Thứ Hai, tháng 6 15, 2026

Chuyến đi thực tế KT20 về Hải Hậu, Hà Nam Ninh

 

a/ Một phát sinh chương trình “đột xuất”

Trong khóa 20, đây là một kế hoạch phát sinh trong chương trình đào tạo. Nếu đi lao động công ích (như hồi năm thứ 3) thì cơ bản cũng đã có kế hoạch trong toàn khóa, nhưng đi chuyến này của chúng tôi là một phát sinh “đột xuất” vì việc thực tập giáo trình theo chương trình đã hoàn thành và chúng tôi đang học những tuần cuối kỳ 2 năm thứ 4 để nghỉ hè lên là đi thực tập tốt nghiệp.

Phải nói thêm về công việc chuyến đi này: sau ĐH IV (1976), Đảng ta có chương trình cơ giới hóa nông nghiệp toàn quốc (theo mô hình Lê Duẩn). Năm 1977, Đảng ta chọn tỉnh Hà Nam Ninh làm thí điểm cơ giới hóa nông nghiệp, trong đó trọng tâm là huyện Nam Ninh. Có người gọi huyện Nam Ninh là nơi “thử trái bom” cơ giới hóa nông nghiệp. Tuy nhiên các huyện khác của Hà Nam Ninh đều là những trọng điểm đầu tư cơ giới hóa. Sau Nam Ninh là Hải Hậu và nhiều huyện khác…

Giai đoạn này thầy Lê Duy Thước, Hiệu trưởng ĐHNNI đang có nội dung nghiên cứu khoa học rất lớn là Chương trình điều tra kinh tế xã hội Tây Nguyên. Trường đã huy động nhiều giáo viên và sinh viên toàn trường tham gia. Khóa 17 được huy động hầu hết tham gia nhiệm vụ điều tra Tây Nguyên, thậm chí công nhận đặc cách tốt nghiệp cho những sinh viên học xong chương trình năm thứ 4 mà không phải thi tốt nghiệp. Khóa 18 và 19 cũng có nhiều người còn tham gia chương trình. Trong ngành Kinh tế nông nghiệp, các lớp KT17 có rất người người được cử vào chương trình Tây Nguyên, được công nhận ngay là “kĩ sư đặc cách”. Đến khóa 20 thì chương trình Tây Nguyên kết thúc nên không huy động sinh viên nữa. Nhưng chúng tôi lại có cơ hội được huy động vào việc tìm hiểu cơ giới hóa nông nghiệp ở Hải Hậu.

b/ Những thay đổi kế hoạch học kì và chuẩn bị đi Hải Hậu

Vào giữa tháng 5/1979, chúng tôi được thông báo có công việc đi thực tế 1 tháng (chứ không phải đi thực tập). Các môn học phải chỉnh lại thời khóa biểu. Riêng môn Lịch sử Đảng thì được đẩy dồn lên thi trước cho cả khóa 20 (thi ngày 28-5-1979 như tôi đã đề cập ở ghi chép trước). Các môn còn lại là Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệpTài chính tín dụng xí nghiệp nông nghiệp sẽ học tiếp và thi sau khi đi thực tế về. Ngay sau khi thi xong môn Lịch sử Đảng thì chuẩn bị ngày vào kế hoạch đi Hải Hậu.

Chúng tôi được nghe một số báo cáo ngắn trong 1 buổi sáng. Hôm đó 2 lớp KT20AB tập trung ở Giảng đường 8 CLB cán bộ. Khoảng gần 9am, chúng tôi thấy có một đoàn cán bộ đến. Mọi người đã hàng ghế trên phải nhường chỗ cho đại biểu. Tiếp đó chúng tôi được nghe PTS Nguyễn Lâm Toán, Viện trưởng Viện Kinh tế nông nghiệp báo cáo.

Đây là lần đầu tiên tôi được nghe thầy Nguyễn Lâm Toán nói chuyện. Từ 1977 thầy đã thôi Trưởng Khoa Kinh tế Nông nghiệp để sang Bộ Nông nghiệp làm Viện trưởng Viện Kinh tế nông nghiệp. Thầy ăn mặc cũng tương đối giản dị, giọng sang sảng đặc âm xứ Nghệ. Bài nói khúc chiết rõ ràng, không cần giấy tờ chuẩn bị gì, đại loại về tầm vóc của Chương trình cơ giới hóa nông nghiệp của Đảng. Mọi người nghe im lặng nhưng thực tế chẳng hiểu gì mấy.

Tiếp đến là báo cáo của PTS Diễn, Viện Kinh tế Nông nghiệp. Chúng tôi được giới thiệu là PTS Diễn mới từ Liên Xô về. Một cán bộ rất chuẩn về ăn mặc, đĩnh đạc lên bục trình bày. Ông có chuẩn bị rất kĩ về bài nói, có mở một tập giấy ra trước để đôi khi nhìn vào. Bài nói của ông có nhiều con số liên quan đến cơ giới hóa nông nghiệp ở Liên Xô. Không ai trong chúng tôi ghi chép được gì vì thầy nói nhiều về tỷ lệ cơ giới hóa nông nghiệp trong từng khâu canh tác rất cụ thể ở Liên Xô.

Tôi chú ý rất kĩ đến cách ăn mặc của ông Diễn: sơ mi trắng tinh, cổ cồn có cà vạt, quần âu sơ-vin cẩn thận, đi đôi giày da vàng đỏ đánh xi bóng loáng. Cái lần đầu tiên tôi được thấy là 2 cúc tay áo rất lạ: vừa to vừa màu mè. Sau này tôi hỏi các anh trong lớp mới biết đấy là 2 cái măng-sét[1] đeo vào cho sang trọng (gây giờ thì đeo măng-sét chỉ còn cơ bản ở những người của công chúng, giới nghệ sĩ). Một cán bộ ngành nông nghiệp mà ăn mặc sang trọng như nhà ngoại giao trong buổi lễ tân quốc tế? Nói chung đối với tôi, bài nói của ông cũng chẳng có ấn tượng gì.

Tiếp đến là một ông cao to, da ngăm đen báo cáo về yêu cầu cụ thể của chuyến đi lần này. Người ta giới thiệu ông tên Long, cán bộ của Tổng cục Trang bị kĩ thuật Bộ Nông nghiệp. Đây là báo cáo tôi tập trung lắng nghe vì nghĩ sẽ liên quan đến công việc của chúng tôi. Ông Long là kĩ sư cơ khí, ông nói khá cụ thể về những công việc cần thu thập tại các xã chúng tôi đến và cơ bản là các bảng biểu thống kê đã lập sẵn thành các biểu mẫu để chúng tôi thu thập số liệu, điền vào. Các số liệu yêu cầu khá nhiều, lần đầu tiên tôi nghe về cơ khí nhỏ, về công cụ cải tiến trong các HTX. Một số quy định về cơ khí nhỏ, về công cụ cải tiến cần được nắm vững để khi cần thiết thì phải kiểm đếm từ thực tế, tránh nhầm lẫn. Ông Long ví dụ: cái lưỡi cuốc của cơ khí Trần Hưng Đạo là công cụ cải tiến, nhưng cái lưỡi cuốc mà nông dân sử dụng từ các lò rèn địa phương không phải là công cụ cải tiến (!)

Sáng hôm sau, xe đưa đoàn chúng tôi đi từ sáng sớm để kip đến Hải Hậu vào giờ ăn trưa. Đến huyện, chúng tôi được đưa đi ăn ngay, chiều hôm đó có xe đưa sinh viên rải đến các xã trong huyện, mỗi xã chừng 3-5 sinh viên. Nhiều xã gần Ủy ban huyện có người đến đón rất cẩn thận. Tôi thuộc nhóm sinh viên được ở huyện nên ăn xong thì họ đưa đến chỗ nghỉ tại Nhà Văn hóa huyện, đối diện với khu công sở của huyện Hải Hậu. Nhóm ở lại huyện có khoảng 5-6 người, tôi nhớ lớp KT20A có Lê Hữu Ảnh, Trần Hữu Giang, lớp KT20B có anh Hà Kim Doanh, Nguyễn Văn Thuỷ… Thầy Nguyễn Văn Quý đi theo đoàn nói là Khoa chọn những sinh viên khá để giúp đoàn tổng hợp tình hình chung của huyện.

