Thứ Bảy, tháng 8 22, 2026

Vài nét chấm phá về anh Khuất Cao Nội


Chúng tôi có nhiều kỉ niệm khó quên với anh Khuất Cao Nội ở Tổ 1 lớp KT20A ĐHNN I. Anh học khóa 14 thì phải (tôi chưa có điều kiện kiểm tra lại) rồi xung phong đi bộ đội từ trường ĐHNN I. Thời gian thì khóa 14 vào trường là năm 1969, tức là anh hơn chúng tôi khoảng 6-7 tuổi. Hồi vào trường anh học ngành kĩ thuật, không phải ngành kinh tế nông nghiệp. Một lần tôi nghe anh nói khi trở lại trường thì người ta khuyên các anh đi bộ đội về nên chuyển sang học ngành kinh tế nông nghiệp vì tuổi cao hơn sẽ có kinh nghiệm chỉ đạo, quản lý kinh tế. Anh Nội cũng như đa số anh em bộ đội trở lại học đều chuyển sang ngành kinh tế nông nghiệp[1].

Sau này một lần tôi có dịp vào thăm nhà truyền thống của trường, tình cờ tôi nhìn thấy một kỉ vật rất quý giá: đó là lá quốc kì lưu chữ kí của sinh viên nhà trường đi bộ đội. Trên lá cờ đó tôi bỗng nhận ra một chữ kí kiểu phiên tên tiếng Nga: Хуаmжяhой (tức Khuất Gia Nội). Hồi mới học tiếng Nga, nhiều người thích chuyển tự sang tiếng Nga theo cách đọc gần đúng nhất trong bảng chữ cái Cyrillic. Trong chữ ký của anh, chữ X kéo rất dài nét thứ nhất, đúng ra thì жя nên phiên thành Зя, nhưng cũng có thể phiên жя cho nặng âm lên. Anh nói tên anh cũng có khi dùng Cao Nội, cũng có khi dùng Gia Nội. Thật vinh dự cho anh và đồng đội anh năm xưa còn lưu được chữ kí trên lá cờ Tổ quốc ở ĐHNN I trước khi lên đường đi chiến đấu.

Mấy năm ở cùng với anh mà chúng tôi không thấy anh kể về các trận đánh hay các kỉ niệm chiến tranh những năm gian khổ ấy. Có lẽ chiến trường từ 1969 đến 1975 có vô số chuyện gian khổ hi sinh mà các anh quen chấp nhận chứ không lấy đó làm thứ “khoe mẽ” với đời. Đúng là kiểu chàng giải phóng quân được Tố Hữu ca ngợi: “Kính chào anh con người đẹp nhất! Lịch sử hôn anh, chàng trai chân đất, Sống hiên ngang bất khuất trên đời, Như Thạch Sanh của Thế kỉ 20…”[2]

Anh giữ được nguyên bộ tư trang binh sĩ giải phóng quân nghiêm chỉnh nhất trong số anh em đi bộ đội về: mũ cối mới tinh, bộ quân phục binh sĩ vải Tô Châu mới tinh, đôi dép cao su (dép râu) mới tinh, đôi giày vải, đôi tất chống vắt[3], cái thắt lưng lính mới tinh. Tôi chỉ thấy anh không có cái bi đông và cái mũ tai bèo. Anh còn cái áo may ô có tay vải màu bộ đội, vài cái quần đùi rộng thùng thình nữa. Nghĩa là gần “nguyên cây” trang phục người lính chiến trường, thuộc loại “xịn” nhất từ viện trợ Trung Quốc.

Còn chuyện này thì chúng tôi chỉ nghe chứ không được trông thấy. Anh kể: trong số chiến lợi phẩm chiến trường anh còn giữ được một cái đồng hồ Omega rất quý và một cái mật gấu khô. Cái đồng hồ Omega là một gia tài khi ấy, anh bảo giữ làm kỉ niệm, còn cái mật gấu thì để phòng thân không ốm đau (!) Mỗi khi anh Nội kể chuyện, anh có kiểu khịt khịt mũi rất lạ, như đang thử khứu giác trong chiến trường xem hướng nào có mùi thuốc ruby của bọn lính. Anh còn kể rằng hết chiến tranh có nhiều người lính của ta kiếm được khá nhiều vàng chiến lợi phẩm, nhưng quân cảnh kiểm tra rất nghiêm ngặt nên chỉ những anh nào biết quan hệ với dân và gửi lại trong dân, sau này ra quân quay lại may ra mới lấy được. Đơn vị sau giải phóng thường xuyên kiểm soát tư trang và báo động thay đổi nơi đóng quân nên nhiều anh bị phát hiện của cải chiến lợi phầm và bị thu lại hết.

Cũng từ chuyện tư trang “đồ xịn” của anh mà anh có lần đã rất khổ vì nó. Một hôm chúng tôi thấy anh ở quê lên, mặt buồn xịu, không nói chuyện với ai. Mấy ngày sau anh mới kể: hôm đó mình đội cái mũ cối mới, đi xe đạp từ quê lên. Đến Cầu Chui Gia Lâm lúc gần tối thì gặp một bọn xông ra cướp mũ. Chúng cầm được mũ của anh còn quát lớn gọi anh là thằng này ăn cắp mũ cối, hô đánh cho một trận. Thế rồi anh bị đấm mấy cái rồi bị cướp mũ cối đang đội. Bọn cướp chuồn thẳng trước cái nhìn ngơ ngác của anh và mọi người đi đường. Hồi đó cái mũ cối mới tinh đáng giá lắm, chỉ bọn anh chị ở Hà Nội mới có và mới dám đội chúng. Nhìn bọn đội mũ cối mới chắc chắn là dân “chợ giời” không ai dám bén mảng, tránh xa như tránh cứt thối. Sau lần ấy, chúng tôi cũng không thấy anh mang đôi dép râu nữa, ngay cả bộ Tô Châu cũng ít khi thấy anh mặc.

Anh Nội quê ở xã Tích Giang, huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây. Anh có cái xe đạp Phượng Hoàng nên thường xuyên về quê ngày nghỉ cuối tuần. Khi đó trong phòng có vài người có xe đạp nhưng xe của anh Nội là tốt nhất. Nhưng dù có xe tốt mà hàng tuần anh đạp xe về quê từ ĐHNN I cũng cỡ 60km, mỗi lần về anh cũng phải đạp cả buổi, 4-5 tiếng ấy chứ.

Có một lần tôi được vinh dự anh rủ về quê anh chơi. Ấy là khoảng năm thứ 3 đại học. Anh bảo về thăm quê cho biết, nhưng về đến quê mới biết anh có ý mời tôi về dự một lễ cưới người bà con trong thôn. Hai anh em thay nhau đạp xe đằng đẵng qua các địa danh tôi chưa từng biết, đến tận chiều tối thì về đến thôn anh ở. Vào đầu thôn đã thấy anh chào một số người quen trên đường. Giọng quê anh nghe khá vui tai, kiểu giọng Ba Vì bay “chất liệu dấu” làm câu nói như thoải ra, giãn rộng. Về nhà anh tôi biết anh còn bà mẹ già nhưng khá khỏe mạnh, một em trai tên Thìn đã có gia đình, có nhà riêng trong thôn. Lại còn cô em gái nhỏ xinh xắn khi đó mới vào Trung cấp Thương nghiệp ở Chợ Mía Sơn Tây, tên Khuất Thị Thêm. Bố anh đã mất và em Thêm chắc kém tuổi tôi vài tuổi nên cái tên Thêm có lẽ là sự may mắn của ông bà sinh được con gái út nhỏ nhắn xinh xinh. Tôi nhớ anh Thìn đến chào tôi sau bữa ăn tối trong ánh đèn dầu, nói chuyện một lúc rồi về. Còn em Thêm thì cùng ngồi ăn nhưng tôi không thấy em nói gì. Chỉ lơ mơ một khuôn mặt người sông Tích lặng lẽ, âm thầm, nhưng khuôn mặt nhỏ thanh tú và mái tóc rất mượt ở tuổi mới lớn thì đến nay tôi vẫn còn hình dung được.

