Thứ Hai, tháng 1 26, 2026

Năm thứ 3 - Kết thúc lao động hướng nghiệp, rèn nghề và lao động công ích


1. Nhắc lại về lao động hướng nghiệp, rèn nghề

Như tôi đã ghi chép ở các bài trước, chúng tôi có 2 tháng lao động “hướng nghiệp” năm thứ nhất. Từ năm thứ 2 và thứ 3, mỗi kì có 1 tuần lao động “rèn nghề” – vị chi là một khóa học chúng tôi có 3 tháng đi lao động.

Lao động “hướng nghiệp” theo nghĩa là làm quen nghề nghiệp. Mặc dù toàn những công việc mà chúng tôi là con em nông dân nên không xa lạ gì nhưng quan trọng là nhờ đó chúng tôi quen thân nhau ở mức quan hệ xã hội “dân dã”, qua đó biết thêm được công việc lao động nông nghiệp ở nhiều vùng quê, củng cố thêm tình bạn bè. Ngoài ra như tôi đã kể là những ngày đi lao động hướng nghiệp đều được cấp thêm phần bánh mỳ “bồi dưỡng” nên bớt cái đói trong những tháng đầu tiên xa nhà.

Lao động “rèn nghề” nghĩa là rèn luyện nghề nghiệp. Thuật ngữ “rèn” còn mang nghĩa “tôi luyện” trong nghề (nhưng thực tế chỉ là phổ thông). Với con em nông dân như tôi thì công việc lao động chưa ăn thua gì so với hồi lao động ở quê nhà. Chỉ là chuyện giải quyết thời vụ những mùa cấy hái ở Trại Thực tập thí nghiệm nhưng chúng tôi đều cảm thấy thân thiết nhau hơn trong lao động. Chẳng hạn, chuyện bị mất trộm dép hôm đi lao động đã được lớp quan tâm lo lắng để không bị mất thêm và còn tính chuyện “mồi” để rình bắt nếu bọn xấu còn dám trộm lần nữa.

Riêng chuyện lao động năm thứ 3 là một kỉ niệm đáng nhớ. Lúc này thầy Chủ nhiệm khoa Phan Trọng Đỉnh đã cho các lớp nhận khoán. Chỉ là giao mỗi lớp một ruộng, giao mạ để cấy, tự lo làm cỏ, gặt đập, phơi và nộp thóc. Nhờ đó lớp đã phân công nhau tự quản một phần và kết quả cũng chỉ là trước khi về hè được bữa tổng kết liên hoan chung cả lớp rất vui vẻ.

Nhân nhắc đến thầy Đỉnh, tôi ghi thêm chuyện có lần nói về “thửa ruộng 4000 năm”“cánh đồng 20 năm” (HTX cơ bản năm 1960). “Thửa ruộng 4000 năm” là mỗi hộ được giao một số ruộng tương đương 5% số diện tích ở địa phương để tự sản xuất (miền Bắc gọi là diện tích để trồng rau xanh), 95% còn lại thuộc HTX. Nhưng số diện tích 5% này thực sự đã cứu sống nhiều triệu nông dân miền Bắc trong những năm kinh tế HTX tiêu điều và cả nước dồn sức cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sau này, có người nói cánh đồng HTX chẳng qua là cách tập trung của cải người dân làm ra vào một kho chung để lấy đi phục vụ cuộc chiến. Lấy từ một kho chung dễ hơn so với vào từng nhà vận động lấy đi. Xta-lin cũng đã làm thế với nước Liên Xô hồi nông trang tập thể. Một chuyện khác, thầy Đỉnh còn kể cho chúng tôi nghe: quê thầy nghèo lắm, có người sống đến 70 tuổi mà đến cách mạng tháng Tám năm 1945 mới biết đường là thứ ăn có vị ngọt!

2. Chuyện lao động công ích

Vào tháng 4-1978, chúng tôi được lệnh huy động đi lao động công ích 2 tuần. Hồi đó nghe nói tất cả các trường đại học ở Hà Nội đều phải đi. Riêng trường ĐHNN I đợt này chỉ có khóa 20 được huy động. Ban đầu chúng tôi cũng không rõ lao động công ích là làm gì, chỉ biết cần chuẩn bị đồ dùng cá nhân (màn, chiếu, quần áo) cho 2 tuần. Trường sẽ có xe đưa đi và đón về.

Chúng tôi trang bị gọn nhẹ lên đường. Xe đưa chúng tôi đến một ngôi đình làng khá rộng và đẹp từ phía đường Phan Đình Phùng rẽ vào. Sau này nói chuyện về chuyến lao động đó, bạn Giang đã nhớ ra đó là đình Làng Cót (còn gọi là đình làng Yên Hòa). Hơn 100 người 2 lớp KT20 được bố trí ngủ trong đình: trải chiếu trên nền gạch phía 2 bên chái và phía sau. Tôi nay không còn nhớ các chị nữ được bố trí ngủ ở đâu. Các ngành khác của Khóa 20 chắc cũng được bố trí ở đâu đó trong các làng.

Buổi chiều đó, anh Thắng - cán bộ phòng quản trị được trường giao đi quản lý - yêu cầu lớp đi làm chỗ vệ sinh, chỗ tắm giặt “dã chiến” phía khuôn viên khu vườn cây xa xa bên ngoài đình. Nhà trường còn cử cán bộ nhà bếp tổ chức nấu ăn tại đó cho số sinh viên và cán bộ đi lao động.

Thật ra chúng tôi không hiểu sao hồi đó người ta dám cho sinh viên vào ngủ trong đình làng, tổ chức nấu nướng, sinh hoạt ngay trong khuôn viên đình. Mặc dù đình làng khi đó trống vắng, chỉ có một ít đồ dùng ở khu ban thờ gian giữa và chúng tôi ăn ở cũng rất nghiêm túc, chỉ ngủ ở các gian chái và phía sau đình. Nay có dịp biết về đình làng Cót mới thấy cứ như đã dám phạm vào nơi linh thiêng mà khi đó không ai biết gì (xem thêm phụ lục về đình làng Cót ở bên dưới bài).

Hôm sau, chúng tôi được dẫn đi bộ đến công trường và được phát công cụ đào vét dòng sông Tô Lịch. Thì ra chuyến đi lao động công ích lần này cải tạo sông Tô Lịch cho Thủ đô, đoạn ngay gần cầu Giấy. Sông Tô Lịch lúc ấy phía bờ bên kia đường Láng không có đường, không có nhà dân mà vẫn còn là những ruộng và bãi hoang hóa. Người ta đo đạc và làm những cột tiêu cho chỗ đào nơi đắp. Một cái lạch bé tẹo mùa xuân gần như không có nước, nay chúng tôi phải đào vét thành một sông rộng mấy chục mét. Mỗi trường đại học được giao một đoạn sông tạo thành một công trường hàng nghìn người cùng lao động.

Nghi lễ hôm khai mạc có cờ, biểu ngữ giăng đầy một khúc sông. Công trường của ĐHNN I là một đoạn sông ngắn. Anh Thắng – cán bộ Phòng quản trị phụ trách, kiêm luôn cả quản lý nhân lực. Công việc chỉ đơn giản là đào đất, vận chuyển đất lên đắp thành bờ phía bên kia đường Láng bằng các công cụ thô sơ: xẻng, bốc tay, quang rổ sắt vận chuyển. Đại loại là lao động thủ công, lấy sức người là chính.

Mấy ngày đầu, mọi người làm không ra kỉ luật gì, cứ tà tà làm, khi được nhắc thì làm, không thì chống cuốc nói đủ chuyện “trên trời dưới bể”. Anh Nguyễn Ngọc Minh (tổ 1) nói một câu về kiểu lao động này cho đến nay tôi còn nhớ: cầm cuốc “giơ lên cò đậu, bổ xuống mối xông”. Thấy kiểu làm không hiệu quả này nên anh Thắng nghĩ là kiểu khoán: mỗi lớp được giao khối lượng công việc nhất định, làm xong có thể được về sớm. Năm 1978 có ngày 1-5 được nghỉ lại đúng vào thứ 2, nên nếu xong sớm về trước thì có thể tranh thủ về quê nghỉ luôn 3-4 ngày. Từ khi khoán, công việc được bố trí tốt và mọi người hăng hái hơn. Tuy nhiên cũng xảy ra vài việc cãi cọ giữa anh Thắng với anh Nguyễn Lâm V trong lớp. Chuyện cãi cọ qua lại to lớn một hồi giữa công trường, về sau anh Thắng đã có cách giải quyết rất êm thấm. Mãi sau này tôi mới biết anh Thắng[1] vốn là sĩ quan quân đội chuyển ngành, người từng trải rất nhiều kinh nghiệm.

Việc ăn uống tại đình làng thì cũng không có gì đáng nói, kiểu sống dân công tạm bợ này bản thân tôi đã từng tham gia ở địa phương trong những ngày chờ vào đại học. Khổ nhất là nước tắm, người ta kéo đường ống nước máy đến, nhưng quá đông người có nhu cầu cùng lúc nên đợi nhau khá vất vả. Các buổi tối và chủ nhật được nghỉ đi chơi tự do, nhưng chỉ có 1 chủ nhật nên mọi người đi chơi cả, còn các tối thì tôi không thấy mấy ai rủ nhau đi lại.

Chuyện lao động công ích cũng không có gì đáng nói. Ý nghĩa cao xa của nó thì không đáng ghi ơn, chỉ là có hoạt động chứ kết quả chưa ra gì vì hôm chúng tôi về mà công trường cũng chỉ thấy nham nhở không ra hình thù gì cả. Chắc sau này các đơn vị khác tiếp quản sửa sang thêm. Tuy vậy, nhờ khoán việc nên cơ bản chúng tôi làm xong sớm hơn 1 ngày.