Tôi không rõ các khoa khác có đi như chúng tôi không, chỉ biết là 2 lớp KT20A và B được đến huyện Hải Hậu. Sau này tôi biết có thêm một số sinh viên khoa QLRĐ cũng có mặt cùng một số giáo viên, nhưng họ chỉ làm việc ở Phòng Nông nghiệp, không thấy đến các xã.

c/ Bố trí ăn nghỉ của nhóm sinh viên ở huyện

Tôi còn nhớ những ngày đầu nhóm sinh viên ở huyện được đi ăn cơm ở nhà ăn tập thể của cán bộ huyện. Nhưng sau đó thì người ta bố trí người nấu cơm cho chúng tôi ở ngay khu Nhà Văn hóa tức là ăn ngay tại khu nghỉ, không phải đi bộ mấy trăm m đến nhà ăn của cán bộ huyện. Thời gian ở đây tôi còn nhớ khá nhiều kí ức đẹp về một tháng ở huyện.

Có một hôm ăn chiều ở bếp ăn tập thể của cán bộ huyện, chúng tôi gặp ông Nguyễn Đức Triều[2] cũng ăn cơm ở đấy. Ông chắc mới họp về, ăn muộn nên ngồi một mình. Tiêu chuẩn ăn ở bếp thì mọi người đều như nhau, những món ông ăn cũng giống như những món người ta dọn cho chúng tôi. Ông Triều đang rất có uy tín và khá nổi tiếng ở huyện cũng như ở tỉnh lúc bấy giờ.

Vì lúc đó nhà ăn vắng người nên ông Triều hỏi chúng tôi về công việc và sau bữa ăn ông mời chúng tôi về phòng ông uống nước. Gian nhà cấp 4 ông ở có cái bàn nhỏ bên ngoài, bên trong có ri-đô vải kéo hờ nhìn thấy một giường đơn (rộng chừng 1m) có những cái cọc màn. Phía trong có cái bàn con, trên có cái đèn bàn và một giá sách nhỏ - chắc bàn làm việc đêm của ông. Ông Triều khi đó đang là nhân vật quan trọng của huyện vì ông là cán bộ được Bộ Nông nghiệp cử về địa phương công tác. Buổi uống trà chiều ngắn ngủi với ông chủ yếu là anh Hà Kim Doanh tiếp chuyện vì anh Doanh lớn tuổi nhất, từng đi bộ đội và khi đi học anh đã là cán bộ. Chúng tôi chỉ nghe và quan sát thấy ông nói chuyện nhẹ nhàng điềm đạm, phong cách giản dị, phòng ở đơn sơ… Có một chuyện tôi còn nhớ, ông chỉ vào bao gạo để ở cạnh bàn và bảo: “Tớ vừa đi công tác ở xã về được HTX biếu 5kg gạo tám ngon, mai tớ gửi vào bếp để mọi người cùng thưởng thức”. Chỉ riêng chi tiết đó, chúng tôi đánh giá cán bộ lãnh đạo thời đó không hề có tư lợi gì và sống vô tư, trong sạch, chan hòa tình cảm với mọi người. Sau này ông là Chủ tịch huyện, Bí thư huyện, Ủy viên Trung ương Đảng nhiều  khóa và là vị Chủ tịch Hội nông dân Việt Nam. Tôi nghe nói quê ông ở Thái Bình. Sau này có dịp về Thái Bình công tác, tôi được gặp em trai ông là Nguyễn Xuân Lai, từng là Bí thư huyện Tiền Hải và được nghe dân chúng ca ngợi 2 anh em ruột làm lãnh đạo 2 huyện “biển trước”“biển sau” (ý từ tên huyện Tiền Hải và Hải Hậu).

d/ Công việc của nhóm sinh viên ở huyện

Nhóm ở huyện được giao những công việc rất chung chung: nắm tình hình chung của huyện và đến các xã thu thập thông tin. Nhóm do anh Hà Kim Doanh làm nhóm trưởng. Trong khoảng tuần đầu ở huyện, chúng tôi đến Phòng Nông nghiệp và Phòng Thống kê huyện nắm tình hình và được cho mượn nhiều báo cáo về tình hình chung của huyện, số liệu của hơn 40 HTX toàn xã trong huyện. Có nhiều bảng biểu số liệu thống kê về đất đai, lao động, sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, thủy nông, trang bị công cụ lao động,… được chúng tôi mượn về và sao chép lại, cơ bản tập hợp gần như nguyên xi các số liệu của huyện chứ không phân tích gì trên cơ sở số liệu đó. Tuy nhiên đây là tài liệu quan trọng đối với tôi vì sau đó tôi đã sử dụng khá nhiều cho việc làm đề tại tốt nghiệp.

Làm việc với các cán bộ huyện: chúng tôi có dịp làm việc với các ông cán bộ Phòng Nông nghiệp, Phòng Thống kê huyện Hải Hậu. Tôi còn nhớ gặp ông Tiển, Trưởng phòng Nông nghiệp, ông Oanh, Phó phòng nông nghiệp và các anh bên Phòng Thống kê xin số liệu. Nhìn chung họ đều biết sinh viên đang tham gia một nội dung công việc của Bộ Nông nghiệp nên giúp đỡ nhiệt tình, hỏi số liệu nào thì cho số liệu ấy, đôi khi con gợi ý những số liệu mà chúng tôi không hỏi.

Ông Tiển khi đó chắc hơn 50, cao to và hiền hòa, Ông dân biển mà da trắng, hơi phốp pháp, tóc hói nhiều, dễ tính, giao những công việc mà chúng tôi cần cho ông Oanh trực tiếp giúp đỡ. Tuy nhiên chúng tôi cũng chẳng biết nhờ vả gì mà chủ yếu mượn số liệu về ghi chép lại.

e/ Đến các xã “công tác” nắm tình hình

·     Đến xã Hải Vân

Nhóm ở huyện được phân công đi xuống các xã nắm tình hình. Vì đến các xã phải có xe đạp nên mỗi người cũng chỉ đi được vài ba xã. Tôi đầu tiên được đi đến xã Hải Vân – xã nằm ở phía Bắc huyện Hải Hậu, cách thị trấn Yên Định chừng 5km. Tại xã Hải Vân, nhóm sinh viên do anh Nguyễn Đăng Hợp làm nhóm trưởng và tôi nhớ còn có anh Trần Duy Học. Tôi thấy các anh sinh viên ở đây sống vui vẻ, được HTX cấp thêm cho một số tiêu chuẩn về lương thực, rau xanh. Anh Hợp dẫn tôi lên gặp các đồng chí Ban Quản trị HTX nông nghiệp (toàn xã) Hải Vân được các đồng chí đón tiếp khá thân thiện. Điều quan trọng nhất là tôi thấy anh Hợp cũng anh em sinh viên khác trong nhóm rất giỏi xã giao nên được cán bộ địa phương quý mến. Anh Chủ nhiệm cũng còn trẻ lại rất vui tính nói với tôi: “Tình hình ở HTX có gì chú cứ hỏi anh Hợp, anh Hợp mới đến mà nắm hết tình hình trong xã như một Ủy viên Ban quản trị HTX chúng tôi rồi”. Tôi ngủ lại 1 đêm ở Hải Vân với các anh. Chiều tối hôm ấy được các anh đưa tôi sang xã Hải Phúc thăm nhà bạn Trần Thị Quế cùng lớp.

Gần đây tôi gặp anh Hợp được anh bổ sung thêm một số thông tin: trong nhóm ở Hải Vân còn có chị Trần Thị Đức. Các anh trong BQT HTX rất quý anh em trong nhóm thực tập. Sau này một số anh cán bộ xã đã lên Hà Nội và đến nhà anh Hợp. Có lẽ anh Hợp đã xây dựng được quan hệ tình cảm rất tốt với cán bộ HTX trong một tháng đến địa phương.

·     Đến xã Hải Phương

Tôi có đến xã Hải Phương, cách huyện chừng hơn 2km. Tôi không rõ là đi “công tác” hay đi chơi vì ở đây có nhóm sinh viên của anh Nguyễn Văn Ngọc và Lê Cao Bính. Từ huyện xuống đi qua một Nhà thờ lớn, qua trường cấp 3 là có con đường rẽ trái thẳng tắp tới xã Hải Phương. Con đường có 2 hàng cây tươi tốt, bên phải là một kênh nước và những ruộng lúa bờ vùng bờ thửa rất ngay thẳng. Có nhiều cầu xây qua kênh để đi vào ruộng. Người ta chở vật tư, sản phẩm thu hoạch bằng đường thủy về sân kho HTX rất tiện lợi.

Nhà các anh em ở trọ là một gia đình gồm một bà cụ già và một cô vợ trẻ (đang có con nhỏ), anh chồng đi làm việc xa nhà. Căn nhà ở gần khu làm việc của HTX. Nhà có 5 gian, giữa nhà có bàn thờ chúa, 2 gian bên trái và phải kê 2 giường anh em sinh viên ở. Phía gian 2 đầu là buồng của cô vợ và các con, bên kia là gian cho bà cụ già. Một sân rộng có bể nước, bếp, ao… rất sạch sẽ. Sau này anh Nguyễn Văn Tường về Hải Phương thực tập tốt nghiệp cũng được xã gửi về đây ở 6 tháng (nay Lê Cao Bính có lẽ còn nhớ tên bà chủ nhà).