Sáng hôm sau anh đưa tôi đi thăm quanh làng một lúc rồi về nhà. Bà mẹ dặn anh về bữa cỗ cưới trưa. Anh bảo tôi đi ăn cỗ cưới cùng anh. Tôi e ngại vì không quen biết gì nhưng anh bảo cứ đến cho biết phong tục cưới quê. Tôi và anh đi bộ trong xóm, đến sớm xem trang trí lễ cưới.

Từ xa nhìn vào thấy rất đông người ra vào, một cái rạp trên che bằng những lá cót, các cột là những thân tre chôn xuống đất. Rạp che kín một cái sân không rộng, bày được khoảng mươi mâm cỗ. Mọi người đang tấp nập ra vào đón khách và dọn mâm bàn.

Mấy người ra chào hỏi anh Nội và tôi. Nói chuyện một lúc thì xếp chúng tôi vào một mâm có nhiều người còn trẻ. Món ăn quê được dọn lên và chuyện uống rượu được triển khai sớm nên rất rôm rả. Anh Nội uống rượu rất nhiệt tình với mọi người, còn tôi thì dè dặt và uống ít hơn anh. Men rượu quê hâm nóng bầu không khí lễ cưới ồn ào vui vẻ. Chúng tôi ra về khi tiệc tàn. Tôi thấy anh Nội liêu xiêu đi, mặt đỏ bừng. Về đến bờ tre gần nhà, tôi thấy anh khó chịu dừng lại và ngồi xuống ôm bụng. Một lát sau anh chới với đứng dậy, tôi đỡ anh về nhà. Chắc tại anh đã uống khá nhiều rượu, lại đi bộ đường quê nhiều gió.

Thấy chúng tôi về trong tình trạng anh say rượu, mẹ anh lo lắng cuống lên đặt anh nằm, xoa dầu gió cho anh và luôn mồm nói: có sao không con, sao lại uống nhiều thế, không bị say tại bàn chứ, mọi người mà biết chuyện này thì khổ con ạ… Đại loại là những chuyện người mẹ lo cho sức khỏe của con, lo con bị ảnh hưởng tai tiếng. Tôi như người có tội ngồi im lặng không nói gì.

Thế là cả chiều hôm đó anh Nội nằm mê mệt. Tối chúng tôi ăn cháo lại sức và sáng hôm sau về trường rất sớm vì đáng ra theo kế hoạch thì chiều hôm đó chúng tôi đã trở về trường. Chuyện này chỉ có tôi với anh biết, cho đến nay tôi mới có dịp nhớ lại.

Một lần vào năm cuối đại học, anh Thìn - em trai anh Nội - đến chơi. Anh Thìn ngủ lại một đêm ở phòng chúng tôi. Nghe chuyện anh Thìn tôi thấy anh cũng bôn ba vất vả gia đình làm nông như bao người. Anh Thìn luôn nói anh Nội nhát lắm, về quê không chịu đi tán gái, không dám lấy vợ. Có mấy người ở quê định dạm cho anh mà không thấy anh có ý kiến gì. Chuyện của anh Thìn kể về quê hương rất dân dã, hơi tếu chút. Giang và Bính rất thích nghe những chuyện của anh Thìn.

Hồi đi bộ đội, chúng tôi đóng quân ở chợ Mía và biết có trường Trung cấp Thương nghiệp ở gần đấy. Tôi lại nhớ em Thêm nhà anh Nội từng học ở đây, có lẽ lúc đó đã ra trường. Có một lần anh Nội bảo tôi: “Ảnh có thích lấy em Thêm thì anh giới thiệu.” Chuyện ấy đúng là chưa đến duyên với tôi.

Như đã nêu ở một vài ghi chép trước về tổ 1, anh Nội hiền lành, hay bị anh Trần Duy Học bắt nạt[4]. Chuyện anh Học trêu anh Nội giống y thằng “bị bệnh nhiệt thán”[5] thì anh Nội vẫn cười khặc khặc. Cái cười của anh rất đặc biệt: miệng mở rất to, mắt nhắm tít, tiếng khặc khặc phát ra từ sâu trong cổ họng. Khi ngủ, anh cũng thường mở miệng và ngáy khá to. Anh Học trêu anh Nội: “Khi ngủ thì mở miệng ra, đến khi khép lại chết 3 nghìn ruồi.” Chẳng bao giờ anh Nội nói xấu hay trêu chọc ai cả. Kể cả khi bị anh Học trêu, anh cũng không hề tỏ ra giận dỗi, như kiểu mọi người đang nói đến ai đó chứ không phải mình… Trong một số chuyện anh Nội kể, anh rất hay dùng từ “dớ được” để nói về ai đó gặp may mắn hoặc kiếm được món hời. Anh Học có hôm bảo: “Lâu nay Nội không có chuyện ‘dớ được’ nào mới à? Thế là anh Nội lại khịt khịt nghĩ ra một chuyện để mọi người cùng cười. Khi tếu anh cũng vui phết, chuyện năm thứ nhất anh kể và hát cho chúng tôi nghe bài Cô y tá[6] và bài này được chúng tôi đồng ca hôm ra trường cùng với anh cũng là một kỉ niệm rất vui.

Về học hành, anh Nội ở cái thế biết bọn trẻ học giỏi hơn anh. Lại nghe nói hồi đi bộ đội bị thương vào đầu nên nay trí nhớ giảm, học không vào. Mà đúng là anh có cái sẹo trên thái dương thật, sẹo nhỏ hơn sẹo của anh Học. Anh không đủ tiêu chuẩn là thương binh có lẽ vì vết thương nhẹ chăng? Nếu anh có sổ thương binh thì chúng tôi đều biết vì hồi đó ai có sổ thương binh đều được cấp bìa mua thuốc lá căng-tin.

Lần lớp KT20A kỉ niệm 20 năm ngày ra trường (năm 2000), anh Nội có về dự cùng mọi người. Khoảng những năm 2001-2002, tôi có dịp đi dạy lớp Tại chức ở huyện Phúc Thọ. Tại đây tôi được đến thăm gia đình anh Đỗ Văn Đức và được anh Đức cho biết anh Nội đang sống ở Phố Gạch. Thế là một buổi chiều tối, sau khi dạy xong tôi lên chơi với anh. Hỏi thăm biết chắc nhà anh, tôi đi xe máy ghé vào thấy anh đang sửa xe cho khách. Tôi chào, anh ngơ ngác nhìn tôi hỏi: “Bác muốn sửa gì à?” Tôi gọi tên anh, anh vẫn ngồi mà chưa nhận ra tôi. Có thể tại lúc đó gần tối, lại quá đột ngột nên anh ngồi nhìn lên không nhận ra tôi. Phải nói khi đó tôi đã khá to béo nên có thể anh cũng thấy lạ. Khi nói tên anh cười bảo: “Tớ thực sự không nhận ra cậu.”

Anh Nội và tôi năm kỉ niệm 20 năm ngày ra trường


Anh Nội, Chiến cùng vợ chồng Quế ngày gặp năm 2000

Một số anh Tổ 1 (trừ anh Việt ghé vào) - người chụp hình này là tôi

Anh lấy vợ khá muộn, vợ anh khá xinh xắn, nghe đâu quê ở chợ Mía, Đường Lâm. Lâu nay chúng tôi không có dịp gặp anh. Mỗi lần họp gặp lớp, chúng tôi đều nhờ anh Đỗ Văn Đức báo tin. Anh Đức mấy lần gần đây bảo anh Nội cũng không được khỏe, người cứ ngất ngất nhớ nhớ quên quên. Ồ, bây giờ thì ai cũng già rồi.

Chúng tôi rất quý anh Nội, một người anh từng là chiến binh, từng mất sức tại chiến trường, từng là sinh viên theo tiếng gọi của Tổ quốc lên đường đi chiến đấu. Ra trường công tác, anh Nội là viên chức bình thường giản dị, sống vui với gia đình và về hưu hoàn thành mọi nghĩa vụ với đời. Những người như anh Nội là những người thực sự chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, thực sự lao động bằng sức lực của mình. Chỉ thế thôi, giản dị như một con người!