3. Vài chuyện còn nhớ trong chuyến lao động công ích

·        Chuyện “một xô, một chổi, một đường tình”

Chiều hôm mới đến tập trung, mọi người được phân công đi làm nơi tắm giặt, vệ sinh “dã chiến”. Vì nơi ở có cả nam và nữ nên công việc phải làm cho hai phía riêng biệt nhau. Khi cơ bản đã xong việc, tôi đã vào trong đình thì nghe bên ngoài mọi người chạy về cười rất lớn. Thì ra có chuyện mấy anh em nam trong lớp bị ai đó lừa đi nhầm vào khu vệ sinh nữ. Anh ta vô tư mang theo cái xô, cái chổi đi vào quét dọn và hình như gặp ai đó phái nữ bên trong. Biết bị lừa nên quay ra và bị một nhóm trêu cười rộ lên. Từ hôm đó lớp KT20A có câu chuyện - “một xô, một chổi, một đường tình”. Năm 2024, khi một nhóm KT20A đi du lịch ĐBSH, anh Mai Thế Lương vẫn còn nhắc lại chuyện này.

·        Bị trêu ông thầy bói

Hôm chủ nhật tôi đi bộ xuống Bờ Hồ lượn một vòng, tôi mua được cái kính dâm nhựa 3đ của mấy ông bán dạo. Hôm sau đi gánh đất đeo cái kính dâm màu xanh tím bị mấy anh em trêu chọc giống ông thầy bói nên không dám đeo nữa.

Hồi đó lớp đang học môn Thống kê nông nghiệp nên khi tôi nghe anh em kể chuyện người ta thực hiện kê khai nhân khẩu ở một quê nào đó. Cán bộ thống kê không sao xác định được nhân khẩu trong xóm. Số là nhiều gia đình trong xóm có những người đi buôn bán xa nhà, có hôm không về nhà ngủ. Người đi xác nhận thấy không có nhà thì không đếm, nhưng hôm sau kiểm tra thì lại có. Thế là chuyện thống kê nhân khẩu theo quy định cứ nhùng nhằng không xác định được. Tôi bảo rằng đó là quy định tránh “hiện tượng tính trùng” trong thống kê. Nghe tôi nói thế mọi người bảo ông thầy bói này bịa ra từ mới. Tôi bảo đó là thuật ngữ môn thống kê chúng ta đang học mà cô Thanh dạy chứ không phải tôi bịa. Mọi người khi đó bảo tôi: “Ông thầy bói nhớ được chuyện môn học, đưa vào đây là rất sáng tạo”.

·        Chuyện thuê bánh mỳ vác đất hộ nhau

Bạn G còn kể một chuyện nhân nhớ về thời ấy: Có anh N.Đ.Ch đã nhờ Giang vác đất hộ và được mua cho cái bánh mì. Ch. đi mua bánh, còn G thì vác hộ phần đất của Ch. Chuyện này tôi vẫn còn nghe mỗi khi 2 người gặp nhau ở những dịp họp lớp sau này. Thực hư không rõ, nhưng khi đó thanh niên đi lao động thì rất đói, lại vào năm 1978 đang là cao điểm khó khăn nhất hồi sinh viên, là khi đất nước đang “Lụt Bắc lụt Nam. Máu đầm biên giới[2]…”.

·        Chuyện ghê sợ tại hiện trường lao động

Một chuyện tôi rất nhớ và đến nay vẫn còn cảm giác ghê sợ. Khi đào vét ở bên sông Tô Lịch, chúng tôi thỉnh thoảng gặp những xương cốt đã lâu ngày vỡ vụn hoặc đã mềm nên xẻng đất đào qua thì khúc xương gắn dính vào hòn đất. Cứ chuyền tay nhau hoặc cho vào gánh cũng không nghĩ ngợi gì lắm vì khi đó không rõ đó là xương gì. Một đêm mưa rào lớn, sáng ra đi làm, anh Trác (lớp KT20B) nhặt được cái sọ người còn bộ xương răng hàm trên. Có người hoảng sợ bỏ chạy hoặc không dám nhìn. Anh Trác cầm lên nhìn bộ răng và nói: “Đây là người chết còn rất trẻ vì hàm răng còn nguyên và rất đều đặn. Có lẽ người ta đã chôn khi anh ta chết đói năm 1945”. Còn nhiều bộ xương nữa hiện rõ sau trận mưa rào. Rõ ràng người ta đã chôn nhiều người chết ở đây mà không có hòm ván gì. Hồi chúng tôi lao động không mê tín gì nên chẳng ai làm thủ tục gì khi gặp những bộ xương rải rác trong công trường[3]. Nghĩ đến bờ sông hoang vắng xưa rất có lẽ là nơi vứt xác hàng nghìn người chết đói năm 1945 hoặc những trận đánh nhau của những người lính năm xưa trên sông Tô Lịch được vứt lên bờ… Ôi xác thân những người đã mất không danh phận, không thông tin thờ cúng. Đáng thương thay!

·        Chuyện đổi tiền 3-5-1978

Thế là chiều thứ 6 được về sớm 1 ngày vì nhờ khoán nên vượt năng suất lao động. Nhiều người tranh thủ về quê thăm gia đình vì ngày 1-5 năm 1978 lại là ngày thứ 2. Thế là có tới 4 ngày nghỉ. Tôi cũng tranh thủ về quê 4 ngày. Đến ngày 2-5 định đi thì nghe nói sắp đổi tiền. Sáng 3-5 người ta đổi tiền thật. Hồi đó chuyện đổi tiền bị lộ thông tin, chúng tôi ở miền quê mà còn biết trước cả 1 ngày. Gia đình tôi cũng như nhiều gia đình khác khi đó không có đủ tiền để đổi theo tiêu chuẩn gia đình nông thôn. Thì ai có bao nhiêu đổi bấy nhiêu. Đây là lần đổi tiền thứ 5[4] của Chính phủ, nhưng là lần đổi thống nhất một loại tiền sau khi thống nhất đất nước.

Sáng 4-5 tôi đi tàu ra Hà Nội và được tiêu những đồng tiền đầu tiên sau khi đổi. Mệnh giá mới nên tiêu cứ thấy tiếc lắm, tiêu mất những đồng tiền giấy mới đầu tiên sau khi đổi.

Sau khi về trường mới biết có chuyện một số sinh viên KT20B bị kỉ luật vì do không về quê nên được nhà trường huy động đi đổi tiền. Có người còn bị “đúp” xuống khóa 21 vì chuyện này. Hồi đó chuyện đổi tiền bị lộ sớm nên những người có nhiều tiền đã kịp gửi cho người khác đổi hộ. Có lẽ mấy anh em KT20B dính vụ này.

*

*   *

Thế là hết những công việc năm thứ 3. Tôi ghi chép chuyện về lao động công ích như bài kết thúc một năm học. Từ những mẩu chuyện về cả năm học cho đến các ghi chép nói về từng môn học, từng người thầy dạy đã qua gần 50 năm rồi mà lại thấy như còn mới lắm. Cái thời gian khó bên nhau đúng là thật nhiều kỉ niệm – mà toàn kỉ niệm vui vẻ, may mắn.

 

 

Phụ lục: Một vài thông tin về đình Làng Cót[5].

Làng Cót hay Kẻ Cót là tên Nôm của hai làng Yên Quyết có từ lâu đời, là Thượng Yên Quyết (ở phía Bắc) và Hạ Yên Quyết (ở phía Nam), đều nằm bên bờ phải sông Tô Lịch. Về sau được lấy làm tên gọi cho làng Hạ Yên Quyết tức làng Bạch Liên Hoa, còn làng Thượng Yên Quyết sau đổi gọi là làng Giấy, do có nghề truyền thống là sản xuất giấy. Cả hai làng Yên Quyết sau thuộc phường Yên Hòa, quận Cầu GiấyHà Nội, nằm ven sông Tô Lịch đoạn từ Cầu Giấy đến gần cầu Trung Kính.

Làng Yên Quyết, với cái tên Kẻ Cót vốn xưa có từ lâu đời. Đến thời nhà Lý, nơi đây gắn liền với câu truyện lịch sử nhuốm màu huyền thoại: đó là cuộc thi đấu pháp thuật, ân oán giữa pháp sư Từ Đạo Hạnh (người làng Láng hay Yên Lãng), nhưng quê mẹ làng Cót (Yên Quyết) và Lê Đại Điên (người làng Yên Quyết) trong việc đầu thai làm thái tử nhà Lý. Đến thế kỷ 13, thời Lý - Trần, cùng với việc du nhập nghề làm giấy, làng Cót phát triển thành hai vùng với sự phân công lao động trong nghề giấy truyền thống. Nửa trên của làng về phía bắc gần cầu Giấy chuyên nghề làm giấy từ nguyên liệu là vỏ cây dó. Nửa làng dưới nằm ở phía Nam bắt đầu từ cầu Cót trở xuống chuyên làm một thứ sản phẩm là đầu ra của nghề giấy: đó là nghề làm vàng mã. Dần dần, từ một làng Yên Quyết-Kẻ Cót, tách thành hai làng Thượng Yên Quyết (Cót Thượng sau gọi là làng Giấy) và Hạ Yên Quyết (Cót Hạ vẫn được giữ tên gọi là làng Cót). Và cũng chính vì có nghề làm giấy ở làng Thượng Yên Quyết, cũng có ở làng Tiền Dịch Vọng kề bên (nằm ở phía Bắc) mà cây cầu ở gần giáp ranh giữa hai làng Thượng Yên Quyết và Tiền Dịch Vọng mới được gọi là Cầu Giấy.