HTX Hải Phương bố trí ở khu đất rất đẹp, trên bến dưới thuyền, cạnh đó là Nhà thờ Hải Phương uy nghi. Toàn xã là công giáo toàn tòng nên rất nề nếp và bình yên. Về đây cũng nghe nói xã có hỗ trợ anh em sinh viên tiêu chuẩn lương thực và rau xanh.

·     Đi các xã phía đông của huyện

Tôi có chuyến đi mấy ngày đến 3 xã: Hải Phú, Hải Cường và Hải An. Đây là 3 xã phía đông, gần biển. Tôi không nhớ đi bằng cách nào xuống đó vì 3 xã này cách huyện phải cỡ chục km. Từ huyện đi theo đường lộ chính xuống đến Thị trần Cồn rồi mới rẽ phải, qua Hải Cường đến Hải Phú, nhưng tôi đến Hải Phú trước vì ở đó nhóm sinh viên có anh Chu Văn Khang, chị Nguyễn Thị Liên, Lê Thị Cương. Tôi ăn ở với các anh chị nhóm Hải Phú mấy đêm liền, có ngày qua Hải Cường và qua Hải An nhưng tối vẫn về ăn ngủ ở Hải Phú.

Nói chung đến các xã này vào khoảng tuần 3 của chuyến đi 4 tuần nên anh em sinh viên ở đây cơ bản đã nắm được hết tình hình, nên tôi không phải gặp ai trong ban quản trị các HTX. Vì thế chủ yếu là có dịp quan sát địa phương qua tình hình ăn ở cúa nhóm sinh viên.

Ở Hải Phú anh em sinh viên sống rất sôi nổi. Các sinh viên được HTX bố trí nghỉ ở một căn nhà thoáng mát gần khu trại chăn nuôi. Ở đây tha hồ rau xanh, chỉ cần lội ra ruộng hái về ăn. Nhà ở ngay cạnh kênh nước có nhiều cây cối xanh mát, chỉ tội là nước kênh rất đục. Các anh chị em phải múc nước vào mấy cái chum to và phải đánh phèn chua mới ăn uống được. Tôi thấy anh Khang ra kênh múc nước vào chum, sau đó cho một vốc phèn chua vào và lấy cái gậy tre xoay tròn trong chum. Nước có phèn tạo thành nhiều chất như phù du lắng kết lại và lắng dần xuống, phía trên chum là nước trong sử dụng ăn uống. Còn tắm giặt thì các anh ào ngay ra các kênh nước cạnh nhà (không biết chị em thì tắm bằng cách nào). Ở Hải Phú, HTX cũng hỗ trợ sinh viên nhiều về tiêu chuẩn ăn. Tuy nhiên mấy anh em đều có cách cải thiện thêm vì các kênh nước quanh nhà đều có thể kiếm được tôm hay cáy.

Xã Hải An cũng gần Hải Phú, là nơi có anh Trác và anh Học lớp KT20B thực tập. Tôi đến xã Hải An và được trải nghiệm buổi đi câu cáy. Anh Trác, anh Học rủ tôi ra bờ kênh. Trưa rất nắng, nước kênh chảy lờ đờ. Sát bờ kênh là nơi dân trồng nhiều cây khoai nước. Đi câu cáy phải ngồi xa và phải rất lặng, cái cần câu dài có mồi là con sâu, con tép gì đó rồi chờ xem nơi nào cáy bò ra. Mà “nhát như cáy” nên bọn cáy chỉ nghe tiếng động hoặc phát hiện có người là chúng thụt vào hốc. Phải im lặng chừng 10-15p chúng mới bò ra. Khi đó lặng lẽ rê cái mồi câu đến, cáy thấy mồi cắp đưa lên miệng ăn. Nhưng người câu phải chờ cho đến khi chúng ăn vào thật sâu trong miệng mới nhấc lên vì nhấc vội nó nhả mồi là cáy lại rơi xuống thoát thân. Anh Học quê Bắc Kạn nhưng câu giỏi nhất, tôi chỉ được vài con. Ngồi một buổi trưa là có món cáy kho mặn cải thiện bữa ăn chiều rồi.

Xã Hải Cường sát ngay Thị trấn Cồn và Hải Phú. Ở Hải Cường cũng có nhóm sinh viên thực tập nhưng tôi không nhớ là những ai. Chuyện nhớ nhất ở đây là được đi thăm đồng muối. Thị trấn Cồn và xã Hải Cường có rất nhiều ruộng muối, có nhiều kênh dẫn nước mặn từ biển vào khu ruộng làm muối. Các sân phơi muối nhỏ bé được múc nước lên phơi (nước đã tích độ mặn cao từ ruộng phơi muối). Trời nắng nên nước bốc hơi còn lại một lớp muối mỏng và được thu gom thành từng đống trắng tinh. Sau này tôi có dịp thấy cách làm muối ở phía nam hồi bộ đội đi công tác ở Nông trường quân đội 414. Muối ở phía nam người ta phơi cả ruộng chứ không có sân phơi như ở phía bắc nên muối lần nhiều tạp chất, màu xám nâu chứ không trắng tinh như các sân muối ở vùng Hải Hậu.

g/ Những kí ức khác về Hải Hậu

·     Khung cảnh nên thơ của không gian khu cơ quan huyện Hải Hậu

Một khu đất chừng hơn 1ha được thiết kế ngay ngắn, đơn giản nhưng rất đẹp. Ngay sau khi đi qua cầu sông đào ở Thị trấn Yên Định (một kiểu sông nước từ thời Nguyễn Công Trứ) là thấy ngay bên phải một khu đất đẹp nhiều cây xanh và hồ nước. Con đường từ lộ chính vào khu “huyện đường” đi giữa 2 hồ nước vuông vắn. Bờ hồ đều có những cây dừa đẹp. Phía trong là một cổng gác đơn giản, dãy nhà cấp 4 bên phải là Đảng ủy và bên trái là Ủy ban. Mỗi bên trước đều có sân, vườn hoa, non bộ nhỏ được thiết kế không cầu kì lắm nhưng chăm sóc khá cẩn thận. Phía sau là bếp ăn tập thể và những phòng ở cho cán bộ huyện. Cạnh nhà ăn có một khu đất có ao cá và vườn rau.

Sát bờ sông cạnh hồ nước bên phải khu cơ quan huyện có Thư viện 3 tầng sơn màu xanh rất nên thơ. Đối diện với huyện bên kia lộ chính là khu Nhà văn hóa (chúng tôi được bố trí ở đó), có một quảng trường để mít tinh, có sân khấu đắp đất cao chừng gần 1m. Cạnh nhà văn hóa quay là mặt lộ chính là Bảo tàng huyện Hải Hậu sơn màu hồng nhạt, có nhiều hoa trông rất xinh xắn.

Có thế nói đây là một bố trí không gian rất đẹp và nên thơ. Tuy không có công trình kiến trúc gì đáng kể nhưng các dãy nhà cấp 4 rất ngay ngắn giữa những lối đi nhiều cây cảnh, hoa tươi được chăm sóc cẩn thận. Một cơ quan rất nên thơ yên tĩnh chứ không ra vẻ oai nghiêm công đường dọa nạt dân chúng.

·     Thăm Thư viện, bảo tàng

Thư viện 3 tầng màu xanh đẹp nhìn ra hồ nước rất hấp dẫn. Chỉ vài ngày sau khi đến là tôi rủ Giang đến thăm và hỏi thủ tục đọc sách. Cô thủ thư biết chúng tôi là sinh viên nông nghiệp, cô vui vẻ đón, dẫn đi xem. Tầng 1 có treo nhiều cờ thi đua, giấy khen, bằng khen hoạt động của Thư viện. Có cái bàn rộng kê ở giữa phòng để có thể đọc báo. Lên tầng 2 tôi thấy có một kho sách được phân loại và có tủ để thư mục tra cứu. Sách không nhiều lắm, nhiều sách chính trị, ít sách văn học, nhưng tôi cũng rất thèm muốn được đọc. Tầng 3 là nơi làm việc của nhân viên. Tôi được biết chúng tôi là khách của huyện nên không thể mượn được sách về đọc nhưng có thể đến đọc báo hàng ngày.