Chúng tôi mong anh và gia đình anh mạnh khỏe, bình an.

 



[1] Các ngành học khác hồi khóa 20, 21 cũng có bộ đội về học, nhưng không nhiều như ngành Kinh tế nông nghiệp.

[2] Các câu thơ trên trong Bài ca xuân 68 của nhà thơ Tố Hữu. Xem bài thơ tại https://www.thivien.net/T%E1%BB%91-H%E1%BB%AFu/B%C3%A0i-ca-xu%C3%A2n-68/poem-s69G8NUeutMQyNufuKHP3g

[3] Bộ đội Trường Sơn được cấp đôi tất (vớ) đi rừng chống vắt của Trung Quốc trang bị rất tốt: phần đế chân có lớp nilon dày (khi cần có thể đi mà không cần giày). Tất dài và rất chắc để khi đi rừng vắt có bám vào cũng không thể hút máu được.


Thứ Ba, tháng 8 11, 2026

Phác thảo về chân dung anh Nguyễn Đăng Hợp (kì 2)

 

2/ Anh Hợp và các hoạt động của lớp

Anh Hợp là người chịu khó tìm gặp được nhiều anh chị em trong lớp KT20A mỗi khi anh có điều kiện công tác. Đây là điều rất đáng quý bởi anh như người lớp trưởng năm xưa luôn quan tâm đến sự trưởng thành của mỗi người trong lớp và tạo ra sự liên lạc của mọi người với nhau. Anh kể với tôi anh đã đến thăm anh Mai Quỳnh Quốc ở Lạng Sơn, chị Hoàng Thị Khánh ở Ninh Bình và rất nhiều người khác trong lớp.

Có lẽ tôi không thể nói hết được những quan tâm của anh đối với lớp. Tập thể lớp KT20A - một tập thể giàu tình nghĩa là ấn tượng của anh với mọi người và mọi người với anh. Mọi thành viên KT20A hãy liên tưởng đến quan hệ với anh để có dịp nói thêm các kỉ niệm về anh.

Các lần tổ chức gặp mặt khóa 20 ngành kinh tế nông nghiệp, anh đều chủ trì với ý thức chuẩn bị rất kĩ. Anh cũng thường trao đổi với tôi và các anh em đang công tác ở trường về tổ chức gặp gỡ. Anh muốn tổ chức cuộc gặp gỡ có cả KT20A và KT20B tham gia nhưng mấy lần không thành vì anh em lớp KT20B về không đông đủ như KT20A. Vả lại, hình như anh Khương, anh Hồng, anh Long… cho rằng tổ chức theo lớp thuận lợi hơn.

Anh lo nghi lễ tổ chức, lo nơi ăn ở, lo mời các thầy, cô… Anh rất muốn mọi người nhớ về những kỉ niệm năm xưa nên khi gặp mặt anh muốn mọi người có dịp thăm hoặc ngủ lại KTX B3 để hồi tưởng cuộc sống sinh viên.

Năm 2000, lớp KT20A tổ chức kỉ niệm 20 năm ra trường rất trang trọng (nay còn nhiều hình ảnh đẹp). Trong tất cả các lần gặp gỡ, tôi thấy chuẩn bị phát biểu của anh rất chi tiết và cảm động. Đặc biệt anh luôn nhấn mạnh những tấm gương phát triển tốt trong thực tiễn cuộc sống nhưng không quên nhắc đến các đức tính và sự phát triển của từng người. Có thể nói ai cũng hài lòng khi được nghe vị lớp trưởng năm xưa điểm thông tin đến từng cá nhân, nêu được những đức tính và các ảnh hưởng của từng cá nhân đến với mọi người. Các anh Hoàng Việt Cường, Nguyễn Đức Trí, Ngô Văn Ly, Đỗ Văn Đức, Vũ Đình Hòe, Nguyễn Văn Ngọc, Lê Cao Bính… luôn được nêu gương như những tấm gương phát triển tốt trong lớp.

Có lần giáo viên dạy Nga văn cho lớp KT20A là cô Nguyễn Thị Hòa từ miền Nam ra thăm trường, anh Hợp đã tổ chức nhóm đón tiếp rất thân tình. Có một buổi còn mời cô Hòa đến thăm nhà chị Trịnh Thị Lục cùng mấy anh em chúng tôi. Cô Hòa rất vui khi mọi người nhớ về kỉ niệm học tiếng Nga những năm 1975-1976 gian khổ.

Nhiều cuộc đi thăm viếng anh em gần Hà Nội được anh tổ chức rất chu đáo. Tôi cũng thường xuyên được anh mời tham gia đi cùng nhóm đại diện KT20A. Còn nhớ lần đến dự cưới con anh Ngô Văn Ly, con anh Nguyễn Đức Trí, con anh Hoàng Việt Cường. Với danh nghĩa lớp, anh cũng tổ chức đến thăm cụ bà thân sinh anh Nguyễn Đức Trí khi cụ ốm đau và viếng khi cụ mất. Hồi anh Hoàng Việt Cường mất vào dịp covid-19 bị cấm cản đi lại nên lớp KT20A chỉ nhờ gửi lễ viếng mà không đến được. Gần đây anh tổ chức đại diện KT20A đến viếng cụ bà thân sinh Âu Dương Đức…

Việc hình thành quỹ lớp vốn không được đặt ra nhưng sau mỗi lần gặp gỡ, các kinh phí còn dôi dư được anh nhờ Kiều Tuyết Nga ghi chép rất chi tiết. Phần quỹ dôi dư lớp nhờ anh trông giữ và các chi tiêu bao giờ cũng được anh báo cáo hết sức rõ ràng mỗi khi gặp lại.

Mấy năm gần đây, mọi người ít gặp gỡ nhân các dịp này nọ, nhưng anh vẫn rất quan tâm khi các nhóm tổ chức gặp mặt. Dịp một số anh em trong lớp tổ chức đi Hà Tây năm 2023, anh cố gắng đi cùng dù “cà nhắc” cầm batoong đi theo. Lần đi Mộc Châu năm 2024, anh đến gặp và tặng quà cho nhóm đi cùng… Anh ngăm đen có duyên, tuổi càng cao thì nụ cười càng quyến rũ, chứng tỏ xưa đẹp trai, còn nay thì quá đẹp lão!

Anh là “lớp trưởng chung thân”, là chỗ dựa “linh hồn” của lớp KT20A. Anh vui lòng nhận trách nhiệm với niềm vui sướng và tự hào. Mọi thành viên trong lớp “phục tùng” ý kiến và tôn trọng anh như một mặc nhiên tất yếu – bởi anh xứng đáng được tin yêu và kính trọng.

3. Phần phụ: Anh Hợp có năng khiếu bóng chuyền và biệt tài tiếu lâm

Về năng khiếu bóng chuyền

Anh biết chơi bóng chuyền từ trước khi vào đại học. Tôi nhớ đội bóng chuyền của lớp luôn có anh chủ công cùng anh Hòe, anh Điến, anh Việt… Nếu tham gia đội của Khoa, anh Hắc KT19 chủ công, còn anh Hợp phụ công. Từ năm học thứ 3, anh ít có điều kiện tham gia các hoạt động thể thao chung nhưng anh luôn có mặt cổ vũ phong trào.

Về biệt tài tiếu lâm

Cho đến nay tôi khẳng định không có ai có biệt tài tiếu lâm hơn anh trong lớp KT20A. Tiếu lâm là năng khiếu vì có nhiều chuyện tưởng ai cũng đã biết, nhưng người giỏi tiếu lâm kể lại thì vẫn phải cười – cái chất “khiếu” ấy là do trời sinh ra và lộc trời tặng cho những người biết dành tiếng cười cho mọi người. Đối với các câu chuyện của anh Hợp, tiếng cười do anh gieo vào chúng tôi cứ vang mãi mỗi khi nghĩ đến, mỗi khi kể lại và nhất là khi được nghe anh kể thêm. Dưới đây là một số chuyện và một số tình tiết có liên quan đến anh.