Làng Cót-Hạ Yên Quyết ở gần kinh đô xưa, là một bến thuyền bên dòng Tô Lịch, nên kinh tế khá phát đạt với nhiều nghề thủ công, buôn bán. Làng Cót Hạ là một vùng đất cổ, với di vật khảo cổ được tìm thấy năm 1978, có niên đại khoảng 2000 năm. Đó là một ngôi mộ cổ bằng thân cây khoét rỗng cùng nhiều đồ tùy táng, nằm bên bờ sông Tô Lịch. Làng Cót từ xưa đã có một chế độ khuyến học thỏa đáng: làng dành ra 3 mẫu ruộng Lộc thư điền, cùng 100 quan tiền, để làm phần thưởng cho người đỗ tiến sĩ. Ngoài ra theo lệ làng, dân làng còn thưởng ruộng cho cả những người đỗ cử nhân nho học, tú tài nho học. Nhờ đó, mà làng có tới 10 tiến sĩ nho học và gần 30 hương cống thời Hậu Lê và 9 cử nhân thời Nguyễn.

Làng Cót hiện còn ngôi đình dựng lại vào năm Minh Mạng thứ 13 (1832) cùng với 5 ngôi miếu, đình làng thờ 5 vị thần trong đó có Cao Sơn đại vương, thần bản thổ. Làng có chùa Ngọc Quán, dựng năm Dương Hoà 8 (1642), hiện còn quả chuông đúc năm Cảnh Thịnh 8 (1800). Ngoài ra, còn có nhà thờ của dòng họ các Tiến sĩ Hoàng Quán ChiNguyễn Như UyênNguyễn Xuân Nham – là biểu tượng cho truyền thống học hành thành đạt của người làng...

 



[1] Chuyện anh Thắng tôi sẽ có dịp kể thêm trong một ghi chép khác. Đây là một người rất thông minh và sáng tạo trong chiến tranh và cuộc sống.

[3] Hiện nay, tại các công trường, mỗi khi gặp một bộ xương hay tiểu cốt, người ta thường hương khói và làm thủ tục đưa đến nơi khác một cách thành kính trang nghiêm.

 

Thứ Hai, tháng 1 19, 2026

Chuyện năm thứ 3 – Học các môn Cơ khí nông nghiệp, Toán xác suất và Thực hành công cụ tính




Ở kỳ thứ 2 năm thứ 3 chúng tôi vẫn được học những môn học đã được thiết kế và bổ sung mới trong chương trình đào tạo. Tôi thấy cũng nên chép lại cho hết những ký ức còn vương vấn. Thực chất của môn học này không có nhiều kỷ niệm và cũng không được áp dụng nhiều kiến ​​thức trong công việc của tôi sau này.

1. Học môn Cơ khí nông nghiệp

Tôi nghĩ rằng người ta thiết kế chương trình học môn cơ khí nông nghiệp để kỹ sư kinh tế cần biết kiểu “thập cẩm võ ban”. Năm thứ 3 vào kỳ 2 chúng tôi được học 120 tiết cơ khí nông nghiệp. Môn học bao gồm phần động lực ô tô máy kéo (45 tiết) và phần máy công tác trong nông nghiệp (45 tiết), trong đó có cả mấy tiết điện nông nghiệp. Ngoài ra chúng tôi còn được thực hiện 30 chi tiết.

Thầy giáo kỹ sư Bùi Văn Bốn dạy phần động lực ô tô, máy kéo. Thầy Bốn khoảng 40 tuổi, người Nghệ, cao tầm thước (cỡ 1,65m). Khuôn mặt hơi xương, nhiều chiều dài. Mắt rõ ràng nhìn thẳng thực và nguy hiểm. Thầy nói giọng hơi trúng thưởng nhưng khá nói sưa. Có nhiều chi tiết phải vẽ bằng phấn trên bảng đen được trình bày “Rất cơ khí”: phác thảo có ý, các bánh răng, các bộ phận bên trong như được bổ sung từ một phần của Máy khách. Nói chung thầy vẽ nhanh và khá đẹp, tất nhiên là cân đối. Rõ ràng đây là công việc của một giáo viên có kinh nghiệm trong nghề. Hồi đó chúng tôi nghe nói thầy đã được đi Đức tu nghiệp, nhưng hãy luận luận PTS của thầy chưa được bảo vệ vì có chuyện gì đó liên quan đến tài liệu sử dụng cần được bảo mật chưa bảo đảm bổ sung đúng (?) Tuy nhiên chúng tôi chủ yếu quan tâm đến nội dung học và điều này, không có điều kiện chú ý đến môn học chuyên sâu của học viên, nhất là các học viên khoa học bên ngoài.

Tôi thấy phần thầy dạy chủ yếu đi sâu động cơ DT-75 - một động cơ máy kéo bánh xích của Liên Xô nổi tiếng thời đó mới được nhập vào Việt Nam. Theo những gì tôi được nghe, thầy Bốn nói về động cơ DT-75 như một sự hoàn mỹ về những ưu việt công nghệ. Vì không có đối tượng so sánh nên chúng tôi chấp nhận điều đó như một sự thật thực sự được đặc ân “lưu ái hiểu biết”.

Những tiết đầu tiên dạy về động cơ đốt trong 2 thì, 4 thì . Đại loại là nguyên tố hoạt động của các loại thiết bị cơ khí, cam trục, van đóng khí vào, khí cụ ra, kỳ tích nổ có kích thích nhờ bugi đánh lửa… Nhờ đó, quay xẹp để tạo ra công suất cho các hoạt động như chuyển động trên mặt đất, hoạt động của các máy công tác theo các mục đích sản xuất sản phẩm khác nhau.

Một điều chắc chắn tôi nhớ lâu từ bài giảng của thầy Bốn là khi dùng động cơ trong ô tô máy kéo, người ta chế ra bộ li hợp (còn được gọi là côn) để nối hoặc ngắt kết nối giữa động cơ với phần chuyển động qua các bánh xe. Bộ li hợp giúp người lái khởi động, chuyển số và dừng xe êm ái bằng cách kết nối và tách rời trục khuỷu động cơ khỏi hệ thống truyền động. Vai trò chính của li hợp khi chuyển số là ngắt truyền lực tạm thời để chuyển số dễ dàng. Còn khi muốn dừng xe, bộ li hợp tách động cơ khỏi bộ phần truyền động, khi đó xe dừng mà động cơ vẫn hoạt động.

Rồi thầy nói về người ta đã chế tạo ra cái vi sai chuyển hướng như là sự phát minh rất đặc biệt để khi vận động quay vòng (không đi thẳng). Vi sai chuyển hướng trong ô tô là bộ phận truyền động giúp các bánh xe quay với tốc độ khác nhau khi vào cua hoặc đi trên địa hình không bằng phẳng mà xe vẫn êm ái và ổn định. Nguyên lý hoạt động: nếu đi thẳng thì bánh xe quay cùng tốc độ, bộ vi sai phân phối lực đều. Khi vào cua thì bánh xe ngoài cần đi quãng đường dài hơn nên quay nhanh hơn bánh xe trong. Bộ vi sai cho phép điều chỉnh tốc độ giữa hai bánh để xe vào cua êm ái, không bị trượt. 

Trong phần dạy của thầy Bốn, tôi thấy có 2 buổi (6 tiết) thầy Quế dạy. Phần thầy Quế dạy liên quan đến bộ truyền động của ô tô máy kéo từ động cơ đến các bánh xe. Thầy Quế tốt nghiệp CK16 của ĐHNN I, đang tập sự chuyên môn nên đi giảng các khoa ngoài ngành là một kiểu thử việc. Phần mô tả bài giảng được thầy Quế vẽ minh họa bằng tay khá nhanh và đẹp như thầy Bốn.

Phần máy công tác trong nông nghiệp do thầy Thái dạy. Thầy Thái tốt nghiệp CK15 ĐHNN I, bắt đầu hết tập sự và được phân công đi dạy. Thầy Thái giọng nói có âm khá rộng nhưng hơi ề à kiểu nông dân chứ không có lối nói dứt khoát như thầy Bốn. Nhìn chung thầy Thái là giáo viên trẻ nhưng nắm bài khá vững, trình bày sáng sủa các minh họa. Tất nhiên cách diễn đạt dẫn người học vào bài còn nhiều hạn chế so với các giảng viên có kinh nghiệm.

Các loại máy thầy Thái dạy liên quan đến máy làm đất (cày, lồng, xới), máy bơm tưới (trục đứng, trục ngang), máy thu hoạch (khoai tây, gặt đập liên hợp lúa mì), máy ấp trứng... Có một số tiết phần điện nông nghiệp được thầy Thái mô tả là có các trục ở 2 đầu bờ để kéo các máy thực hành nông nghiệp trên ruộng (bón phân, làm cỏ…).

Mỗi loại máy đều được thầy Thái mô tả cấu tạo, nguyên lý hoạt động kết hợp với động cơ trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ nông nghiệp. Các phần dạy của thầy cũng có nhiều hình ảnh minh họa khá đẹp. Nhiều hình ảnh được vẽ sẵn trên giấy cỡ A0 được treo cho lớp nhìn khi giảng bài. Thường các minh họa kiểu ấy chúng tôi không phải vẽ vào vở mà chỉ nhìn cho biết. Học nhiều loại máy nhưng nói chung khó nhớ vì ngoài máy bơm, bánh lồng đất thì các loại máy khác bản thân tôi chưa từng thấy nên không hình dung được nhiều.

Xưởng cơ khí và phần thực hành môn học

Xưởng cơ khí là một khu gồm nhiều nhà chuyên dụng được xây để các máy móc do Liên Xô giúp xây dựng. Trừ một vài loại máy bơm, bánh lồng do Việt Nam chế tạo còn phần lớn máy móc ở đây được chuyển từ Liên Xô qua. Xưởng đặt trong một khu đất rộng khoảng vài ha, được thiết kế thành những khối nhà có mái cao, rộng rãi. Các nhà để máy vừa như là ga-ra lại vừa như nơi trình diễn hướng dẫn nên khá đẹp và tiện lợi.