Bảo tàng Hải Hậu rất gần nới chúng tôi nghỉ. Phía trước nhìn ra đường cũng có hòn non bộ, nhiều cây cảnh. Bên trong có nghèo nàn tiêu bản, vài cái bản đồ vẽ sự hình thành vùng đất mấy trăm năm qua. Các hình ảnh mô tả kênh đào lấn biển. Đặc biệt phía sau nhà có mô hình rất đáng chú ý: một bộ xương con cá gì đó rất to được bọc bằng trấu đã bị rách lộ ra khung xương sắt gắn các xương sườn. Cả mô hình dài khoảng 5m, kê dọc hành lang. Một cô gái rất nhỏ bé trông coi, thấy chúng tôi vào thì e lệ chào hỏi và giới thiệu nhỏ nhẹ khi chúng tôi quan tâm đến hiện vật bảo tàng. Tôi nghĩ không có gì ấn tương về những trưng bày trong bảo tàng nhưng ý thức một huyện có nhà Bảo tàng có lẽ rất hiếm thời bấy giờ.

·     Thăm phố Đông Biên, nhà thờ Đông Biên

Ở Hải Hậu có một phố cổ rất Pháp: phố Đông Biên. Ngày sát cơ quan huyện có một phố dài chừng gần vài trăm mét có rất nhiều ngôi nhà kiểu Pháp rất đẹp. Không rõ họ buôn bán gì, không thấy trưng bày gì nhưng cư dân có vẻ là những người giàu có sinh sống. Mỗi lần đi ngang phố đều nghe tiếng chuông đồng hồ cổ lên dây cót treo trên tường (loại ODO của Pháp). Mà hình như nhà nào cũng có, có những nhà treo tới mấy cái.

Tôi còn gặp ở đây một hình ảnh lạ: một ông trung niên chừng hơn 50 tuổi, da hồng hào, râu ngắn, khỏe mạnh đi chiếc xe đạp màu cá vàng – Giang bảo tôi đó là xe đạp Peugeot (pơ-giô) của Pháp. Nhiều người dân dừng lại kính trọng chào ông. Tôi thấy ông rẽ vào nhà thờ to lớn gần đó. Chắc ông là một vị chức sắc trong nhà thờ Chúa.

·     Thăm cô gái Bảo tàng

Buổi chiều rỗi rãi nên chúng tôi rủ nhau đi thăm thú quanh thị trấn Yên Định. Một hôm tôi và Giang đến thăm cô gái đã gặp hôm trước gặp ở Bảo tàng. Cô tên Kiệm, mới tốt nghiệp Khoa sử Đại học Tổng hợp, tầm tuổi chúng tôi. Cô Kiệm ở phòng một tập thể ngay phía sau khu nhà văn hóa. Kiệm là một cô gái nhỏ nhắn, gầy gò trông như một em bé thôn quê. Phòng của cô vô cùng giản dị: cái ri-đô ngắn che ngang bên trong một giường cá nhân, cuối giường có cái hòm gỗ nhỏ. Một góc phòng phía trước thấy có cái bếp dầu, một xô nước, 2 cái xoong nhỏ và mấy cái bát. Một cái bàn bé tẹo kê góc chỉ có 1 ghế ngồi. Tôi và Giang vào không nhưng không có chỗ ngồi nên ra hiên đứng nói chuyện với cô Kiệm một lúc. Kiệm không có nước để mời khách và khi khách về không có lời mời đến lại lần sau.

Đó là cuộc sống của cán bộ mới ra trường như mọi người khác mới đi làm. Tuy nhiên tôi thấy công việc của Kiệm ở đây quá giản dị – giản dị vì sự nghèo nàn của vật chất, về sự chập nhận công việc… Cô Kiệm như một người sự lặng lẽ hi sinh vì sự phân công của tổ chức. Tôi không hề thấy tương lai hay triển vọng gì từ nơi công tác (một bảo tàng nghèo nàn vật chất) mà cô đang làm. Nếu cứ vì tổ chức để công tác thì rất có thể tuổi trẻ của cô sẽ phải mòn mỏi nếu cô cứ gắn với cái nhiệm vụ bảo tàng này (?).

Tôi còn gặp đôi lần nữa, nhưng câu chuyện cũng không có gì đáng kể, đến nay chỉ là còn lại sự băn khoăn về nỗi cô đơn lặng lẽ của cô gái trẻ học đại học mới ra trường, về cái nghèo nàn của bảo tàng sơ sài cấp huyện…

·     Lần đầu học đánh bóng bàn

Ngay cạnh chỗ chúng tôi nghỉ có một nơi kê 2 bàn bóng bàn của bộ phận thể thao trong Phòng Văn hóa. Chúng tôi đến xem các anh thanh niên chơi bóng, chắc họ là cán bộ trẻ trong huyện. Khi họ nghỉ, chúng tôi vào chơi thử. Tôi lần đầu tiên cầm vợt chơi để biết cảm giác trải nghiệm trò chơi, cơ bản là biết đưa bóng qua lại và chơi thì ít còn đi lượm bóng rơi thì nhiều. Tuy nhiên cũng nhờ có cảm giác này mà khi chúng tôi vào bộ đội ở QK9 đã chơi khá hơn.

Một hôm Giang chơi bóng với một cậu bé con cán bộ huyện ở tập thể gần Nhà Văn hóa. Nó cũng tập tọe chơi như chúng tôi thôi, nhưng dạn dĩ, dễ bắt chuyện. Giang hỏi: Em học lớp mấy rồi? Nó bảo: “Em nó đang học lớp 3. Mà lớp 3 khó lắm mấy anh có biết không?” Giang bảo: “Đúng, học lớp 3 rất khó nên ngày xưa anh đi học anh thấy khó nên bỏ luôn lớp 3 mà vào học thẳng lớp 4 cho dễ. Em về bảo bố mẹ xin thẳng lên lớp 4 đi”. Giờ hỏi lại Giang không còn nhớ, nhưng tôi thì lại rất nhớ chuyện cười tếu vô tư kiểu “rất Giang” này.

·     Chuyện anh Hà Kim Doanh viết thư cho bố vợ

Trong cuộc sống, chúng ta gặp nhiều chuyện hay, có lí, trong lòng hiểu thấu, cứ tưởng rồi mình cũng sẽ học và áp dụng được khi có điều kiện. Nhưng sao lại không thể thực hiện được: vì ta chưa gặp được những điều tương tự hay quan trọng hơn là ta là ta, ta không phải là họ?

Nhóm ở huyện chúng tôi do anh Hà Kim Doanh làm nhóm trưởng. Anh Doanh hơn tôi gần chục tuổi, là bộ đội, cán bộ về trường học nên có chế độ phụ cấp đủ sống. Anh đã có vợ con ở quê ở Phú Thọ. Một hôm buổi sáng, anh Doanh vệ sinh cá nhân xong thì chải đầu, mặc bộ gabardine bộ đội áo bỏ gọn trong quần (sơ-vin) và ngồi vào bàn và viết gì đó. Tôi thấy anh rất nghiêm túc nên cũng làm công việc của mình, tránh không phiền để anh tập trung viết lách. Chừng gần 1 giờ, có lúc thấy anh vui, có lúc thấy anh trầm tư rồi nghe anh nói một mình: “xong”. Tôi hỏi xong gì thì anh đáp vui vẻ: “xong lá thư tớ gửi cho bố vợ tớ mà tớ đã nghĩ mấy ngày nay”. Anh đứng lên, cởi bộ gabardine ra để mặc bộ đồ đơn giản cho mát (không “đóng thùng” nữa) phù hợp với thời tiết mùa hè.

Tôi hỏi: “Lúc nãy thấy anh ăn mặc chỉnh tề thế, tưởng anh đi vào huyện gặp ai?”. Anh trả lời đại ý như sau: Tớ có thói quen một khi viết thư cho ai đó mà mình cảm thấy tôn trọng thì nhất thiết mình phải chỉnh tề, kể cả khi tớ viết thư cho vợ tớ. Khi mình chải tóc cẩn thận, ăn mặc chỉnh tề nghĩa là mình giữ thái độ tôn trọng họ, mặt khác khi mình chỉnh tề thì những suy nghĩ của mình cũng trở nên nghiêm túc và mình sẽ viết được đúng tình cảm dành cho người mình tôn trọng. Anh dắt xe đạp, đội mũ cầm lá thư ra bưu điện để gửi về cho ông bố vợ đáng kính của anh.

Tôi cứ nghĩ mãi về chuyện này. Riêng tôi thì tôi không làm được vì đối với tôi, tôi có thể viết bất cứ cái gì trong điều kiện viết tốt là được: yên tĩnh, có bàn ghế hoặc có tư thế, miễn là ghi kịp những suy nghĩ của mình mà không bao giờ nghĩ đến tư trang hay trang điểm thế nào. Làm được như anh thì đúng là chuyện khó học.