-       Hồi mới vào đại học, chuyện “con nai” nổi tiếng của anh kể ở Tổ 1 năm 1975 thực sự là đáng nhớ nhất. Người cười to nhất và nhớ lâu nhất là Lê Cao Bính (có lẽ Âu Dương Đức, Mo Lan và Khuất Cao Nội chưa chắc còn nhớ). Vì sự nổi tiếng của câu chuyện, anh bàn với tôi có nên kể lại chuyện này khi cả lớp đi Ba Vì-Sơn Tây năm 2023 không. Tôi khuyến khích anh nên kể lại nhưng thực tình tôi nghĩ anh không dám kể chuyện đó vì nhóm đi lần này có rất đông nữ, lại có cả một số phu nhân, phu quân tháp tùng. Hôm cả lớp ngủ lại, ngay sau liên hoan ăn tối, anh Hợp có bài phát biểu dài rất tâm đắc về lớp KT20A và tình cảm của mọi người (đánh máy đầy mấy trang giấy A4). Anh vẫn không quên nhắc lại các kỉ niệm, các cá nhân thành đạt như tính cách người lớp trưởng điểm thông tin. Nhưng đặc sắc nhất là anh kể về chuyện “con nai” với một biến tấu hoàn toàn mới rất thông minh. Cả nam lẫn nữ, cả thành viên trong lớp lẫn khách quý tháp tùng nghe xong đều cười sung sướng. Quá tuyệt vời về phiên bản “con nai 2023”[1] của anh. Nay ai muốn nghe phiên bản “con nai 1975” thì xin hỏi lại Lê Cao Bính, Trần Hữu Giang nhé. Lê Cao Bính kể là hay nhất vì vừa kể vừa cười rất vô tư như đúng cái tuổi 20 năm 1975.

-       Anh Ngự (Dâu tằm 20) hồi ở KTX A2 ghé qua kể cho chúng tôi nghe chuyện anh Hợp (vì anh Ngự có 1 năm dự bị đại học cùng anh Hợp). Anh Ngự nói hồi anh Hợp công tác ở Lai Châu - Trại trưởng trại ngựa giống. Anh Hợp rất thích ngựa và giỏi cưỡi ngựa. Các lần thi ngựa kiểu gì anh Hợp cũng có giải: đua ngựa, thi ngựa khỏe, ngựa đẹp… Anh Ngự bảo hồi ấy anh Hợp đoạt giải nhất ở Lai Châu nhưng nay anh Hợp đi thi thì chắc chắn được giải khuyến khích toàn quốc!

-       Chuyện này cũng liên quan đến anh Hợp, chắc chắn Cao Ngọc Đức còn nhớ. Hồi lớp lao động ở vườn quả tháng 3-1976, vì mọi người cũng chưa quen nhau lắm nên có một bạn nữ sinh trong lớp hỏi anh Hợp: “Anh Hợp trước đây công tác ở Nai Châu à?” Vì còn âm hưởng địa phương nên bạn ấy định nói Lai Châu lại chệch sang thành “Nai Châu”. Cao Ngọc Đức bảo: “Nghe hỏi thế anh Hợp đỏ mặt cười to lắm, chắc anh nghĩ bạn nữ ấy đã biết chuyện ‘con nai’ của anh kể ở Tổ 1.” Chắc chắn Cao Ngọc Đức nhớ chi tiết “vụ này”.

-       Chuyện có một cô gái trong lớp thích xưng với anh là “chú – cháu” vì quen không sửa được (trước cũng học dự bị đại học với nhau). Anh Hợp kể cho chúng tôi nghe câu chuyện:. Chuyện này chắc chắn Giang, Ảnh, Bính, Cao Đức còn nhớ. Nội dung sơ bộ như sau: Chuyện hai “chú-cháu” gặp nhau ở nơi đông người. Người được xưng là chú bảo: “Chú-cháu gì, khéo cháu lại ‘hạ bệ’ chú ngay ấy chứ.” Người xưng cháu nghe thế cãi lại: “Làm sao lại ‘hạ bệ’ được chứ? Chú là chú mà cháu là cháu mà.” Bỗng “bụp!” một cái, kẻ nào đó chốn đông người có hành động gì đó với người cháu. Người cháu giật mình quay lại nhìn ông chú có vẻ rất nghi ngờ nghĩ: “Hay là ‘lão ta’ vừa ra tay?” Hô hô…

-       Chuyện này anh Hợp kể với tôi: Hồi Cao Ngọc Đức ra Hà Nội công tác, anh Hợp ghé qua thăm Cao Đức ở 37, Hùng Vương (Nhà khách Chính phủ). Anh kể rằng khi vào cổng, cậu lính gác cổng yêu cầu kiểm tra an ninh. Anh xách cái cặp to có “tỉ thứ” trong đó bị yêu cầu mở kiểm tra. Bỗng cái cặp tuột tay anh rơi xuống đất bung ra “tỉ thứ” trước cửa bốt gác. Không biết có những thành phần gì trong “tỉ thứ” bung ra từ cặp của anh mà cả anh lẫn cậu lính gác đều ngượng đến đỏ mặt. (Chuyện này Cao Đức không biết, mà chi tiết thứ bung ra để 2 người đỏ mặt là cái thứ gì anh Hợp cũng không nói cho tôi biết).

-       Chuyện ở sân bóng rổ: Hồi năm thứ 2, lớp KT20A học môn bóng chuyền. Giáo viên yêu cầu mỗi người phải phát bóng vào đúng ô khi bốc thăm số ô. Bộ môn Thể dục Thể thao mượn mặt sân bóng rổ trước KTX A3 kẻ và ghi rõ số vị trí ô từ 1 đến 6 để mọi người tập phát bóng. Anh Hợp đang đứng cùng mọi người thì bỗng anh cởi cái áo sơ mi đang mặc ra, chỉ mặc mỗi áo may-ô rồi đi ngang qua chỗ tôi đứng. Anh chụp cái áo sơ-mi vào đầu tôi. Tôi vội giơ tay lên đỡ áo thì anh bảo: “À, Ảnh đấy à, Tớ cứ tưởng cái cột cháy nên ra treo cái áo!” Ý anh là hồi đó tôi gầy đen như cái cột cháy, ha ha…

-      


Nay tôi đã vào lớp người cao tuổi, anh Hợp đã ngoài 80, nhưng vẫn khỏe mạnh tinh tường. Chúng tôi vẫn gặp nhau nhân dịp này nọ với một số thành viên trong lớp. Những dòng ghi chép trên đây là tình cảm của riêng tôi với anh và có lẽ cũng là tình cảm của anh với các thành viên trong lớp KT20A. Tôi chắc chắn mọi người đều có kỉ niệm về anh, mong có dịp trao đổi hoặc ghi chép ra để nhớ thêm về nhau.

Chúng ta cùng kính chúc anh Nguyễn Đăng Hợp, người "lớp trưởng suốt đời" của KT20A luôn mạnh khỏe, bình an.

4. Một số hình ảnh và chú giải

Có rất nhiều lần gặp gỡ ở Hà Nội cùng bạn bè trong lớp, nhưng trước năm 2000 chưa có điều kiện ghi hình ảnh. Dưới đây là một số hình ảnh về anh mà một số người trong lớp có được.

Hè năm 2000, nhân vợ chồng Trần Hữu Giang ra Hà Nội chơi, chúng tôi tổ chức gặp mặt tại quán bánh tôm Hồ Tây nổi tiếng thời đó. Anh và mấy anh em trong lớp có mặt gồm Bính (từ Nghệ An ra), vợ chồng Ảnh và Nguyễn Đình Chiến.

Gặp mặt dịp vợ chống Giang ra Hà Nội hè năm 2000 tại quán bánh tôm Hồ Tây.
Anh Hợp và Bính (từ Nghệ An ra), vợ chồng Ảnh và Nguyễn Đình Chiến.