Phần hướng dẫn thực hành do thầy kĩ sư Nghiễn phụ trách. Thầy Nghiễn cho chúng tôi đi xem các máy cụ thể có trong xưởng cơ khí. Thực hành (30 tiết) chỉ là được dẫn đi xem, nghe giới thiệu sơ qua các cỗ máy đứng im, ngắm nghía một lát rồi đi (chứ không được như sinh viên cơ khí thực hành trực tiếp lái máy kéo trên đồng ruộng).

Trong các buổi thực hành, mỗi buổi chừng hơn 3 giờ (tính giờ như một buổi 5 tiết). Khi đến một gian nhà chứa máy, đầu tiên thầy Nghiễn giới thiệu loại máy, công dụng, cấu tạo, cách hoạt động. Chúng tôi nhìn, nghe, ghi chép và… hết. Rất nhiều người thậm chí không ghi chép gì vì có thể không biết cách ghi hoặc có thể không ghi kịp vì thầy thì nói nhanh, còn người thực hành thì lố nhố cao thấp đứng quanh, kẻ thấy, người không thấy. Cứ thế qua một số buổi, chúng tôi xong phần thực hành. 

Có một vài ấn tượng về phần thực hành: một số loại máy có lẽ mấy chục năm chưa được sử dụng nay đã cũ nát, bụi và mạng nhện chăng đầy phòng máy. Tôi nhớ nhất là máy liên hợp gặt đập, máy thu hoạch khoai tây và máy ấp trứng.

Gian phòng chứa máy liên hợp gặt đập khá cao vì có cái ống cao tít phía trên được thầy Nghiễn nói là ống dẫn hạt lúa mì được dùng băng chuyền xoắn đưa lên để từ đó đổ ra thùng xe khi đến bờ hoặc khi xe đi cùng máy liên hợp trên cánh đồng. Thầy nói đây là máy thu hoạch lúa mì trên cánh đồng nông trang bên Liên Xô rộng hàng trăm ha chứ không phải máy thu hoạch lúa ở Việt Nam. Nguyên tắc hoạt động là có bộ phận phía trước quay tròn “vơ” ngọn lúa mì vào trong cho bộ phận cắt (kiểu tông đơ), sau đó được đưa vào bên trong buồng đập tách rơm, thu hạt, quạt gió bay bụi và trấu để đưa hạt vào một buồng chứa. Khi đổ hạt ra thì đưa lên cái ống cao như cái vòi phun hạt ra thùng xe tải. Chúng tôi nhìn như một sự mơ ước và nghĩ không biết đến bao giờ mới áp dụng ở Việt Nam.

Máy thu hoạch khoai tây thì khá đơn giản: một hàng các lưỡi xới đi ngầm dưới luống khoai tây để hất củ lên một cái sàng. Sàng rung lắc để đất rơi xuống, củ trên sàng sẽ lăn vào bên trong thùng đựng. Cái máy này cũng viễn vông lắm, có lẽ còn lâu mới cần cho nông dân Việt Nam vì khi đó (1978) khoai lang là chính, chúng tôi biết chỉ rất ít nơi trồng khoai tây ở Việt Nam.

Máy ấp trứng khá gọn, bên ngoài có nhiều nút tín hiệu thể hiện nhiệt độ và các đèn báo ở cái mặt cửa rộng bằng sắt tráng men màu xanh lam nhạt khá đẹp. Mở cửa ra thấy bên trong có rất nhiều khay để trứng xếp theo hàng. Thầy Nghiễn nói một số cơ cấu được chế tạo để giữ nhiệt độ, độ ẩm sao cho giống như dưới bụng gà mái ấp. Lại có hệ thống điều chỉnh sự lăn nghiêng trứng trong quá trình ấp, mô phỏng gà mẹ lấy chân và mỏ “đảo trứng” cho đều độ ấm. Lần đầu tiên tôi biết chuyện này (hồi đó chưa học môn chăn nuôi nào). Hồi nhỏ ở quê chỉ biết gà mái ấp thì bọn trẻ có khi luồn tay vào bụng gà ấp để biết độ nóng chứ chưa từng biết gà mái ấp biết “đảo trứng”.

Môn học này thi vấn đáp ngày 29-7-1978. Tôi cũng không còn nhớ gì về cách thi, chỉ biết mặc dù được giới hạn nhưng các câu hỏi thi cũng khá nhiều. Mỗi đề thi có 2 câu về 2 phần đã học. Các thầy hỏi thi cũng khá nhanh vì cơ bản chỉ hỏi cấu tạo, nguyên tắc hoạt động. Tôi cũng học kĩ nên đạt 4/5 điểm.

Vài kỉ niệm về môn cơ khí nông nghiệp

Chuyện anh Hợp kể: Sau này (khi tôi đã về dạy ở trường) tôi được nghe anh Hợp (ở Phòng Tài vụ) kể rằng ở Khoa Cơ khí có một thầy quê miền Trung (Quảng Ngãi hay Quảng Nam gì đó) tên Võ Tấn Thặng. Thầy giới thiệu tên thầy là Thẹng (đọc kiểu giọng Quảng Nam). Thầy Thặng hướng dẫn thực hành máy nào đó có nói về cái thiết bị chống “kẹt” máy. Thầy đọc từ kẹt kiểu giọng Quảng Nam làm nhiều người cứ tưởng… như nói tục.

Chuyện học lái xe: Năm 2003 tôi đi học lái xe ô tô ở Trung tâm lái xe của ĐHNN I ở phía sau Xưởng Cơ khí. Tất nhiên khi sát hạch thì phải lên Trung tâm giám định ở Sài Đồng thi lấy bằng lái. Khi ngồi lái mới biết tác dụng cái côn (li hợp) xe và bộ phận vi sai hồi được nghe thầy Bốn dạy. Người học lái làm động tác cắt côn, gài côn khi xuất phát xe không quen phối hợp với ga nên xe cứ bị tắt máy hoặc giật cục. Khi đó mới hiểu rõ tác dụng của cái li hợp xe. Rồi hiểu thêm về bộ phận vi sai: rõ ràng khi vào cua quành xe thì bánh xe bên trong cua có quãng đường ngắn hơn bánh xe bên kia nhiều. Cái vi sai có tác dụng giúp người lái cảm thấy xe rất ổn định.

Hồi đi bộ đội, tôi được cử đi công tác ở các nông trường quân đội. Khi đó có rất nhiều xe máy ở nông trường được trang bị mà không sử dụng mấy, mỗi năm chỉ vài lần cày đất rồi bỏ không mưa nắng dãi dầu trên bờ kênh. Bọn lính trẻ chưa hề được học hành gì nhưng đều biết lái chạy vài vòng trên đồng rộng mênh mông làm nhiệm vụ bắt chuột đồng cải thiện đời sống. Khi đêm vắng, lính lấy máy cày bật đèn sáng chạy vòng quanh một khu cỏ rộng rồi sau đó lái vòng dần vào bên trong. Bọn chuột thấy tiếng động chạy ra gặp cỏ rạp xuống (vì bánh xe) nên rúc ngược vào trong. Cứ thế đến khi vòng xe nhỏ lại, chuột chạy vọt ra gặp ánh đèn pha sáng chói mắt nên cứ đứng nhìn. Thế là các chú lính “nhặt” chúng về cải thiện. Chuyện nay tôi đã ghi chép ở bài “Các chuyến đi công tác Kiên Giang (kì 2)”[1]. Thì ra máy cày còn có một tác dụng được các chú lính trẻ phát hiện và khai thác. Công dụng này tôi không được dạy hồi đi học. 

2. Học môn Toán xác suất (45 tiết)

Toán xác suất do thầy PTS Tô Cẩm Tú dạy, Thầy là PTS toán đầu tiên của trường vừa đi học Liên Xô về, chúng tôi còn nghe nói thầy Tú là PTS toán xác suất đầu tiên của Việt Nam. Lúc đầu nghe nói được học môn này cũng thấy khoái vì được nghe giảng từ một thầy có học vị PTS vừa tốt nghiệp từ Liên Xô về. Ban đầu chương trình dự kiến là học môn Bảo quản chế biến nông sản nhưng sau đó được thay thế bằng môn Toán xác suất (cần cho nghề kĩ sư kinh tế hơn chăng?). Nghe nói toán xác suất là môn học mới, rất hay và khó. Lúc này chúng tôi đã vào năm thứ 3 nên tư duy toán cũng suy giảm, nhưng học để biết thêm về môn toán. Đáng lẽ môn này học từ năm thứ 2 nhưng khi đó chưa có giáo viên dạy.

Thầy Tô Cẩm Tú hiền hòa, nói chậm, thậm chí diễn đạt tiếng Việt có vẻ hơi khó, chắc thầy vừa có mấy năm toàn dùng tiếng Nga. Thầy mô tả toán xác suất là loại toán rất khó và cũng rất khó vận dụng trong  nông nghiệp, nhưng rất quan trọng vì nhờ nó để định lượng những cơ hội và nguy cơ trong các dự báo kế hoạch sản xuất rất tốt.

Nội dung dạy thì không nhiều lắm, thầy Tú chỉ có giới thiệu 2 phép tính xác suất (cộng và nhân). Về các biến cố nay tôi chỉ còn nhớ lơ mơ là có biến độc lập và biến xung khắc. Đa số các ví dụ của thầy là gieo con xúc xắc hoặc lấy ngẫu nhiên các viên bi màu. Không thấy ví dụ nào về hiện tượng khí hậu nông nghiệp hay thời tiết. Chắc là thầy cũng chưa kịp đưa vào bài giảng những vấn đề của nông nghiệp vì thầy nói dạy cho chúng tôi là lớp đầu tiên bậc đại học.