Sau này một số lần tôi gặp anh Hà Kim Doanh ở Phú Thọ. Trước khi nghỉ hưu anh là Phó Giám đốc một Sở nào đó (tôi không nhớ rõ Lao động hay Tài nguyên-Môi trường?). Có một ấn tượng dễ thấy là anh luôn giản dị, nhưng đặc biệt luôn nghiêm chỉnh tư trang.

h/ Thu hoạch được gì từ chuyến đi thực tế này

Một chuyến đi phát sinh “đột xuất” của chương trình đào tạo khi đó không hiếm lắm, khóa nào cũng có do yêu cầu nhiệm vụ mà nhà trường nhận được từ các cơ quan nhà nước. Tuy không được đi Tây Nguyên nhưng KT20AB có chương trình điều tra cơ khí hóa nông nghiệp… Tôi thấy đó là sự may mắn vì được đi quan sát thực tế mà không gắn với nội dung môn học nào - đó là bước đệm giúp chúng tôi đi thực tập tốt nghiệp 6 tháng tiếp theo sau đó.

Tôi nghĩ thu hoạch chính của chuyến đi này là những học hỏi thực tế và những trải nghiệm của người sinh viên năm cuối của chúng tôi. Các công việc được giao không cụ thể lắm nên mức độ hoàn thành không rõ ràng, không được đánh giá theo nhóm hay cá nhân. Tôi không rõ các báo cáo nộp cho các thầy có được ai quan tâm không vì ngay sau khi về trường là chúng tôi bước vào ôn thi 2 môn học thi và 2 môn kiểm tra cuối cùng của năm thứ 4.

Nhìn từ thực tế sử dụng và quản lý sinh viên, tôi nghĩ kiểu như chúng tôi được huy động đi tìm hiểu thực tế thì không hiệu quả lắm vì sinh viên đến các HTX trong huyện chỉ năm những số liệu cơ bản từ các bảng biểu thống kê tổng hợp sẵn. Đi hơn trăm người đến các xã thu thập số liệu rồi về nộp là xong thì dễ quá, không ai hướng dẫn phải tổng hợp hay phân tích gì. Ngay cả chúng tôi – nhóm ở huyện cũng gần như chỉ thu thập số liệu của huyện mà không phải làm báo cáo phân tích gì cả.

Một chuyện không thể không nói: các HTX đều giúp đỡ sinh viên rất nhiệt tình vì họ được đón tiếp sinh viên – khi đó trí thức trẻ là khách quý lắm – và chắc cũng được chỉ thị của huyện nên xã nào cũng hỗ trợ ăn ở, lương thực, rau xanh. Khi về xã lại còn cử người nấu cơm, chăm lo chỗ ở. Sinh viên đôi khi kiếm cá, cua cáy cải thiện thì gửi họ nấu giúp.

Đối với tôi, chuyến đi này rất quan trọng vì sau đó tôi lại được cử đi thực tập tốt nghiệp tại huyện Hải Hậu. Nhờ có nhiều trải nghiệm và số liệu đã thu thập được nên tôi có nhiều thuận lợi trong triển khai công việc TTTN. Tôi chắc chắn sẽ có những ghi chép cụ thể hơn về chuyến đi TTTN này vì có nhiều người trong lớp cùng đến Hải Hậu với tôi trong 6 tháng thực tập.

Tôi gửi ghi chép này lên blog của tôi để các anh chị em trong lớp cùng đọc và góp ý bổ sung thêm nhé. Trân trọng!

     



[1] Khuy măng sét (gốc tiếng phápmanchette) là một loại trang trí, được dùng để giữ cố định ở cổ tay áo sơ mi, có chức năng như cúc tay áo, nhưng không đơm liền vào mà tháo rời ra.

[2] Ông Nguyễn Đức Triều có quá trình công tác sau: 1961-1964: Học Trường trung cấp Nông lâm Trung ương, 1964-1971: Công tác ở Viện Khoa học Nông nghiệp Trung ương. Từ 1965-1971: Chỉ đạo sản xuất ở Kiến Xương, Thái Bình và Hải Hậu, Nam Hà. Năm 1974-1976: Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nông nghiệp huyện Hải Hậu. Năm 1986 - 1991: Bí thư huyện ủy Hải Hậu, Ủy viên dự khuyết Đảng Khóa VI (12/1986). Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX được bầu Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Từ 1/1997 - 11/2003: Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam khóa II, III

 

Thứ Bảy, tháng 5 16, 2026

Năm thứ 4 – Những môn học cuối cùng


Các năm học trước, tôi đã lần lượt ghi chép theo tên những môn học trong các kì hoặc theo nhóm môn học được dạy lên tiếp trong nhiều kì (như ngoại ngữ, thể dục, quân sự…). Dưới đây là ghi chép 4 môn học cuối cùng ở năm thứ tư để tạm dừng những kí ức trên ghế giảng đường trong quãng đời đại học của chúng tôi. Chuyện nhớ nội dung môn học nhiều hay ít cũng tùy theo từng môn, nhưng tôi thấy quan trọng hơn là những kí ức sâu lắng về những thầy, cô giảng bài. Lại cứ như thấy các thầy, cô đang hiển hiện trên giảng đường và chúng tôi - những sinh viên nghèo, đói khổ đang nghiêm túc dõi theo những điều các thầy, cô dạy. Tất cả đã thành những kỉ niệm. Các sinh viên xưa nay đã trở thành các ông, các bà, đa số đã không còn nhớ nữa. Tôi vẫn muốn dành chút suy tưởng để ghi chép về một thời không rực rỡ cho lắm nhưng không thể nói là “vô bổ” hay không đáng tự hào!

1. Môn học Kế hoạch nông nghiệp

Chúng tôi học môn Kế hoạch nông nghiệp vào kì 1 năm thứ 4 với số tiết là 90. Mấy anh KT18 nói môn học này không quan trọng, nhưng vì có nội dung đi thực tập giáo trình khu vực NTQD nên chúng tôi phải chú ý vì một trong những nhiệm vụ quan trọng trong đợt đi thực tập giáo trình ở Mộc Châu là phải xây dựng kế hoạch cho các đơn vị sản xuất của nông trường.

a/ Giáo viên giảng dạy

Có 2 giáo viên giảng bài: phần đầu là cô Thúy Mỹ (tôi chỉ còn nhớ tên), phần sau là thầy Doãn Xuân Sắc. Cô Thúy Mỹ có lẽ là con cán bộ sinh ra ở Hà Nội nên giọng nói “rất Hà Nội”: yểu điệu thục nữ trên đôi môi rất xinh xắn. Có thể nói cô Thúy Mỹ cô giáo đẹp nhất mà tôi được học hồi đại học. Cô có khuôn mặt rất khả ái, da trắng mịn, tóc hơi xoăn tự nhiên, ăn mặc toàn đồ đẹp, không hẳn là xa hoa nhưng có nét đài các rất rõ. Khuôn mặt sáng sủa, nét mày tự nhiên hợp với đôi mắt hơi to nhưng thùy mị. Thân thể cô nhỏ nhắn, không lộ đường nét phụ nữ vì kiểu ăn mặc của giáo viên kinh tế rất nghiêm trang kín đáo nhưng nhìn vào thấy toát lên vẻ sang trọng kiểu “quý bà” con nhà gia giáo. Cũng có hôm cô tết đuôi sam đôi lên lớp - kiểu đuôi sam ngắn và bộ tóc hơi xoăn nhìn vừa như tinh nghịch ngộ nghĩnh tiểu thư lại vừa sang chảnh khoe đời, rất hợp với kiểu áo sơ mi sáng màu có điểm những hoa xanh nhỏ. Khi dạy chúng tôi, cô Thúy Mỹ cũng khoảng hơn 30 tuổi, đã có con. Chồng cô là thầy Vũ Huy Chương - giáo viên dạy môn Thống kê, Khoa Kinh tế nông nghiệp, lúc đó đang đi nghiên cứu sinh tại CHDC Đức.

Giọng nói yểu điệu kiểu cách của cô Thúy Mỹ là nét đặc trưng nhất, đôi khi hơi uốn éo cầu kì một chút. Mấy anh lớn tuổi đi bộ đội về học bảo kiểu nói đó hợp với cách làm nũng của các cô gái nội thành (!). Riêng tôi không để ý lắm mà chỉ chú ý xem nội dung bài giảng cần tiếp thu để vài tháng tới còn biết quan sát khi đi thực tập giáo trình.