Tháng 12-2000, nhân kỉ niệm 20 năm ra trường, anh đứng vai tổ chức cuộc gặp gỡ đáng nhớ.

Anh chủ lễ gặp mặt


Anh Hợp và các anh em nguyên Ban cán sự lớp (hồi đó vắng anh Nguyễn Đình Chình không tham dự)

Lớp KT20A tôn vinh các anh Ban cán sự và một số anh chị thành đạt trong lớp.


Anh Hợp và anh Ngô Văn Ly tặng hoa
thầy Nguyễn Quang Thoại, thầy Nguyễn Dương Đán, thầy Trần Đình Đằng và thầy Nguyễn Tiến Thêu

Bức ảnh chụp chung 25 thành viên đến dự năm 2000.
Đứng hàng sau có anh Tiến (phu quân Trần Thị Quế), người đứng ngay sau Kiều Tuyết Nga.

Anh Hợp chụp với một số thành viên trong lớp


Cuộc gặp năm 2011 nhân dịp 55 năm thành lập trường – Lớp KT20A cùng GS TS Trần Đình Đằng trước nhà 4 tầng


Cuộc gặp 2016, anh Hợp cùng một số anh em trong lớp

Nhóm thành viên lớp KT20A trong chuyến đi Ba vì - Sơn Tây 2023

Trước nhà 4 tầng và cổng làng Đường Lâm (2023)

 Anh Hợp cùng Lê Cao Bính (2023), người nhớ nhất chuyện “con nai phiên bản 1975”
Anh Hợp chụp kỉ niệm cô gái dân tộc tại Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam (2023)

Anh Hợp cùng Kiều Tuyết Nga (2023), người nay vẫn “chú – cháu” vì quen rồi khó sửa


Anh Hợp gặp nhóm đi Mộc Châu năm 2025

Găp gỡ ở trường cùng nhóm đi Mộc Châu - anh Hợp phát biểu và gửi quà cho đoàn đi

-      

Anh Hợp  cùng nhóm đi Mộc Châu trước
CLB sinh viên - nơi học của KT20A 1975-1980


Các lần gặp gần đây ở Hà Nội 2025-2026

Gặp nhau các năm 2025-2026


[1] Nội dung phiên bản “con nai 2023” còn trong bản lưu của anh Hợp

Phác thảo về chân dung anh Nguyễn Đăng Hợp (kì 1)


Nếu kết thúc các ghi chép về những năm tháng đại học của tôi thì có thể còn vài day dứt. Tôi thấy cần phải ghi chép thêm phác thảo chân dung qua những kỉ niệm với một số người trong lớp. Sau khi ra trường tôi có nhiều dịp gặp lại các anh chị em trong lớp KT20A, lại bổ sung thêm những tình cảm và nhận thức mới về tình bạn bè trong cuộc sống có yếu tố gắn bó từ những ngày ở lớp KT20A đại học.

Anh Nguyễn Đăng Hợp là lớp trưởng đầu tiên của KT20A (sau đó anh Nguyễn Đình Chình thay khi anh bận công việc gia đình nên xin ở ngoại trú KTX). Tôi không dám viết chân dung đầy đủ về anh vì dù rất quen thân với anh nhưng một chân dung đầy đủ phải đi từ gia thế, xuất thân, cuộc sống, sự nghiệp, các giá trị ảnh hưởng của anh với mọi người và xã hội... Tôi chỉ phác thảo vài nét chân thực về anh qua những kỉ niệm của tôi với anh, qua cảm nhận của tôi với những hoạt động của anh với lớp. Một phác họa mộc mạc về người lớp trưởng đại học đầu tiên của chúng tôi.

1/ Kỉ niệm của tôi với anh

a/ Những ngày đại học

Những ngày đầu tiên là sinh viên, anh Hợp thương tôi ốm yếu, bệnh tật. Như người anh có cách nhìn kinh nghiệm nhân gian độ lượng, anh biết tôi vốn ra đi từ cuộc sống gian nan và có ý chí vươn lên tìm cơ hội sống tốt hơn.

Tuần đầu tiên thấy tôi là người tìm được đáp số bài toán giải tích thầy Thanh cho về nhà (dù tôi nhập học sau mọi người 2 tháng), anh bảo tôi một cách chân thành: “Cậu là người đầu tiên trong phòng tìm ra đáp án.” Tôi hiểu đó là lời động viên chân thành không phải vì tôi may mắn tìm ra đáp số mà có ý bước đầu khẳng định tôi có thể cùng mọi người học tập, nếu cố gắng thì dù có nhập học muộn cũng sẽ theo kịp mọi người.

Tháng đầu tiên đi lao động hướng nghiệp năm thứ nhất, một buổi chiều cuối xuân mưa rét, anh là lớp trưởng đã cử tôi một mình ra trại chăn trâu[1]. Việc anh cử tôi ra trại với mấy con trâu to lớn là ý anh muốn giao riêng cho tôi – để khẳng định tôi có thể hoàn thành. Rõ ràng tôi được cử đi là hợp lý nhất, chẳng lẽ cử anh Ngọc, anh Khang, anh Quân hay anh Nội? Tôi giống “kẻ trẻ trâu” nhất và công việc đó không những phù hợp mà rất dễ với tôi mà! Hồi đó, có lúc tôi nghĩ sao anh không cử thêm người cùng đi với tôi. Nghĩ lại thì thấy anh đã cân nhắc kĩ, đâu cần phải thêm ai nữa. Có thể anh biết nếu có cử thêm Bính, Giang hay Cao Đức đi cùng thì sao bằng kẻ chăn trâu chính thống như tôi được.

Tôi nghĩ vì được anh thương quý nhất nên anh đưa tôi về thăm gia đình nhiều nhất trong lớp. Ngồi sau xe đạp anh chở về thăm gia đình ở Đức Giang từ khi mới có cháu Hương, rồi khi có cháu Nhung, tôi tận mắt thấy anh chị có gia đình hạnh phúc và vui vẻ. Nhưng gia đình công nhân viên chăm con nhỏ thật vô cùng vất vả. Dù nằm ngủ cùng anh ở sàn nhà hay ở giường nhỏ để sáng mai anh em lại đạp xe vào học, tôi thấy anh chu đáo chăm lo cho gia đình, cho tôi, nhất là bữa ăn tối và điểm tâm sáng. Anh thường rủ tôi đến khi anh mua được chút thực phẩm hiếm hoi cho gia đình từ tem bìa phiếu hàng tháng.

Mỗi khi về Tết ra trường, anh đều đưa tôi về nhà anh chơi và ngủ lại một đêm. Bao giờ anh cũng để dành đãi tôi món thực phẩm quý giá thời bấy giờ: thịt lợn để dành từ Tết. Anh có cách để bảo quản thực phẩm rất thông minh. Hồi đó làm gì có tủ lạnh, nhưng anh chọn một thanh thịt ngon, luộc chín và vùi sâu vào liễn mỡ của gia đình. Mùa đông lạnh nên mỡ đóng băng bảo đảm giữ thanh thịt vẫn thơm ngon được rất nhiều ngày. Bằng cách đó Tết nào anh cũng có món ngon đãi đứa em. Mà vì nghỉ Tết nhiều ngày nên khi ra đến trường tôi chưa bao giờ có món quà quê gì biếu gia đình anh dịp Tết.

Ở nhà anh khi đó tôi rất ấn tượng với cái bếp anh tạo ra. Có rất nhiều tầng nấc kê bên trên cái kiềng đun nấu bằng củi lá. Cái giá kê bên trên không sập mới là tài. Bếp thấp, anh để trên đó từ củi, gỗ, rồi hàng khô, rồi đồ treo, đồ gác. Thật vô số thứ “bà giằn”. Mà anh nhớ được những món gì để ở đâu cũng thật là biệt tài. Ra nhà anh chơi bao giờ anh cũng dẫn đi thăm chỗ trồng rau, chỗ nuôi gà, nuôi lợn. Chủ yếu là đi theo nhìn anh tưới rau, cho gia súc ăn và không để tôi phải ngồi mà không có ai tiếp chuyện.