Thầy luôn nói học xác suất rất khó. Có đôi khi thầy đang giảng thì dừng lại và nói phần này khó, thôi ta để lại. Có khi giảng một hồi thì thầy nói, tôi nhầm, nội dung này dùng để thi nghiên cứu sinh… Đại loại tinh thần học của chúng tôi cơ bản là mong muốn tiếp thu, nhưng thái độ dạy của thầy cho rằng nội dung toán rất khó và nếu có dạy thì chúng tôi cũng không biết được (có gì đó như kiểu hơi coi thường người nghe hay thầy nghĩ có hiểu được thì chúng tôi cũng chẳng biết vận dụng để làm gì).

Khi ôn tập tôi biết thêm về cái khó toán xác suất: các sự kiện trong thực tế xảy ra các biến cố xác suất. Thuật ngữ để phân biệt là hoặc/và trong xác định các biến số xác suất. Nếu là hoặc nghĩa là cái này xảy ra thì cái kia có thể không xảy ra. Còn nếu là thì cái này xảy ra thì cái kia cũng có thể xảy ra. Còn tần suất hay số % khả năng xảy ra biến cố chính là xác suất cần tìm (hay cần đo) để biết điều kiện đó thì có bao nhiêu khả năng xảy ra…

Ngay cả đến bữa kiểm tra thầy cũng nói sẽ kiểm tra theo kiểu chọn mẫu ngẫu nhiên: tức là mỗi lớp chọn ra 10 người làm bài kiểm tra. Tôi và nhiều người trong tổ 1 được chọn làm người kiểm tra môn của thầy. Đề kiểm tra thì cũng chỉ là áp dụng công thức cộng xác suất, y như ví dụ thầy đã cho nên ai được chọn đi kiểm tra cũng làm được bài – suy ra cả lớp làm được bài!

Tóm lại là có học nhưng không biết được gì nhiều về tinh thần và nội dung của môn học. Có một trải nghiệm duy nhất chúng tôi có được: học từ vị PTS đầu tiên về toán vừa tốt nghiệp từ Liên Xô về.

Học xong môn này vừa thấy ngại ngùng vì một chuyện quá khó người ta đưa vào dạy cho chúng tôi như một thứ xa xỉ, nhưng lại như thấy hổ thẹn về cách mình vừa tham gia thi cho mình mà như đi thi hộ, thi mà không có cảm giác cuộc thi chỉ thấy như thủ tục làm cho xong chuyện. Trách ai đây? 

3. Học môn Thực hành công cụ tính (30 tiết)

Thực hành công cụ tính do cô kĩ sư kinh tế nông nghiệp Phạm Thị Mỹ Dung dạy. Cô Phạm Thị Mỹ Dung tốt nghiệp Khóa 10 ngành Kinh tế nông nghiệp của ĐHNN I. Cô đã đi công tác ở thực tế được mấy năm, nay mới về trường và dạy môn học này lần đầu tiên. Chúng tôi được học cô giáo mới dạy lần đầu, môn học mới thiết kế đưa vào chương trình. Bố trí học theo kiểu nhóm thực hành ở một phòng nhỏ tầng 3 nhà 4 tầng ngay cạnh phòng kho để máy cho tiện mượn công cụ thực hành. Lớp KT20A học riêng với lớp KT20B.

Cô Dung người thấp (chưa đến 1,50m), hơi mập, rất hiền lành. Chồng cô là thầy Đinh Văn Hiến khi đó đang là giáo viên Bộ môn Tổ chức QLXN. Cô được tuyển dụng làm giáo viên sau một số năm đi chỉ đạo sản xuất thực tế như là cơ hội hợp lý hóa gia đình. Cái khó khi chúng tôi nghe giảng là giọng nói và cách diễn đạt của cô. Cô nói giọng xứ Nghệ khá nặng khó nghe, nhưng diễn đạt thuật ngữ công cụ tính có cảm giác toàn từ ngữ không phổ biến lắm trong thực tế nên cô nói không trơn tru lắm. Nào là phần nguyên, phần số chính xác, cơ số, phần tiền tố trước một số thập phân… trong logarit. Cũng may là khi thực hiện hướng dẫn thì mọi người đều làm được.

Chúng tôi được học và thực hành 2 loại: thước tính logarit và máy NISA của Tiệp Khắc. Sau đó còn được giới thiệu thêm về máy FACIT của Thụy Điển, nhưng không được thực hành vì quá ít máy nên chỉ được nhìn qua cho biết.

Về thước tính: chúng tôi được mượn mỗi người 1 thước tính. Thước còn rất mới, có cả hộp đựng. Loại học là thước trượt tuyến tính: dạng thanh trượt nằm giữa hai thanh cố định. Khi thực hiện thì rút thước tính dọc theo khe rút và so sánh các con số trên thanh trượt với rất nhiều hàng vạch được đánh số sẵn trên phần thanh cố định.

Thước tính là thiết bị tính toán cơ học analog sử dụng thang đo logarit để thực hiện phép nhân, chia, lũy thừa, khai căn và lượng giác bằng cách cộng/trừ các độ dài trên thang đo, thay thế cho phép tính số học phức tạp. Thước logarit nghe nói được phát minh từ đầu thế kỷ 17, được các kỹ sư sử dụng rộng rãi trước khi máy tính điện tử ra đời. Các tính toán lượng giác (sin, cos, tan) được áp dụng phổ biến trong tính toán kỹ thuật, khoa học, hàng hải, hàng không trước khi máy tính điện tử phổ biến. Nói chung là có thể làm được nhiều việc nhưng chúng tôi khi đó không biết học xong có dùng được gì cho công việc không.

Thước tính logarit

Máy tính quay tay NISA của Tiệp Khắc là loại máy tính cơ khí phổ biến ở Việt Nam những năm 1970, dùng để thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân, chia thủ công hỗ trợ cho kế toán, thống kê. Cơ chế hoạt động dựa trên bánh răng và thanh trượt (răng cưa) để thực hiện các phép tính. Giao diện có các núm để nhập số, các cửa sổ nhỏ để hiển thị kết quả phép tính (tổng, hiệu, tích, thương).

Máy tính NISA khi đó do người ta viện trợ cho Việt Nam trong chiến tranh. Đa số máy đã dùng, han rỉ, phần lớn hư hỏng. Ở trong kho người ta lấy cái nọ lắp cho cái kia, gắn lại các đầu phím bấm, lau chùi các thanh bấm, quay tay. Khi bấm xong một hàng số thì quay một vòng để máy nhận, sau đó gạt cần sang phép tính cần dùng (cộng, trừ, nhân, chia) và bấm tiếp hàng số thứ 2. Quay một vòng để máy sẽ báo kết quả.

Máy NISA


Máy FACIT thì cao cấp hơn: dùng điện để thay cho quay tay và có hàng chữ số kết quả hiện trên một vạch kính. Vào khoảng năm 1970, FACIT là một thương hiệu Thụy Điển danh tiếng với các sản phẩm cơ khí chính xác, đặc biệt là máy tính cơ và sau đó là máy tính điện tử, máy tính bỏ túi (calculator). Dù không được thực hành nhưng chúng tôi thấy cũng tương tự như NISA: cũng bấm số, chọn phép tính và bấm nút thực hiện để xem kết quả. Có lẽ chỉ khác NISA là thay quay tay bằng ấn nút điện để thực hiện.

Máy FACIT


 

*

*  *

Đối với tôi, 3 môn học này không có nhiều tác dụng lắm trong công việc. Duy có môn Toán xác suất thì tôi phải học thêm sau này để có kiến thức dạy các môn về đầu tư, nhất là môn Quản trị danh mục đầu tư chứng khoán (chương trình cao học). Trong các ngành kinh doanh bảo hiểm, người ta cũng sử dụng rất mạnh xác suất khi dự báo đầu tư kinh doanh. Còn môn Thực hành công cụ tính thì chỉ như được biết thêm một công cụ mà thế giới đã có, nhưng khi máy tính tay (calculator) ra đời thì các thứ chúng tôi được học coi như đã cáo chung. Tất nhiên sau này máy vi tính làm được tất cả các công việc tính toán thật dễ dàng.

Khi đọc các ghi chép của tôi về các môn học ở ĐHNN I, bạn Giang cho rằng môn Cơ khí nông nghiệp đối với Giang là rất bổ ích vì Giang sau này được học thêm về ngành máy móc thi công trong ngành giao thông. Nay tôi ghi chép lại những kí ức về môn học Cơ khí nông nghiệp, mong bạn có thêm kỉ niệm một thời và nếu có gì bổ sung thì nói giùm nhé.

 



[1] Tham khảo thêm tại https://lehuuanhghichep.blogspot.com/2025/03/cac-chuyen-i-cong-tac-tai-kien-giang-ki_23.html

Thứ Hai, tháng 1 12, 2026

Năm thứ 3 - Những môn học đầu tiên về chuyên môn nghiệp vụ của kĩ sư kinh tế nông nghiệp (kì 4)

 Chuyến đi thực tập giáo trình lần thứ nhất – khối HTX

 Vào giữa tháng 4-1978, chúng tôi được huy động đi lao động công ích cải tạo sông Tô Lịch 2 tuần. Đầu tháng 5 về học thêm 2 tuần thì đi thực tập giáo trình lần thứ nhất – khối HTX sản xuất nông nghiệp. Thực tập liên quan đến nội dung hai môn học Thống kê nông nghiệpKế toán nông nghiệp. Ngoài ra môn Kinh tế nông nghiệp cũng có nội dung tìm hiểu, nhưng vì môn học này đã thi xong từ kì 1 nên không thu hoạch được điều gì đáng kể. Dưới đây là những chuyện liên quan đến lần đi thực tập của nhóm của tôi tại xã Cổ Bi, Gia Lâm, Hà Nội.