Thầy Doãn Xuân Sắc khi dạy chúng tôi khoảng 50 tuổi – một giáo viên già dặn, có nét nghệ sĩ khắc khổ. Thầy cao gầy, lưng hơi còm, đeo kính trắng trễ mũi, khi nhìn xuống chúng tôi bằng cách nhìn không qua kính, nghĩa là trễ cái kính xuống dưới mũi lộ 2 mắt bên trên kính. Thầy quê Hải Phòng, nghe nói trong gia đình khá giả vốn xưa là tư sản (?). Khi dạy thầy rất nhiệt tình nhưng hơi thở yếu, khi phát âm thấy rất rõ kiểu thở “hít vào” mệt mỏi và gấp gáp (chắc thầy có bệnh về phổi). Mặc kiểu xơ-vin quần ka ki rộng, bụng lép, ngực lép nên trông thầy mới khoảng 50 tuổi mà sao già trước tuổi. Dáng nghệ sĩ ở thầy là ở bộ tóc hơi dài, uốn lượn kiểu cách tự nhiên, hợp với khuôn mặt gầy, hóm hỉnh và trải đời.

Vào năm 1985, khi tôi đã là giáo viên của Khoa Kinh tế nông nghiệp thì gia đình cô Thúy Mỹ[1] đã chuyển công tác. Thầy Sắc cũng về hưu, sống ở Hải Phòng. Tôi có dịp gặp lại thầy Sắc[2] trong một dịp hội trường năm 1986, sau đó ít lâu thì nghe tin thầy ốm và mất ở Hải Phòng.

b/ Nội dung môn học

Thực sự tôi không nhớ rõ nội dung môn học này, còn láng máng còn nhớ về cách xây dựng kế hoạch đất đai sản xuất, kế hoạch ngành trồng trọt, kế hoạch ngành chăn nuôi, kế hoạch tài chính, kế hoạch phân phối sản phẩm…

Cách dạy môn này không tách hẳn nội dung theo mô hình kinh tế HTX hay NTQD mà thiên về tính chất kế hoạch ngành nông nghiệp: nhấn mạnh thời vụ, các nguyên liệu cho sản xuất, thu hoạch sản phẩm (tức là kế hoạch qua các giai đoạn sản xuất của ngành, mội giai đoạn tương ứng với mức yêu cầu và tiêu hao vật tư sản xuất, nhân công, kĩ thuật khác nhau).

Riêng môn học này cho đến nay tôi còn nhớ nhất là nội dung kế hoạch chu chuyển đàn gia súc – phần thầy Sắc dạy. Tôi nhắm mắt lại tưởng tượng vẫn còn thấy nhớ cái bảng nhiều hàng, nhiều cột mà thầy Sắc kẻ trên bảng đen. Có tới 13 cột và nhiều hàng, một kiểu bảng thể hiện ma trận. Đó là một ví dụ chi tiết về kế hoạch chu chuyển đàn lợn trong một đơn vị sản xuất, rất cụ thể về con số và cách tính toán những con số đó.

Cột đầu thầy kẻ hơi rộng, tiêu đề gạch chéo ghi dưới chéo là loại lợn, phía trên gạch chéo ghi là tháng. Đầu tiên liệt kê các loại lợn, mỗi loại lợn ứng với một hàng, gồm đực giống, nái cơ bản, nái hậu bị, lợn con mới đẻ (chưa cai sữa), lợn cai sữa và hàng cuối là đàn lợn thịt theo tháng. Sau cột đầu là 12 cột ghi từ tháng 1 đến tháng 12. Mỗi 1 ô trong bảng ma trận là số lợn kế hoạch. Như vậy nhìn vào số lợn chu chuyển sẽ tính được nhu cầu vật tư, lao động, thú y… theo từng tháng trong năm.

Để tính được những con số chi tiết trong từng ô, thầy Sắc phải giả định những con số tỷ lệ hao hụt (chết, loại thải…) của từng loại lợn để mỗi nhóm lợn khi dịch chuyển sang tháng tiếp theo phải trừ đi số hao hụt này. Ví dụ: một lợn đực cơ bản có thể phục vụ 10 nái cơ bản, tất nhiên số nái cơ bản mà < 10 thì cũng phải có một con đực cơ bản. Mỗi lứa lợn đẻ 12 con (theo số vú nhiều nhất của lợn nái), tỷ lệ hao hụt khi nuôi lợn bú sữa là 5%, sau 2 tháng là lợn cai sữa chuyển sang đàn cai sữa (thì phải trừ đi 5%). Lợn nái hậu bị được tuyển chọn từ những con lợn cái từ đàn cai sữa (hậu bị là nuôi tuyển chọn để thay thế hoặc bổ sung thêm đàn lợn nái cơ bản). Tỷ lệ từ cai sữa đến khi phối giống (tức là thành lợn cơ bản) chỉ vào khoảng 15%. Tỷ lệ thấp này chứng tỏ lựa chọn khắt khe bảo đảm đạt được con nái cơ bản tốt sử dụng nhiều chu kì kinh tế…

Cứ thế một bảng 13 cột, 7 hàng lần lượt có các con số ban đầu, rồi từ các giả định mà tính các số tiếp theo qua các tháng. Trừ cột tháng 1 được coi là giả định ban đầu, còn các cột tháng 2 đến tháng 12 đều phải tính theo các giả định về phối giống, chửa, đẻ, nuôi con, cai sữa… Vì thế để tính bảng này, thầy Sắc dạy lâu năm mà vẫn phải cầm giáo án để vừa ghi chép các con số từng tháng vừa trễ kính quay xuống nhìn chúng tôi để giải thích vì sao lại có con số đó. Chúng tôi vừa chép theo thầy, vừa cố gắng viết các ghi chú giải thích để về nhà còn biết vì sao lại tính được những con số trong bảng. Phải mất tới 2 buổi lên lớp thầy mới xong cái bảng chu chuyển quan trọng này (nghe các anh KT18 nói cô Mỹ không thích dạy mục này nên luôn dành cho thầy Sắc dạy).

Chuyện này tôi có một kỉ niệm nhỏ: Khi tôi đi bộ đội về làm giáo viên ở Khoa Kinh tế nông nghiệp là năm cuối 1984, lúc đó KT27 đang học bài kế hoạch chu chuyển đàn lợn. Một học sinh KT26 (sau này anh ta ở lại trường làm giáo viên) kể lại rằng có một thầy (trước học KT19) ở lại khoa làm giáo viên bộ môn kế hoạch. Khi thầy dạy cho KT27 bảng chu chuyển đàn lợn cự bị lúng túng mãi không xong, cứ ầm, ừ à… lẫn lộn khi giải thích các con số. Anh bạn KT26 khi đó đi dự giờ xung phong giải thích hộ thầy và thế là bảng chu chuyển đàn lợn đã được “thông qua” một cách trơn tru.

Hồi chúng tôi đi thực tập Mộc Châu thì tôi ở nhóm Xưởng chế biến sữa nên không sử dụng các nội dung chu chuyển đàn để làm kế hoạch. Chúng tôi chỉ tiếp thu bản kế hoạch cũ và tham khảo các định mức tiêu hao để lập kế hoạch chế biến 12 tháng trong năm. Nhưng chắc chắn các anh chị thực tập ở Trại chăn nuôi bò, trại lợn ở NTQD Mộc Châu phải sử dụng kiến thức này.

Môn học Kế hoạch nông nghiệp thi vấn đáp ngày 6-2-1979. Tôi còn nhớ các thầy, cô hỏi thi lớp KT20A ở một giảng đường khu CLB sinh viên. Tôi vào thi đầu tiên và khi lên trả bài, tôi không cần nhìn vào giấy chuẩn bị vì cũng đã thuộc các ý hỏi. Khi tôi trả lời thì cô Thúy Mỹ và một giáo viên trẻ KT18 tên Ch[3] ngồi nghe, nhưng không ai nghe mà cứ nói chuyện với nhau. Thấy tôi đã nói hết, cô Mỹ bảo còn gì nữa không và hỏi một câu không liên quan gì đến nội dung tôi đã trả lời. Trả lời xong thì cô bảo cho ra ngoài. Ngay khi đó tôi đã dự lượng được vấn đề không suôn sẻ vì không ai nghe tôi trả lời câu hỏi. Hơn nữa, thái độ thờ ơ của người hỏi là tôi biết đã không nghe được những câu trả bài của tôi. Kết quả là tôi chỉ được 6/10 – điểm trung bình của thang điểm 10/10. Đây là môn thi đầu tiên chúng tôi trải nghiệm hệ thang điểm mới 10/10. Điểm 6/10 là cách cho an toàn nhất của giáo viên (hơn 5 một chút nhưng chưa thể là 7 – điểm 7 là điểm khá), thường là cách cho điểm cho xong, kiểu thiếu trách nhiệm để không dám hạ xuống 5 nhưng cũng không dám hỏi thêm để cho người trả lời kiếm điểm 7.