Anh chị được phân một gian tập thể của cơ quan chị Thu. Ra thăm anh khi chưa có con, khi một con, 2 con… tôi mới thấy anh đi học khác chúng tôi nhiều lắm. Chúng tôi chỉ vác bát đi ăn tập thể rồi về học, chơi và ngủ. Anh thì giúp vợ, giúp con lại còn tăng gia chăn nuôi, trồng rau. Hồi đó tắm giặt và vệ sinh khu tập thể đều công cộng. Nhà cửa cơm nước, giặt giũ lại tăng gia thì làm sao anh có nhiều thời gian học như chúng tôi trong KTX được. Đó là chưa kể mỗi ngày anh còn đạp xe đi về gần 2 giờ đồng hồ.

Chuyện anh giúp tôi lên gặp thầy Đỗ Mộng Ngọc mới thật khó quên[2]. Hồi đó năm thứ nhất tôi mới nặng khoảng hơn 40kg mà môn thể dục điền kinh chạy cự li ngắn phải đạt tiêu chuẩn điền kinh cấp 3 (15,5giây/100m). Tôi lao đi trên đường chạy với mắt nhắm, môi mím chặt để về đích với 16,5giây và ngay sau qua vạch đích là cú ngã ngất ngay tại chỗ. Lúc tỉnh dậy tôi thấy mọi người bên tôi ở Trạm xá ĐHNN I. Thấy tôi tỉnh lại, anh Ngọc bảo chắc tại Ảnh tim yếu nên ngất do thiếu máu não. Thế là tôi trượt môn thể lực và phải kiểm tra lại. Hồi đó tôi biết có kiểm tra lại thì cũng không thể đạt nên anh Nguyễn Ngọc Minh xung phong chạy thay tôi. Khốn nỗi anh Minh chạy nhanh quá, thương binh gãy chân gì mà chạy như gió, 13,5 giây. Thầy Ngọc phát hiện ra chuyện kiểm tra hộ, thầy dọa đưa tôi lên Khoa để kỉ luật. Anh Hợp với tư cách lớp trưởng sau đó mấy ngày đã đưa tôi lên gặp thầy Ngọc. Chuyện đáng sợ nhất ám ảnh tôi suốt những năm đại học của tôi.

Thầy Ngọc và vợ là cô Bình đều đi học từ Liên Xô về. Gian nhà tập thể chật nhưng có kê bàn tiếp khách, ngay phía sau là cái tủ sách có nhiều đầu sách tiếng Nga. Anh Hợp và tôi gõ cửa xin vào gặp thầy. Thầy Ngọc tiếp chúng tôi trong bộ pi-ja-ma tối, nhưng vẫn rất nghiêm nghị. Tôi vẫn nhớ đôi mắt thầy nhìn sâu, lông mày rậm xoáy nhìn vào tôi. Anh Hợp trình bày với thầy rằng tôi là trường hợp bị đau bụng kinh niên từ nhỏ nên thể lực hạn chế, nhờ thầy thông cảm giúp đỡ. Anh thay mặt lớp nhận lỗi vì đã để lớp có người kiểm tra hộ bạn bè. Anh hứa với thầy từ nay lớp sẽ không vi phạm nữa. Thầy Ngọc không nói thêm gì. Còn tôi lí nhí gửi thầy bản kiểm điểm, xin lỗi thầy và ra về cùng anh Hợp. Giá tôi là anh Hợp thì khi đó tôi biết nói gì nhỉ? Anh với trách nhiệm lớp trưởng nên dù tối muộn vẫn bỏ vợ con ở nhà để đi xin lỗi thầy giúp tôi. Học đại học tôi vẫn nợ môn thể lực, nhưng vì môn kiểm tra (không phải môn thi) nên khoa cũng không đánh giá thành tích học tập của tôi sau này.

Những năm đầu các môn thi vấn đáp anh thường xuyên vào KTX để hỏi thăm tình hình ôn thi và có ý học hỏi kinh nghiệm ôn của bọn chúng tôi. Tôi biết anh không có nhiều thời gian ôn như chúng tôi trong KTX. Chúng tôi đều biết anh có trình độ tiếp thu tốt nhưng công việc gia đình quá bận nên đôi lúc thiếu tự tin, nhất là các môn học cơ bản có rất nhiều công thức.

Sau này nghe anh kể vô vàn gian khó những ngày đầu tiên anh lập gia đình và những kỉ niệm của anh với nhiều người trong lớp tôi càng phục anh chịu đựng gian khổ chăm lo gia đình mà cũng không quên quan tâm đến mọi người trong lớp. Thật sự là anh đã gian nan hơn rất nhiều so với chúng tôi sau này khi có gia đình riêng.

Có thể mọi người cho là chuyện vụn vặt nhưng thực sự chuyện tôi ghi chép ở đây hồi còn học đại học là những kỉ niệm rất khó quên. Có thể anh Hợp cũng không nhớ hết, nhưng đã là kỉ niệm tức là nó đã in dấu trong tôi một quãng đời và kí ức của tôi về anh thì còn mãi theo thời gian.

 

b/ Khi tôi là giảng viên ĐHNN I

Hồi tôi đi bộ đội về thăm trường, khi đó anh Hợp đang công tác ở Phòng Tài vụ của ĐHNN I nên bao giờ tôi cũng đến thăm anh.

Vào năm 1984, tôi đi phép về quê xin thủ tục công việc để chuyển ngành theo chính sách quân đội. Khi đến trường thăm anh, tôi có trao đổi với anh là sắp tới tôi sẽ về quê công tác theo giấy tiếp nhận của tỉnh Thanh Hóa (anh Khang giúp). Anh bàn với tôi rằng tôi trước đây tốt nghiệp loại giỏi có đủ tiêu chuẩn ở lại Khoa làm cán bộ giảng dạy, nay suy nghĩ xem có nên ở lại trường không. Anh bảo tôi gặp anh Đĩnh ở phòng Tổ chức cán bộ của trường hỏi xem tôi có thể cứ chuyển về trường rồi từ trường phân công công tác theo chỉ tiêu của trường được không? Qua anh Đĩnh tôi biết cô Diệp (Trưởng Phòng Tổ chức Cán bộ) cho rằng trường hợp đi bộ đội từ nhà trường thì khi ra quân có thể chuyển về trường và lấy chỉ tiêu của Bộ để phân công công tác cũng chấp nhận được (vì vào thời điểm 1984, nhiều người ra trường tự xin được việc mà không bắt buộc phải qua chỉ tiêu Bộ phân cho trường). Chính là nhờ ý kiến của anh Hợp và anh Đĩnh nên tôi chọn giấy chuyển ngành về Hà Nội thay cho giấy tiếp nhận về Thanh Hóa[3] khi làm thủ tục ra quân.

Khi đã về trường công tác thì 2 anh em cũng thường xuyên gặp nhau. Anh luôn coi tôi như đứa em, vẫn hay mời tôi về thăm gia đình. Đến thăm nhà khi anh chị mua đất làm nhà riêng tôi mới thấy anh chăm lo gia đình, cố gắng nuôi con, làm nhà, tăng gia cải thiện đời sống… Chuyện anh làm nhà ra khu đất mới quả là sự tính toán gian nan. Khu đất anh mua phải mất rất nhiều công sức san nền vì đó là khu đất trũng ngay dưới con kênh nổi. Mỗi lần anh dẫn tôi đến lại thấy anh san lấp được thêm một chút, dần dần nổi lên hình thù cái nền nhà. Rồi căn nhà ban đầu xây xong, có sân, có vườn, có chuồng nuôi lợn, nuôi gà, lại có cả phần ao quây lưới nuôi vịt, thả bèo, hình như có nuôi được cả cá. Từ căn nhà ban đầu đó, anh chị còn nhiều lần tu bổ, cải thiện, chồng tầng, lên cốt theo một kiểu rất riêng. Chị Thu cười bảo tôi rằng kiểu Nguyễn Đăng Hợp.