Điểm thực tập tại xã Cổ Bi

Trước khi đến thực tập tại Cổ Bi, tôi chỉ biết chợ Vàng và bên sông Đuống ở Cổ Bi có bến đò nhỏ qua Phù Đổng, nơi có hội Gióng nổi tiếng cả nước. Khi về đây thực tập tôi mới biết một di tích rất nổi tiếng là Hành cung Cổ Bi[1] – nơi Chúa Trịnh trực tiếp điều hành đất nước thời Hậu Lê trong bối cảnh Vua Lê – Chúa Trịnh. Ngay bên cạnh Cổ Bi là xã Đặng Xá[2] (nơi cư xá của người họ Đặng), nghe nói Đặng Thị Huệ, Đặng Mậu Lân[3] là những nhân vật lịch sử nổi tiếng đã sinh ra ở đây. Rồi cũng từ đây tôi biết thêm lịch sử tên gọi Trâu Quỳ là từ gò đất lớn có hình con trâu quỳ xuống nhìn về Thăng Long gắn liền với sự tích Nguyên phi Ỷ Lan[4]. Cổ Bi-Đặng Xá-Phù Đổng-Trâu Quỳ là những xã gắn với nhiều di tích lịch sử - rõ ràng là những vùng dân cư lâu đời. Ở đây có những làng cổ chứa đựng nhiều di tích và huyền thoại trong lịch sử và văn hóa dân gian Việt Nam.

Nhóm thực tập hỗn hợp 2 khóa

Năm 1978, Khoa Kinh tế nông nghiệp xếp KT20 cùng đi thực tập cùng với các lớp KT19. Nhóm của tôi được cử đi thực tập tại HTX nông nghiệp quy mô toàn xã tại Cổ Bi, cách trường khoảng 4 km. Nhóm KT20A do anh Khang làm tổ trưởng (gồm Chu Văn Khang, Lê Hữu Ảnh, Công Phương Kình và Nguyễn Ngọc Minh). Nhóm KT19 gồm Đỗ Kim Chung, anh Tuyên, anh Chữ, Chị Huệ, chị Đằm. Các anh chị KT19 thực tập thời gian dài hơn (chúng tôi chỉ đi 4 tuần nên về trước). Tuy cùng ăn ở và thực tập một nơi nhưng công việc KT20 và KT19 khác nhau.

Cả nhóm được bố trí ăn ngủ tại Trại Chăn nuôi thôn Vàng. Trại khi đó không chăn nuôi con gì nên sạch sẽ và hoang vắng. Chỉ có một bác bảo vệ trông coi tài sản. Trại nằm ngoài rìa đồng, thoáng mát, xa dân cư. Sau khi chúng tôi đến, bác bảo vệ được HTX bố trí kiêm luôn việc giúp chúng tôi nấu ăn hàng ngày. Khi đó HTX có cấp thêm khẩu phần lương thực, rau xanh cho chúng tôi nên ăn uống không bị đói như trong bếp ăn tập thể trường.

HTX nông nghiệp toàn xã Cổ Bi

Xã Cổ Bi khi đó mới tổ chức HTX toàn xã do hợp nhất từ 3 HTX của 3 thôn: Vàng, Cam và Hội. Xã có một chợ dân sinh lớn (gọi là chợ Vàng). Cạnh chợ có HTX mua bán Cổ Bi nổi tiếng một thời – mô hình HTX mua bán kiểu mẫu. Ngôi nhà 2 tầng khang trang, tầng dưới là nơi bán hàng, tầng 2 là nơi làm việc của Ban quản lý HTX mua bán. Có cả một dãy nhà để mua sản phẩm nông nghiệp của bà con và tổ chức bán luôn cho dân. Ở đây rau, củ, quả cũng được thu mua và trao đổi, miễn là có lợi và cạnh tranh được với chợ Vàng ngay trước cổng HTX mua bán. Chủ nhiệm HTX mua bán Cổ Bi khi ấy là một người đàn ông rất tháo vát tên Ân.

Hồi đó HTX Cổ Bi đang có mâu thuẫn nhất định khi hợp nhất các HTX từ 3 thôn thành HTX quy mô toàn xã. Thôn Cam và thôn Vàng là 2 thôn lớn nên các mâu thuẫn dường như đã có từ lâu đời. Còn thôn Hội nhỏ nhất và ý kiến có lẽ không đủ mạnh nên các vấn đề chủ yếu từ 2 thôn lớn trong xã gây ra. Huyện Gia Lâm thấy tình hình phức tạp nên cử cán bộ huyện về tăng cường cho Ban chủ nhiệm: ông Hiển từ Công ty Chăn nuôi huyện về làm Chủ nhiệm HTX, chị Nguyễn Thị Nghĩa từ đơn vị vật tư huyện về làm Kế toán trưởng HTX. Chúng tôi về thực tập trong bối cảnh đó.

Tôi không rõ công việc của nhóm thực tập KT19 là gì, nhưng việc của KT20 là thu thập số liệu đất đai cho môn Kinh tế nông nghiệp và chủ yếu là gặt điểm thống kê năng suất lúa vụ Xuân 1978 cho môn Thống kê nông nghiệp. Môn Kế toán nông nghiệp chỉ được giao là tìm hiểu sổ sách kế toán HTX (chế độ 43 tài khoản). Buổi đầu gặp mặt với Ban Chủ nhiệm HTX rất thuận lợi. Ông Hiển giới thiệu đoàn thực tập với Ban Chủ nhiệm và có ý giao việc luôn: giao người phụ trách, giao các đầu mối giúp công việc cho sinh viên, giao người giúp hỗ trợ ăn ở. Sau này ông Hiển thường xuyên ra Trại Chăn nuôi thôn Vàng thăm và bàn với chúng tôi những công việc phải giúp HTX. Chúng tôi biết ông Hiển cũng muốn tranh thủ chúng tôi để gỡ rối những vấn đề đang phức tạp tại HTX. Ngay sau buổi gặp Ban Chủ nhiệm HTX, ông Hiển đã quyết định cấp thêm lương thực và rau xanh cho nhóm thực tập, lại cử luôn ông bảo vệ ở Trại chăn nuôi thôn Vàng nấu ăn cho sinh viên hàng ngày.

Nói thêm về 2 cán bộ tăng cường

Ông Hiển có biên chế ở Công ty chăn nuôi huyện, khoảng 50 tuổi, quê Thanh Hóa. Bản thân ông là Kĩ sư chăn nuôi, tốt nghiệp ở ĐHNN I. Ông sống cùng vợ con ở Nhà A3 Khu tập thể cán bộ trong trường ĐHNN I vì khi ấy vợ ông (bà Ngoan) đang công tác tại Phòng Đời sống, cụ thể là đang làm tại bếp ăn tập thể sinh viên. Ông được huyện cử về HTX Cổ Bi như người trọng tài giải quyết các vụ việc mâu thuẫn tại 2 thôn lớn của địa phương. Có lẽ cũng rất phức tạp nên có lần cuối buổi chiều ra thăm chúng tôi, ông nói mỗi ngày ông phải có cách đi về không giống nhau để tránh bị theo dõi. Đúng vậy, từ trại Chăn nuôi thôn Vàng, tôi thấy ông đạp xe qua cánh đồng đi tắt ra đường 5 để về trường.

Chị Nghĩa khi đi tăng cường đang làm Kế toán ở Công ty vật tư huyện được bổ nhiệm Kế toán trưởng HTX. Chị Nghĩa khá xinh, khoảng hơn 30 tuổi, quê ở xã Thạch Bàn, Gia Lâm. Hàng ngày chị đạp xe đến Cổ Bi làm việc (khoảng 4km). Sau này nhờ anh Khang “trổ tài ngoại giao” mà từ đó chúng tôi quen cả ông Hiển và chị Nghĩa. Nhà bà Ngoan – ông Hiển là nơi chúng tôi gửi đồ mỗi khi về nghỉ dịp Tết, dịp hè. Với gia đình nhà chị Nghĩa thì mối quan hệ khá thân thiết do anh Khang rất tình nghĩa với gia đình chị. Bà mẹ chị Nghĩa rất quý anh Khang, bà bảo: “Tao quý thằng Khang vì nó từng bộ đội, lại thương binh giống con trai bà”.

Các nội dung thực tập chuyên môn

Việc quan trọng nhất của nhóm KT20 là gặt điểm thống kê năng suất lúa. Công việc này cần triển khai gấp để kịp gặt điểm trước khi ruộng lúa của HTX thu hoạch. Chúng tôi nhanh chóng mượn được bản đồ, phóng tuyến trên bản đồ theo hướng dẫn tập huấn của cô Thanh, từ đó chọn được các điểm gặt thống kê. Sau khi chọn đủ số điểm trên bản đồ, chúng tôi được anh cán bộ thống kê HTX đưa đi thực địa để chốt vị trí gặt.

Phải nói chuyện gặt điểm thống kê năng suất lúa không phải xa lạ với cán bộ thống kê HTX. Anh cán bộ thống kê khá thông thạo công việc, giúp chúng tôi xác định vị trí trên bản đồ và vị trí thực địa rất nhanh chóng. Anh cùng chúng tôi bàn luận về cách điều chỉnh vị trí trên bản đồ và vị trí thực cho hợp lí hơn, đánh dấu thực địa, xác định dự kiến thời gian gặt và ghi chép cẩn thận xứ đồng, trà lúa, giống lúa… Chỉ một thời gian ngắn là công việc gặt điểm tiến hành sớm ở các trà lúa có điểm gặt thống kê khi lúa chín.