Thi xong về tôi thấy lối hỏi thi khá vô cảm nên hơi chán nản. Vì tôi trả lời đầu tiên nên về KTX mới khoảng gần 8am. Tôi buồn bã lên sân thượng hóng gió. Trên sân thượng tôi gặp một anh bạn KT22 đang cầm vở học ôn thi và nói bạn ấy có lẽ sắp phải đi bộ đội. Hồi đó khóa 20 và 21 coi như sắp ra trường nên không bị gọi tuyển quân. Nghe nói có đợt tuyển quân từ sinh viên vào tháng 12-1978, vào đúng lúc chúng tôi đang thực tập ở Mộc Châu. Hơn 10 ngày sau, ngày 17-2-1979 xảy ra chiến tranh phía Bắc. Anh bạn lớp KT22 đã nhập ngũ trước đó mấy ngày, không biết anh bạn khi đó có phải lên biên giới không?

 

2. Môn học Tài chính, Tín dụng xí nghiệp nông nghiệp

Vào kì 2 năm thứ 4, chúng tôi học môn Tài chính, Tín dụng xí nghiệp nông nghiệp, thời lượng 90 tiết.

a/ Giáo viên giảng dạy

Thầy Đoàn Tử Lâm dạy chúng tôi cả 90 tiết. Thầy Lâm tốt nghiệp Đại học KT-KH, tương đương khóa KT7 của ĐHNN I. Quê thầy Lâm ở Đức Thọ, Hà Tĩnh. Thầy dáng cao vừa phải, người đậm, da trắng, râu quai nón cạo kĩ vẫn thấy rõ chân râu nâu đậm dưới cằm. Thầy có đôi mày rậm, mắt rất hiền từ, nói năng chậm rãi, từ tốn. Giọng đậm chất quê Hà Tĩnh nhưng thầy phát âm chậm, rõ từ, rõ câu nên ai cũng nghe và ghi chép được. Thầy dạy khá nghiêm túc, hơi cứng nhắc, ít chuyện ngoài lề. Thầy đẹp trai kiểu “cổ điển nhà nông lai thị thành” do da trắng, răng đều, lại râu quai nón nên khuôn mặt thầy rất ưa nhìn. Sau này tôi biết những chuyện nhiều sinh viên thích đến phòng tập thể chơi với thầy, nhất là các em nữ sinh quê Nghệ-Tĩnh, có em còn dám khen thầy đẹp trai trước mọi người. Khi chúng tôi học, các anh Lê Cao Bính, Nguyễn Văn Ngọc… hình như cũng đã quen thầy vì cùng đồng hương Nghệ Tĩnh, rất dễ gần.

Thầy cười rất hiền hòa nhưng khi lên lớp thầy ít cười. Cách dạy của thầy thư thả, từ tốn nói, viết bảng chữ đẹp nhưng thầy không viết nhiều. Giảng theo lối thầy đọc chậm vài lần để chúng tôi ghi chép cẩn thận, như sợ chúng tôi bỏ sót mất những vấn đề quan trọng của chính sách tài chính tín dụng trong nông nghiệp.

b/ Nội dung môn học

Thầy Lâm dạy chúng tôi về các chế độ tài chính tín dụng hiện hành đang vận dụng trong thực tiễn nông nghiệp. Tuy nhiên không giống như một số môn khác, thầy không tách thành chế độ tài chính tín dụng cho khối NTQD hay HTX mà lại đi vào khía cạnh ngành nông nghiệp như vận dụng chính sách tài chính tín dụng vào ngành nông nghiệp với những đặc thù của nó. Đại loại tôi còn nhớ có mục các khoản thu trong xí nghiệp nông nghiệp, các khoản chi, trong đó quan trọng nhất là chi phí sản xuất. Các quỹ và chế độ trích, sử dụng các quỹ, kế hoạch tài chính trong xí nghiệp...

Do học theo chế độ chính sách hiện hành nhưng chúng tôi không được tìm hiểu khi thực tập giáo trình. Học vào kì 2, là môn học cuối chuyên ngành nên khi đó không còn nội dung thực tập giáo trình. Có thể nói chúng tôi không rõ các chế độ chính sách mà thầy dạy trong thực tế diễn ra như thế nào. Tuy nhiên có một nội dung tôi lại nhớ rất lâu – đó là chính sách khấu hao tài sản cố định trong nông nghiệp.

Khấu hao tài sản cố định (TSCĐ) là cách thu hồi vốn đầu tư ban đầu để tái đầu tư TSCĐ mới và duy trì hoạt động của TSCĐ trong quá trình sử dụng. Khi TSCĐ hư hỏng phải thay thế thì dùng phương pháp khấu hao cơ bản (KHCB), còn để duy trì hoạt động của TSCĐ khi chỉ thay thế, sửa chữa từng phần TSCĐ thì dùng phương pháp khấu hao sửa chữa lớn (SCL). Lý do phải khấu hao SCL vì TCSĐ thường có nhiều thành phần và hư hỏng của chúng không giống nhau nên phải sửa chữa thay thế từng phần trong quá trình sử dụng. Khấu hao là một khoản mục của chi phí sản xuất. Trong hạch toán kinh tế, người ta dùng phương pháp khấu hao để bảo đảm quá trình sản xuất ổn định chi phí và không bị thiếu hụt nguồn vốn khi bù đắp đổi mới hoặc thay thế TSCĐ.

Thầy Lâm dạy rằng trong nông nghiệp có nhiều trường hợp không KHCB: ví dụ đường giao thông thì khi đã hoàn thành chỉ có sử dụng và khi đã đưa vào sử dụng thì chỉ khấu hao SCL (vì đường làm xong thì sử dụng mãi mãi, chỉ có hư hỏng phải sửa chữa chứ không thay thế). Chi phí khai hoang thiết kế đồng ruộng cũng không KHCB hiểu theo ý nghĩa ấy. Gia súc cơ bản cũng có khi không KHCB vì thường khi đưa vào sử dụng thì bọn gia súc hậu bị chuyển thành đàn cơ bản đều còn non trẻ nên trọng lượng thấp, khi thành đàn nái cơ bản thì chúng còn lớn lên rất nhiều. Do đó khi loại thải thì trọng lượng gia súc cơ bản có khi lớn gấp 2-3 lần so với lúc đưa vào khai thác, nếu bán thịt thì số tiền thu được thừa sức bù đắp giá trị gia súc cơ bản ban đầu.

Một nội dung khác thầy Lâm dạy rất chi tiết là về các phương pháp khấu hao TSCĐ trong nông nghiệp. Có nhiều phương pháp khấu hao: khấu hao theo năm sử dụng, khấu hao theo khối lượng công việc hoàn thành (các máy móc thời vụ cao), khấu hao theo năng suất vườn cây lâu năm, khấu hao theo sản lượng, khấu hao theo giờ công tác, khấu hao theo nhiên liệu tiêu hao… Khi đó thầy chưa dạy chúng tôi các phương pháp khấu hao nhanh (khấu hao theo số dư giảm dần[4] và khấu hao tổng số[5]) như các giáo trình đang dạy hiện nay.

Có nhiều điểm đặc thù trong nông nghiệp: ví dụ máy thu hoạch khoai tây mỗi năm chỉ sử dụng một số giờ nên có thể tính phương pháp khấu hao theo giờ hoạt động. Nói chung những máy móc hoạt động theo thời vụ nông nghiệp như máy thu hoạch, chăm bón… thì có thể áp dụng theo phương pháp này. Việc dùng phương pháp khấu hao theo kết quả thực hiện thì cũng có ý nghĩa như số giờ công tác. Người ta lấy tổng khối lượng công tác của máy móc (theo định mức kinh tế kĩ thuật) để tính ra mức khấu hao cho từng đơn vị khối lượng hoàn thành. Như vậy khi tạo ra nhiều khối lượng công việc hoàn thành thì khấu hao nhiều hơn và ngược lại. Điều đó cũng tương tự như phương pháp khấu hao theo nhiên liệu tiêu hao…

Ở môn học này chúng tôi biết TSCĐ trong nông nghiệp có những loại là gia súc cơ bản, vườn cây lâu năm. Có những chuyện thầy nói cho đến nay tôi vẫn còn rất nhớ, chẳng hạn khấu hao vườn cây cà phê vối lại có quy định tỷ lệ khấu hao SCL. Lý do vì cà phê vối (Robusta) có tán cành rộng nên khi tạo tán thời kì kiến thiết cơ bản rất công phu, vì thế cần có khoản trích để bù đắp chi phí xây dựng cơ bản và tái tạo trong quá trình sử dụng vườn cà phê. Cây chè cũng vậy, chúng có quá trình đốn phớtđốn đau khi XDCB và sử dụng. Đốn đau vườn chè được coi như một lần cải tạo vườn chè, tương đương chi phí SCL vườn cây, tạo tán theo những chu kì sản xuất nhất định.

