửa cho nó mà nó vẫn không chịu, cứ “cho nắc thu vào…”

Hồi đó ở Trạm Máy kéo đang hoàn thiện nên có một tốp thợ xây lắp làm việc. Trong toán thợ có một cô bé thợ hàn còn rất trẻ. Cô học xong lớp 7 thì đi công nhân và học nghề hàn. Cô được cử xuống Trạm để công tác mấy tháng, cơ quan gửi cô ngủ ở phòng chị Tròn cấp dưỡng. Một cô bé khoảng 18-19 tuổi, người thấp nhưng khá mập mạp, da trắng, dân thành Nam Định hay nói hay cười. Hàng ngày cô bé đeo cái kính hàn và cầm cái tấm che mặt to tướng, áo quần công nhân ra xưởng lê la ngồi hàn. Tôi hay ra xem tốp thợ làm việc. Mỗi khi cô bé nghỉ hàn thì mở kính ra, đôi má đỏ au vì nóng, mặt trắng hồng lấm tấm mồ hôi trông rất dễ thương. Có vài lần cô rủ tôi đi xem văn nghệ gì đó tổ chức ở Nhà Văn hóa huyện cách Trạm chừng 2km. Tôi và cô bé thợ hàn rất quý nhau, cũng khá thân mật nhưng chỉ một thời gian ngắn thì cô hết việc nên chuyển đi nơi khác. Tôi vẫn nhớ có đêm đi xem hát về, hai đứa đi bộ dọc đường ven sông Múc vắng vẻ nói chuyện linh tinh, cô bé cũng có ước mơ được đi học nhưng không có điều kiện nên có vẻ quý những người đi học như tôi. Chuyện nay nhớ lại mà tôi lại quên mất tên cô bé thợ hàn, thật là đáng xấu hổ.



[1] Hồi đó nhiều cán bộ kĩ thuật học chương trình bổ túc kiến thức để làm luận án trái ngành tốt nghiệp đại học.

[2] Không rõ hồi đó được phong qua diễn tập hội thao hay có bằng cấp công nhận

[3] Hoàng Vân sáng tác năm 1970, được rất nhiều trẻ em Việt Nam yêu thích.