Trước đó, chúng tôi còn được một buổi đi thăm đồng cùng cán bộ HTX. Có khoảng 30 chục người là cán bộ chủ chốt thăm đồng và cả gần chục sinh viên thực tập. Mọi người đến tập trung đầy đủ tại trụ sở HTX rồi đi bộ đến các cánh đồng. Đi kiểu khép kín các xứ đồng, sau khoảng hơn 4 giờ, đi lại chắc cũng khoảng 5-6km. Đến gần 12am thì kết thúc thăm đồng, đánh giá đồng ruộng. Khi về trụ sở xã thì thật bất ngờ, chúng tôi được mời bữa ăn thăm đồng rất thịnh soạn. Người ta đã mổ cả con lợn tiếp đãi đoàn thăm đồng. Lợn làm đủ món cho một bữa ăn mà sinh viên chúng tôi thật may mắn được hưởng thụ ngay sau buổi thăm đồng kéo dài hơn 4 giờ đi giữa nắng nóng và lại đang rất đói.

Việc gặt điểm thống kê cũng khá thuận lợi. Anh cán bộ thống kê HTX luôn theo sát chúng tôi trong công việc. Có lẽ anh cũng từng làm công việc này nhiều lần nên khá thông thạo và hướng dẫn chúng tôi làm rất nghiêm túc. Có 2 cái sào mỗi cạnh dài 2m được xâu bằng dây 2 đầu gậy vào nhau. Khi ra ruộng, xác định điểm gặt thì đặt 2 sào ra 2 phía, lấy cái thước vuông kiểm tra để bảo đảm góc vuông 90 độ. Dùng chân ập gốc cây lúa vào trong để xác định phạm vi gặt. Sau đó quay sào chốt 2 cạnh kia - thế là được 4m2 điểm gặt theo vị trí trên thực địa. Sau đó chỉ việc lấy liềm cắt lúa đưa vào bao, đánh dấu cẩn thẩn vị trí gặt đem về đập, phơi riêng, cân đo và ghi chép.

Các công việc liên quan đến kĩ thuật trong nhóm do tôi làm là chính. Anh Khang và anh Minh, anh Kình chỉ giúp vài thứ. Có nhiều điểm người gặt là dân địa phương cử đi làm giúp nên chúng tôi chỉ như theo dõi chứ cũng không làm gì. Khi đưa lúa về điểm, các anh trong nhóm KT20 chỉ giúp tôi đập, phơi, còn theo dõi thì tôi trực tiếp làm cho đến khi cân đo xong. Anh Kình bảo mày trẻ, làm cho khỏi nhầm, bọn tao mà xúm vào có khi mất dấu là hỏng cuộc điều tra. Cứ thế, nhóm chúng tôi làm công việc thống kê nông nghiệp rất tốt và nghiêm túc. Các báo cáo kết quả về gặt điểm cũng do tôi làm thay cho cả nhóm.

Việc thực tập kế toán thì quá đơn giản. Thầy Thoại cũng cho nội dung rất lơ mơ nên chúng tôi không biết làm gì. Chị Nghĩa cho mượn xem sổ sách đủ các loại. Việc hạch toán nghiệp vụ thì chi tiết thì khi đó có các anh chị KT19 đang làm cùng chị Nghĩa. Nói chung, chúng tôi không học được mấy từ thực tập môn học Kế toán nông nghiệp.

Môn Kinh tế nông nghiệp thầy Đình giao cũng chỉ là một bảng thống kê đất đai. Như trên tôi đã nói, sau khi đi thực tập về chúng tôi cũng có viết báo cáo thu thập số liệu, nhưng không thấy ai thu. Khi ấy môn Kinh tế nông nghiệp cũng đã thi từ kì trước nên coi như không có kết quả gì.

Trước khi về, chúng tôi cũng tổ chức báo cáo kết quả với BCN HTX. Nhưng nhóm KT19 đang còn thực tập nên cũng chia tay hình thức, không có liên hoan với BCN. Nhìn chung, cuộc đi này vui, có nhiều trải nghiệm công việc và cũng học hỏi được vài điều trong tổ chức quản trị HTX nông nghiệp.

Tập hợp kết quả gặt điểm thống kê

Chúng tôi hoàn thành việc thực tập bằng các báo cáo kết quả, quan trọng nhất là báo cáo kết quả gặt điểm thống kê năng suất lúa. Về cơ bản chúng tôi biết một cuộc thống kê có những công việc cụ thể ra sao, nhưng chỉ là ở khâu điều tra thống kê. Các nội dung trong tổng hợp và phân tích thống kê thì coi như không thuộc phạm vi thực tập.

Tuy nhiên, khi đi thực tập về, chúng tôi làm báo cáo theo các bảng biểu đã cho thì môn học thống kê nông nghiệp còn phải tổng hợp, phân tích kết quả trên toàn huyện Gia Lâm. Anh Nguyễn Đình Chình, người giỏi toán nhất lớp lại là lớp trưởng, được cô Thanh tin cậy phân công làm báo cáo tổng hợp và phân tích kết quả thống kê. Anh phải tính công thức phương sai và độ lệch chuẩn của năng suất lúa gặt điểm thống kê 28 HTX trong huyện. Anh tập hợp con số vào một bảng gồm mấy tờ giấy A0 trải ra giữa nhà. Trên đó ghi chi chít trên đó các con số: năng suất trung bình 1 HTX, chênh lệch năng suất trung bình từng HTX với năng suất trung bình chung 28 HTX, bình phương độ lệch năng suất… để từ đó cộng lại thành tổng bình phương độ lệch (hay phương sai σ2) và phép tính cuối cùng là khai căn số bình phương đó để tìm ra độ lệch chuẩn (σ) năng suất thống kê toàn huyện. Anh Chình phải mất mấy tuần làm việc, các cột con số có quy ước làm tròn tới 2 số lẻ. Bọn trẻ chúng tôi rất ngưỡng mộ công việc của anh Chình, nhất là mỗi khi anh tính toán thì cố gắng không làm mất trật tự, không rối trí việc tính toán của anh. Cũng có khi anh được mượn về cái máy tính Nisha quay tay để kiểm tra, một tay dò bảng, một tay bấm máy và quay. Đôi khi thấy anh kêu lại nhầm đâu đấy và phải làm lại. Mùa hè nóng mà thấy anh cứ lầm lì mấy tuần với những con số này thì khiếp thật[5]! Và cũng chỉ có tổ 1 chúng tôi là biết công việc của anh Chình sau khi kết thúc thực tập môn học.

Những “thu hoạch” khác ngoài chuyên môn thực tập

Tôi gọi là những “thu hoạch” vì có thể nói chuyến đi này rất vui, được HTX giúp đỡ ăn uống, được dự cả liên hoan thăm đồng, được đi thăm các di tích trong địa phương, được giao lưu với BCN HTX, giao lưu với KT19 (những người học trước) và nhiều công việc thú vị khác mà tôi có thể kể dưới đây.

Giao lưu với các anh chị KT19

Tuy 2 nhóm có công việc khác nhau nhưng học cùng ngành, cùng ăn, cùng ngủ nên có dịp nói nhiều chuyện, từ trao đổi chuyên môn đến kho tàng chuyện tiếu lâm…

Chị Đằm và chị Huệ là 2 nữ được phân công phòng ngủ riêng. Anh Chung, anh Tuyên chăm lo rất chu đáo, thậm chí hàng ngày còn kéo nước giếng để các chị tắm. Tôi thấy bạn bè sống rất tình cảm. Nhóm này khi ra trường sau này tôi còn gặp được chị Huệ nhiều lần khi chị công tác Trung tâm đào tạo tại Phúc Thọ (quê anh Đỗ Văn Đức). Anh Tuyên thì công tác ở Viện Kinh tế nông nghiệp nên cũng nhiều lần gặp, còn anh Chung và tôi thì cùng là giáo viên Khoa Kinh tế nông nghiệp. Chỉ có chị Đằm (quê Thái Bình) và anh Chữ (quê Hà Nội) là tôi chưa có dịp gặp lại. Tôi nhớ anh Tuyên như nhiều học lớp trên nhắc chúng tôi rằng mình là cán bộ kinh tế “đầu đội chính sách, vai mang chứng từ” nên phải rất cẩn thận trong chuyên môn.

Cả 2 nhóm có tới 5 anh là thương binh: anh Khang, anh Minh, anh Tuyên, anh Chữ, anh Kình. Đây cũng là mấy cây tiếu lâm nổi tiếng với cả kho chuyện cuối buổi chiều hè ngồi chè nước hóng gió tào lao. Nhiều chuyện chỉ kể riêng cho nhóm nam nghe với nhau, 2 chị nữ không biết nên khi nghe các anh “nói lóng” thì cứ dò hỏi, càng tỏ ra bí hiểm càng buồn cười. Mỗi buổi chiều khi khiêng mấy cái bàn ra sân để làm bàn ăn (ăn đứng, không ghế) thì anh Chữ bảo: “mười tám, mười tám” thì người khiêng xoay cái bàn ngang ra. Mấy chị không hiểu sao xoay ngang lại gọi là “mười tám”. Các chị cũng gọi xoay ngang là “mười tám” mà không hiểu vì sao lại gọi thế. Chẳng hạn khi chúng tôi bắt cua về, chị Đằm bảo bọn cua đồng cứ bò “mười tám”. Trong một chuyện cười của anh Chữ, “mười tám” là “mật mã” cười, mà chuyện này không thể nói với đám nữ được. Chính tôi đến nay cũng không dám kể với ai, nay nghĩ vẫn thấy buồn cười.

Chuyện đi bắt cua và bắt bọ vừng

Vì chúng tôi ở sát cánh đồng nên mấy anh bàn chuyện đi bắt cua đồng cải thiện bữa ăn. Cuối buổi sáng, chúng tôi đi ra mấy con đường ngoài đồng móc cua. Trời nắng nóng có khi cua bò cả ra ngoài, chỉ một loáng đủ bữa cho bữa canh chiều. Bác giúp việc nấu giỏi nên có nồi canh cua ngon ngọt với những thứ là rau quanh trại hái lúc nào, mùa nào cũng có (rau tập tàng).