Tôi luôn được mời dự cưới các con anh chị. Anh rất cẩn thận chu đáo mời bạn bè trong lớp. Trong lễ cưới con anh Hợp tôi đã gặp anh Nguyễn Đức Trí, anh Hoàng Việt Cường và nhiều người ở KT20A về dự. Có lần gặp cả anh Ngự từ Thái Bình lên dự (anh Ngự học lớp Dâu tằm 20, trước cùng học lớp dự bị đại học với anh).

Có một lần anh đưa tôi về quê anh ở Lạng Giang (khi đó là tỉnh Hà Bắc) thăm cụ thân sinh ra anh. Có một kỉ niệm đáng nhớ là hôm về quê, 2 anh em đi xe máy. Anh lái Simson Đức to đùng, tôi đi cái Honda80 máy cối bé tẹo. Đến Thị xã Bắc Giang, anh em ngồi ăn trưa và có uống mấy cốc bia. Đường về quê quanh co xuyên qua các thôn làng lạ lẫm, lắm ổ gà ổ trâu. Anh đi trước phóng vù vù, tôi mải nhìn theo sợ mất bóng anh nên xe va vào vật gì đó trên đường. Thế là cả người và xe tôi bay xuống ruộng. Loay hoay mãi tôi mới lôi được xe lên bờ, rửa qua những chỗ bùn đất trên quần áo và không cảm thấy đau gì. Mãi một lúc sau thấy anh quay lại đón, chắc tưởng tôi đi lạc đường. Khi đó anh mới biết tôi ngã và có vết rớm máu trên má phải (cái sẹo này phải gần 3 năm mới mất).

Anh làm việc ở phòng Tài vụ (thầy Đoàn Tử Lâm là trưởng phòng), sau đó có thời gian anh làm quản lý ở Phòng Đời sống và quản lý ở Trại Thực tập Thí nghiệm. Hồi anh ở Phòng Đời sống, biết tôi sắp bảo vệ luận án PTS, anh bảo tôi nên tổ chức buổi liên hoan nhân ngày quan trọng này. Hồi đó, điều kiện khó khăn nên khi bảo vệ luận án cấp cơ sở tôi chỉ vay được tiền làm 2 mâm cơm mời hội đồng. Khi bảo vệ chính thức lại càng khó khăn, tôi nói anh Hợp chắc em cũng chỉ lo được 2 mâm cơm mời hội đồng thôi. Anh bảo đây là dịp quan trọng, cậu là PTS trẻ nhất trường khi đó nên cứ vay mượn để tổ chức bữa liên hoan cho vui vẻ đàng hoàng. Mình chưa có điều kiện thật nhưng không nên để tình trạng “áo gấm đi đêm”. Tôi đã nghe theo anh tổ chức bữa liên hoan rất vui vẻ (mặc dù phải có sự vay mượn khá nhiều của nhóm anh em cùng nghiên cứu sinh trong nước). Bảo vệ luận án thành công ngày 16-1-1996, vợ tôi lo được 5 mâm cơm mời hội đồng và các thầy cô trong Khoa, Bộ môn. Đúng là phải lo đến bạc mặt nhưng là kỉ niệm rất đáng nhớ về tư vấn của anh.

Một lần vào năm 1996, anh trao đổi với tôi về việc anh có ý định học cao học ngành Kinh tế nông nghiệp. Anh cho rằng mình ở đây có điều kiện học hành hơn anh em các địa phương về học. Tôi trao đổi với anh nên cân nhắc kĩ vì học thêm cao học thì có điều kiện sẽ thể trở thành giáo viên, khi đó có thể anh sẽ không làm quản lý nữa. Anh cố gắng quyết tâm học học cao học (thuộc số cán bộ trong trường học rất sớm hồi đó). Cô PTS Nguyễn Thị Tâm hướng dẫn anh đề tài về tín dụng. Tôi nhớ anh có hỏi ý kiến tôi về hướng nghiên cứu đề tài luận văn. Khi anh bảo vệ, tôi đã đủ tiêu chuẩn tham gia hội đồng chấm luận văn. Nhà trường cử tôi làm Phản biện 1 cho luận văn của anh. Đây có lần đầu tiên tôi là Phản biện 1 luận văn cao học. Đến nay tôi vẫn lưu giữ văn bản phản biện này ghi ngày 27-9-1997. Có thể anh bảo vệ sau đó vài hôm (vì nguyên tắc phải nộp bản phản biện trước khi hội đồng bảo vệ).

Năm 1997, khi tôi cho in cuốn giáo trình Tài chính nông nghiệp, anh tỏ ra rất phục tôi vì tôi đã trở thành người viết sách cho người khác đọc và giảng bài. Cuốn sách đầu tay của tôi in tại NXB Nông nghiệp. Bản in rất tệ, có nhiều lỗi công thức, nhưng anh tỏ ra phục tôi lắm. Mỗi khi có dịp trao đổi với ai đó, anh đều nói rằng Ảnh viết sách dạy người làm giàu mà bản thân thì sống rất bình thường giản dị.

Khi về hưu, anh có trao đổi với tôi về việc anh tham gia công việc quản lý ở trường Đại học Đông Á. Anh công tác ở Đại học Đông Á nhiều năm, sau này chủ yếu tham gia công việc cán bộ giảng dạy. Từ cương vị giảng viên, anh có điều kiện đi công tác ở nhiều địa phương trong nước. Các chi tiết về công việc giảng dạy của anh tôi không rõ lắm, chỉ biết anh thường kể cho tôi anh đã đến địa phương nào, gặp được anh em nào trong lớp, trong khóa…

  

Thứ Sáu, tháng 8 07, 2026

Thẳng thắn nhìn lại quá trình đào tạo đại học

 

1. Trở thành người lao động trí óc gần gũi với đội ngũ lao động chân tay

Trong quá trình liệt kê hoạt động đào tạo và cuộc sống sinh viên qua các ghi chép, tôi đã lấy trọng tâm vấn đề là kết quả chúng tôi đã đạt được trong cái thời gian nan ấy – đó là những gì chúng tôi đã vượt qua các rào cản để nhằm mục tiêu biên chế, kiếm cơm, phục vụ suốt đời… Tôi thích nhấn mạnh việc chúng tôi thành kĩ sư chứ ít nói đến việc chúng tôi thành đội ngũ trí thức trong xã hội.

Trở thành kĩ sư theo nghĩa chúng tôi được đào tạo thành người có thể cầm tay chỉ việc, biết hướng dẫn, biết phân tích, đánh giá kết quả của những người lao động chân tay. Chúng tôi chỉ khác họ chút ít: cùng một công việc, họ lao động bằng chân tay, còn chúng tôi sử dụng một phần trí óc. Cái gọi là “lao động bàn giấy” theo dõi, chỉ huy, ra lệnh cho người khác là mô hình chúng tôi trở thành và tất nhiên chúng tôi cũng “bị sự chỉ đạo” của tầng tầng lớp lớp những cấp bậc “lao động bàn giấy” bên trên đầu mình.

Chính vì thế chúng tôi rất tin rằng quá trình đào tạo đại học là được học trong một nhà trường tốt, có chương trình đào tạo tốt, tin các giáo viên đều đúng, đều chuẩn. Tất nhiên chúng tôi cũng tin vào mọi nội dung học đều cần, đều nên thuộc. Sau nữa, chúng tôi tin rằng tất cả các chịu đựng đều là thử thách cần thiết, đều xứng đáng để được tin cậy và giao việc sau này.

Điều đó đúng sai thế nào thì nay cũng khó đánh giá. Tại sao ư? Bởi điều quan trọng nhất là khi ra trường chúng tôi cơ bản đều có chỗ kiếm được cơm ăn, có cuộc sống với biên chế công việc suốt đời.

Mặc dù khi ra trường chúng tôi thấy thực tế có rất nhiều điều không như những gì đã học. Ban đầu hơi choáng váng một chút, nhưng nghĩ lại thấy chuyện đưa thực tế vào bài học thì làm sao bài học sống lâu được. Thay đổi của chính sách là “sáng đúng, chiều sai đến mai lại đúng.” Chúng tôi thành người lao động trí óc rất gần gũi với đội ngũ lao động chân tay nhưng thực ra họ còn giỏi hơn chúng tôi về kĩ năng và kinh nghiệm lao động.