Bác bảo vệ còn kể chuyện mùa này thanh niên trong xóm đi bắt con bọ xít vừng để làm món ăn. Tôi chưa từng nghe nói có món này nên bác bảo chúng tôi đi theo mấy thanh niên trong xóm xem bắt bọ xít vừng. Con bọ xít vừng ban đêm ra phá cây vừng, đám thanh niên cầm đuốc đi soi bắt chúng rất dễ vì đuốc sáng rất dễ nhận thấy lũ bọ xít vừng màu đen. Khi được một mẻ, mấy anh trai làng cho bọ xít vào chảo rang cháy cạnh. Khi có mùi thơm thì rút cái đầu ra cho khỏi thân bọ xít cho hết mùi hôi và có thể ăn được (như ăn châu chấu rang). Ăn thấy cũng khá bùi và ngậy, nhưng cảm giác ăn bọ xít cứ thấy ghê ghê nên chúng tôi cũng gọi là nếm cho biết mùi đời, không thấy khoái lắm[6].

Được đi lợp nhà lá cọ

Hồi ấy, anh Khang thường đến thăm nhà chị Nghĩa. Một hôm anh bảo nhà chị Nghĩa sắp lợp nhà, chúng tôi nên đến giúp gia đình chị. Một buổi thứ 7, anh Khang rủ tôi, anh Minh và anh Chữ đến giúp. Nhà chị Nghĩa khi ấy lợp lá cọ đã nát nên bị dột và cần lợp lại. Anh Khang chỉ huy chúng tôi leo lên tháo hết lá cọ cũ, buộc lại các cây luồng, cây nứa ngang dọc để chuẩn bị lợp lá cọ mới. Đến trưa thì xong món tháo dỡ, gia cố mái nhà và buổi chiều thì lợp lại. Tôi chưa từng được lợp lá cọ vì hồi ở quê chỉ mới biết lợp tranh rạ, nhưng anh Khang thạo hết các công việc cứ làm phăm phăm và tôi cũng học và làm theo. Đến cuối buổi chiều, mấy anh em chúng tôi cùng vài người trong gia đình chị Nghĩa đã lợp xong mái lá cọ mới. Bà mẹ chị Nghĩa thích quá cứ tấm tắc khen mấy thằng sinh viên bộ đội này giỏi đủ thứ. Nhà bà có con trai tên Đức cũng bộ đội, lại thương binh cụt chân chống nạng ngắm mấy anh em làm, cũng khoái chí khen. Tối đó bà cụ đãi chúng tôi đủ món, lại có cả xôi chè, khoai sọ… Anh Đức (con trai bà) mời rượu nếp ngon nên mọi người rất vui vẻ. Từ đó, anh Khang đến với gia đình chị Nghĩa như đứa “con nuôi” trong nhà. Anh không nề hà gì công việc gì, từ dọn dẹp nhà cửa, làm vườn… anh đều sẵn sàng giúp đỡ. Tôi cũng đôi khi được “huy động”, nhưng chủ yếu là được dự những bữa đãi vào dịp Tết Hàn thực (3-3), Tết Đoan Ngọ (5-5). Vào hè năm đó (1978), chúng tôi còn thường xuyên đến tắm giặt cuối tuần vì trường mất điện, mất nước triền miên. Nhà chị Nghĩa còn có mấy em gái rất xinh đẹp, nhất là cô út tên Tuyết mới chừng 17 tuổi, xinh nhất nhà. Bà cụ trêu tôi: “Mày muốn lấy con út tao thì phải mạnh dạn lên, bọn con trai thôn này đang vây con bé, mày nhát thế thì địch sao được bọn ấy!” Sau này, tôi và anh Khang vẫn có quan hệ tốt đẹp với gia đình chị Nghĩa cho đến khi ra trường.

Một vài thay đổi trong lớp từ sau chuyến thực tập giáo trình lần thứ nhất

Hồi đó các nhóm thực tập trong các HTX khác bên cạnh Cổ Bi nhưng chúng tôi không có dịp đến thăm nhóm nào. Một hôm tôi thấy anh Trần Duy Học đến chơi với nhóm chúng tôi có đèo theo bé Kiều con chị Lục. Bé Kiều bé tẹo ra Trại chăn nuôi chơi cùng chú Học còn được tôi dẫn ra vệ đường tìm cỏ chơi chọi cỏ gà. Có lẽ anh Học cùng chị Lục thực tập tại HTX Trâu Quỳ, các chị có con nhỏ được bố trí gần trường đi lại đỡ vất vả.

Sau chuyến thực tập về, một số nhóm trong lớp có vẻ thân thiết nhau hơn. Các bạn Cao Ngọc Đức, Nguyễn Các Mác, Đào Thị Hiền… như đã thành một nhóm bạn thân do đã được cùng đi thực tập với nhau? Có thể nói sau chuyến đi thực tập này, các mối liên hệ trong lớp đã thêm một bước gần gũi hiểu nhau hơn.

Ngoài anh Khang có quan hệ xã giao giỏi thì tôi thấy anh Nguyễn Đăng Hợp cũng là người có nhiều kinh nghiệm. Hồi đó anh Hợp thực tập tại xã Thượng Thanh (cho gần nơi ở khu tập thể cơ quan chị Thu, xã Đức Giang). Anh Hợp cũng được các vị trong BQT HTX Thượng Thanh quý mến và về sau tôi vẫn biết anh giữ được tình cảm thân thiết với nhiều cán bộ địa phương. 

Vài lời kết

Dù đã dài, nhưng tôi nghĩ cũng nên có vài lời kết cho ghi chép này.

Đầu tiên là các kí ức tự nhiên như cứ được “lôi ra” từ những tầng sâu thẳm trong não bộ. Nếu không ghi chép lại thì chắc chắn chúng cứ nằm im ở đấy rồi đến ngày “nghỉm hẳn”. Bình thường nếu không nhắc đến hoặc chỉ nhắc một cách qua loa thì cũng không sao “lôi ra” được cả mớ. Nhưng lạ quá, khi nghĩ đến cái cười của thầy Thoại thì lại bỗng nhớ số hiệu tài khoản từ 01, 02, … 99 ở cái hồi đi học. Nghĩ đến cái đuôi sam to và dài của cô Thanh khi cô viết bảng lại nhớ ra công thức bình quân gia quyền, bình quân kì hòa… Nghĩ đến buổi thăm đồng hôm ở Cổ Bi chợt thấy còn nguyên hương vị bữa cơm thăm đồng, như còn cả mùi lá húng trong đĩa dồi lợn hôm đó. Thì ra chúng ta sống và thấy vô số thứ, rồi qua đi, quên đi mọi thứ, nhưng khi một kí ức tìm về thì vẫn còn rất nhiều thứ khác tưởng đã quên đi mãi mãi lại thấy lấp ló hiện ra… Những gì tôi ghi chép ở đây chính là từ hiện tượng kì lạ này. Giá bất chợt bảo tôi nhớ thì không thể, nhưng cứ chầm chậm nhớ lại ý này thì lại nảy ra ý khác, cứ như khi ta bóc ra tờ giấy này thì lại hiện ra một tờ giấy khác bên dưới đó.

Việc học chuyên môn từ năm thứ 3 mới coi như bắt đầu, còn một số môn nữa ở năm thứ 4 là xong kiến thức kĩ sư kinh tế nông nghiệp. Thực ra có gì nhiều đâu, nhưng chúng là những việc đầu tiên để chúng tôi có được những thu hoạch cho công việc trong cuộc đời công tác dài lâu của mỗi người. Cái học và hiểu được khi học chỉ là cơ sở ban đầu, có khi chỉ thoảng qua thôi… nhưng khi được giao nhiệm vụ để kiếm cơm, chúng tôi sẽ tìm thấy những hoạt động hợp lý trong đầu óc kĩ sư kinh tế. Đa số mọi người không ai đem được cái học vào cuộc sống một cách máy móc để “kiếm cơm”, nhưng cuộc sống biết dạy ta thích nghi với cách “kiếm cơm” từ những bài học ban đầu này.



[1] Hành cung Cổ Bi nay thuộc thôn Bình Minh, Trâu Quỳ. Xem thêm tại https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3096/3975/di-tich-hanh-cung-co-bi-trau-qui-gia-lam-ha-noi.html

[2] Trong nhiều vùng ở Việt Nam còn địa danh gắn liền dòng họ với nơi cư trú như Đặng Xá, Đỗ Xá, Nguyễn Xá, Dương Xá, Phạm Xá… Ban đầu là nơi cư trú của một dòng họ, sau phát triển thành vùng quê, thành địa danh hành chính…

[3]Khi ấy thôn Đặng Xá thuộc làng Phù Đổng. Xem thêm tại https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%B7ng_Th%E1%BB%8B_Hu%E1%BB%87

[4] Liên quan nhân vật Ỷ Lan Vương Phi. Xem thêm thông tin tại

https://cand.com.vn/Kinh-te-Van-hoa-The-Thao/Nam-Suu-noi-ve-cac-dia-danh-mang-ten-con-Trau-i294587/ 

[5] Ngày nay khi nhập được số liệu vào Excel thì chỉ cần đánh 1 lệnh, máy tính ra kết quả ngay lập tức. Dùng hàm VAR.S (phương sai mẫu), VAR.P (phương sai tổng thể), STDEV.S (độ lệch chuẩn mẫu), và STDEV.P (độ lệch chuẩn tổng thể). 

[6] Sau này đi Campuchia mới thấy người ta bán đủ loại côn trùng đã chế biến chất đầy trên các sạp, khách ăn ngay bên đường: bọ xít, bọ cạp, nhện, ve, cà cuống…