2. Người lao động trí óc có tâm hồn còn nghèo nàn, thiếu sinh khí

Trước hết, chúng tôi thiếu tự tin, thiếu tình yêu nam nữ. Chuyện cấm đoán yêu đương trong trường đại học chỉ là cái cớ. Nghĩ đến yêu đương như nỗi sợ cấm đoán là hèn nhát, bản chất là thiếu dũng khí về năng lượng cá nhân. Ở tuổi thanh niên mà chúng tôi như bị kìm nén mọi bề, thấy giống lối sống “thầy tu” hơn là sinh viên đại học. Còn nhớ hồi trẻ đọc cuốn “Tuổi trẻ Các Mác”[1] thấy Mác trả lời con gái câu hỏi: “Câu cách ngôn mà cha thích nhất?”. Mác trả lời: “Không có gì thuộc về con người mà xa lạ đối với tôi” và chuyện Mác đã yêu Jenny von Westphalen xinh đẹp mê say cuồng nhiệt đến thế nào mới thấy sinh viên như chúng tôi thật đáng hổ thẹn.

Che đậy bằng sự “giả tạo chân quê”: nào là nề nếp gia đình, nào là truyền thống quê hương, tinh thần hiếu học… Thực chất đó là “cái mặt nạ” vùi dập sự ham muốn hiểu biết, ham muốn tương tác, học hỏi. Đa số giữ mình ở cái coi nề nếp, truyền thống là nhất, là đủ, thậm chí còn coi là hơn cả nơi khác. Ấu trĩ thay!

Chúng tôi không có nền tảng giá trị tốt từ trước khi vào đại học. Vốn cơ bản là con em nông dân nghèo khổ, phần lớn có xuất phát tầm thấp ở mọi khía cạnh, sống thiếu năng lượng và sinh khí.

3. Không được đào tạo trở thành người trí thức

Ở đây tôi muốn nói chung cho sinh viên thời ấy chứ không chỉ riêng ở ĐHNN I chúng tôi.

Phải nói không dám dùng từ trí thức[2] vì hầu hết chúng tôi không biết tầm cỡ lao động trí thứclao động sáng tạo. Lao động trí óc và lao động trí thức rất khác nhau. Lao động trí óc của chúng tôi dùng cho quản lý, tức là không phải dùng tay chân như công nhân hay nông dân. Do đó không hẳn là lao động trí tuệ sáng tạo giá trị tinh thần, không có tâm hồn trí thức biết dấn thân. Sinh viên không có cuộc sống của trào lưu trí thức sôi sục, không có hoạt động trí thức tiên phong hướng đạo, không biết tham gia diễn đàn, thi đàn, văn đàn… Không biết các xu hướng tranh luận xã hội và không biết đường đi của đội ngũ trí thức.

Trên thực tế chúng tôi không có sách để đọc và không biết cách đọc sách. Chúng tôi không biết ngoại ngữ để sử dụng kiến thức, tìm kiếm tri thức.

Nhân đây tôi có suy nghĩ là tại sao các học sinh được đào tạo thời thuộc Pháp lại đều giỏi tiếng Pháp từ khi đang còn đi học. Điển hình phải kể đến những trí thức nổi tiếng Cù Huy Cận, Xuân Diệu, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Phạm Huy Thông… Điểm rất yếu của chúng tôi là không thể hiện hơi thở thời cuộc của “trí thức” (kiểu như thời của các vị như Cù Huy Cận, Xuân Diệu[3]). Thực tế là tâm hồn buồn tẻ, ít lí tưởng hoài bão cao xa.

Cần nhấn mạnh thêm lúc chúng tôi học, Hiệu trưởng ĐHNN I là GS Lê Duy Thước[4]. Giáo sư Lê Duy Thước từng là trưởng hướng đạo sinh tỉnh Quảng Nam do Tạ Quang Bửu tiến cử và hoạt động của ông chính danh là người trí thức nổi tiếng ở Việt Nam thời ấy.

Chúng tôi vì thiếu tình yêu lứa đôi chăng nên không biết và tất nhiên không cảm thụ được cảm xúc cuộc sống trong âm nhạc, nghệ thuật hội họa, điêu khắc… Đa số không biết lắng nghe thiên nhiên. Nhiều người còn nhẫn tâm trước môi trường sinh thái, không biết xử lí nhân văn các tác động của thiên nhiên với con người và ngược lại. Thái độ còn vô cảm, bàng quan, thiếu cân nhắc về tính tương tác, tính hòa hợp.

Chúng tôi không biết nhiều về điều rất quan trọng khác của danh dự trí thức: dấn thân, trung thực, đạo đức nghề nghiệp. Khi thành người lao động trí óc, chúng tôi còn thiếu các giá trị cốt lõi về trách nhiệm và gánh vác trách nhiệm trước tập thể và xã hội thay vì đổ lỗi. Chưa đủ tự tin để thể hiện lòng tự trọng và phẩm giá: giữ mình thanh sạch, không vì lợi ích tầm thường. Nhận thức còn hạn chế về sự độ lượng và khiêm nhường trong đối xử nhân ái, tôn trọng nhân gian. Ngoài ra còn hạn chế về ý chí kiên cường, hiên ngang, khoan thai đối mặt với mọi nghịch cảnh trong đời sống.

4. Không trở thành trí thức nhưng đủ thành người mộc mạc “chân quê”

Trong hoàn cảnh xã hội khó khăn, chúng tôi chấp nhận nghèo khó như số phận bao con người của đất nước. Chúng tôi cũng chính là hiện thực về thân phận con người trong xã hội, là những con người chịu đựng và hi sinh cùng vận mệnh của đất nước.

Bởi giàu tính “chân quê” giản dị nên chúng tôi dễ dàng đi vào lòng dân. Nhờ biết rõ chuyện nông gia, chuyện nấu cơm, vá áo nên chúng tôi hòa vào cuộc sống, vô hình hòa vào dân gian.

Chúng tôi chấp nhận lặng lẽ âm thầm về danh tiếng. Vốn biết không xứng danh mang hồn sông núi, hồn dân tộc nhưng trong mỗi chúng tôi vẫn sâu đậm sự mộc mạc hồn quê, hương quê. Ý tôi muốn nói là điều cao siêu dù không đạt tới nhưng chúng tôi không bị hư hỏng, hủy hoại bởi thói hư tật xấu, không vô dụng trong cuộc sống lao động chân chính của mình. Đó chẳng phải là ĐỦ VÀ QUÁ ĐỦ!!!



[1] Tác giả: E-lê-na I-li-i-na (Elena Ilyina) nhà văn Liên Xô. Nhà xuất bản Thanh Niên, 1969.

[2] Trí thức có danh từ gốc là intellect (trí  tuệ, trí thông minh). Một người có học vấn cao được mang danh “trí thức” nếu người đó sẵn sàng bước ra khỏi lĩnh vực chuyên sâu của mình để lên tiếng – với lập luận vững chắc - về những bất cập xã hội, với động cơ không vụ lợi, ngày nay gọi là phản biện. Trí thức để tôn vinh những người có học vấn uyên thâm, làm nghề sáng tạo như học giả, nhà văn, nào là nghệ sĩ, bác học… Để được gọi là trí thức, điều kiện “cần” là làm nghề sáng tạo các giá trị tinh thần; còn điều kiện “đủ” là phản biện xã hội - để xã hội tốt đẹp thêm. Việt Nam quan niệm “trí thức” là học giả, soạn giả, tác gia, bác học… thậm chí còn là bằng cấp và nghề nghiệp như tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư, nhạc sĩ, họa sĩ, nhà điêu khắc, giáo sư, nhà văn, nhà khoa học… Từ “trí thức” rốt cuộc chỉ là nói về giới “có học” trong xã hội.

[3] Sách “Hồi kí song đôi” của Huy Cận, NXB Hội Nhà văn, 2011.