Khấu hao theo năng suất cây trồng cũng khá đặc thù: đối với vườn cây lâu năm, năng suất cây trồng từ khi thu bói cho đến khi cải tạo trồng mới thường qua 3 giai đoạn: năng suất ban đầu thấp, tiếp đó cao dần và đạt đến cao nhất (max). Sau nhiều năm khai thác thì năng suất lại từ từ suy giảm theo tuổi của vườn cây. Người ta lấy mức năng suất trung bình định mức cả đời cây để tính mức khấu hao theo sản lượng, sau đó khi cây cho năng suất đến đâu thì trích khấu hao theo số năng suất mà cây đạt được. Rõ ràng những năm cây trồng cho năng suất thấp thì sản phẩm chịu khấu hao thấp, bảo đảm có chút ít dành dụm để tích lũy những năm đầu mới khai thác (có lợi nhuận). Nhưng khi năng suất cao thì khấu hao nhiều nhưng vẫn bảo đảm tích lũy vì sản lượng lớn nên doanh thu cao. Tuy nhiên mức khấu hao/đơn vị sản phẩm không giống nhau: khi năng suất thấp thì mức khấu hao/đơn vị sản phẩm thường cao và ngược lại khi năng suất cao thì mức khấu hao/đơn vị sản phẩm lại thấp. Người ta thường có rất nhiều cơ chế điều chỉnh để bảo đảm ổn định chi phí, giá thành và tích lũy khi khai thác vườn cây tùy theo đặc điểm sản xuất của chúng.

Như thế tôi nghĩ người ta đã tổng hợp và quy định thành nhiều phương pháp khấu hao theo thực tế sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên trong thực tế rất khó thực hiện, đa số chỉ hướng dẫn sử dụng phương pháp khấu hao theo thời gian. 

Đối với thầy Đoàn Tử Lâm và môn học của thầy thì tôi còn có nhiều kỉ niệm sau này. Do cơ duyên công việc: khi được phân công về khoa Kinh tế nông nghiệp ĐHNN I công tác, ban đầu tôi được phân công dạy môn Tài chính nông nghiệp (khi đó thầy Lâm đã chuyển công tác, là Trưởng phòng Tài vụ của trường ĐHNN I, anh Nguyễn Đăng Hợp khi đó là nhân viên của thầy Lâm). Người ta cũng đã đổi tên môn học từ Tài chính tín dụng xí nghiệp nông nghiệp thành Tài chính nông nghiệp[6] (theo tên môn học của một giáo trình Liên Xô thời ấy). Tôi mới về khoa nên một giáo viên cũ đang dạy môn này xin chuyển sang môn khác và “đùn đẩy” cho tôi dạy môn học này. Nói ý “đùn đẩy” là vì môn này khó dạy hơn, lại có một người đang dạy hơi khó tính… Tôi tiếp quản môn học này và dạy cho đến khi tôi về hưu, suốt 35 năm công tác (tất nhiên tôi còn dạy gần 10 môn học khác cho các cấp đào tạo từ đại học đến cao học và nghiên cứu sinh tiến sĩ).

Thầy Lâm và tôi ở cùng nhà tập thể Nhà A1 cán bộ: tôi ở Phòng 6 tầng 3 còn thầy phòng 6 tầng 2. Trên dưới tầng nên cũng hay thăm nhau khi trà thuốc. Khoảng 1987, thầy đưa ông bố ra ở cùng (bố thầy tên Đoàn Tử Lương). Khi đó cụ Lương khoảng hơn 70 tuổi, trước khi nghỉ hưu là cán bộ ngành thuế ở Nghệ An. Cụ lại là người giỏi Hán Nôm nên tôi đã nhờ cụ giúp mấy việc: dịch thuật gia phả và sau này lấy lá số tử vi. Khi học cao học[7] ở Đại học Bách Khoa (năm 1988), chúng tôi học được phần mềm máy tính lấy lá số tử vi. Cụ Lương không tin là máy tính làm được việc đó. Tôi đưa cụ ngày tháng năm sinh (theo âm lịch) để cụ lấy lá số tử vi. Cụ mất gần cả buổi mới tính xong lá số nhưng khi so sánh với lá số tử vi mà máy tính điện tử tính, cụ vô cùng ngạc nhiên khi thấy sự trùng khớp với cách tính của cụ.

3. Môn học Lịch sử Đảng CSVN

Môn Lịch sử Đảng CSVN thuộc nhóm môn học Mác Lênin, lại là môn học có nội dung thi tốt nghiệp. Môn học chỉ có 60 tiết, học vào kì 2 năm thứ 4 vì có ý tổng hợp kiến thức vận dụng chủ nghĩa Mác Lenin dành cho khóa cuối thi tốt nghiệp môn Lý luận chính trị Mác Lenin (tính cả môn Triết học 120 tiết và Kinh tế chính trị 240 tiết). Như vậy là có tới 400 tiết học về Lý luận Mác Lenin.

a/ Giáo viên giảng dạy

Thầy Đạm – một giáo viên đã lớn tuổi, chắc gần 60, giọng xứ Nghệ. Thầy Đạm đầu hói, mặt tròn, cười nói rất duyên, da hồng hào, thấp đậm, ăn mặc kiểu kí giả. Thầy có lẽ khi đó có vai trò lớn trong Đảng ủy nhà trường. Kiểu nói của thầy giọng tuyên huấn, nhưng rất hấp dẫn. Thầy gần như không viết bảng, thầy bảo chúng tôi kéo một cái bàn học sinh quay xuống rồi ngồi giảng, chỉ cử động đôi tay, khuôn mặt, nhất là miệng thì rất điêu luyện, nói kết hợp với cười, mà cười rất duyên, cười tự nhiên, sâu sắc, không “nhạt” tý nào. Câu chuyện dạy không có gì đáng cười và rất nghiêm túc, thế mà thầy giảng bài thì khuôn mặt thầy mắt sáng, tươi như hoa. Thầy có làn da căng trắng mịn, hồng hào khỏe mạnh. Nghe thầy giảng mới biết cái duyên làm thầy rất phù hợp. Chúng tôi được trải nghiệm nghe giảng môn Triết học: thầy Thủy rất vang giọng nói, nhưng khiêm tốn, thầy Trường tự tin nhưng biểu hiện triết bằng các ví dụ đời thường, môn Kinh tế chính trị thì thầy Công chuẩn mực, kín đáo và thầy Cấn hào hoa, phóng túng… Nay có thêm thái độ giảng đàng hoàng, tự hào, hơi chút kiêu hãnh về ca ngợi Đảng của thầy Đạm thì thật quý giá.

b/ Nội dung môn học

Nội dung Lịch sử Đảng thì không có gì đáng kể phải nhớ vì chuyện này chúng tôi được học, được nghe cũng như biết nhiều qua các sách báo nhiều lần. Có mấy nội dung thầy dạy tôi vẫn còn nhớ:

-       Thầy nói về việc Bác Hồ thành lập Đảng ở Cửu Long[8] Trung Quốc, Nghe nói mãi sau này mới “chốt” được ngày 3-2 là ngày thành lập Đảng (được chứ ban đầu chuyện này cũng có nhiều tranh luận).

-       Thầy nói về Đảng lãnh đạo phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh năm 1930 như là một cuộc tập dượt cách mạng. Hồi đó hình như đã xuất hiện khẩu hiệu “Trí, Phú, Địa, Hào – đào tận gốc trốc tận rễ.”[9]

-       Thầy nói về Đảng lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám “cướp chính quyền”[10] về tay nhân dân. Lúc đó trong nước có nhiều Đảng nhưng không phải Đảng nào cũng làm được. Chỉ có Đảng của Bác Hồ biết nắm lấy thời cơ đúng lúc và lãnh đạo thành công.

-       Thầy nói về việc giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương 1945 để thành lập Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác Lê nin là một kinh nghiệm quý báu[11]

-       Về công cuộc chống Mỹ cứu nước, tác phẩm “Dưới là cờ vẻ vang của Đảng…” của Tổng Bí thư Lê Duẩn đã tổng kết nhiều kinh nghiệm quý báu về tổ chức và xây dựng Đảng…

Thầy nói về chuyến đi được thăm và nghiên cứu lịch sử Đảng tại hang Pác-bó, Cao Bằng. Đoàn đi có nhiều người nước ngoài. Các thầy thì vừa quan sát, vừa ghi chép theo thuyết minh, vừa cố nhớ những nơi Bác Hồ nằm trong hang lạnh, nơi câu cá,… Khi thấy các phóng viên nước ngoài dùng máy ảnh chụp hình, thầy bảo: “Thấy người nước ngoài “nghe đến đâu thì chụp ảnh đến đó, người ta văn minh hơn nhiều quá”… Mình thì vừa nghe thuyết minh, vừa ghi chép và cố nhớ hình ảnh… Đúng là có công cụ hiện đại thì nghiên cứu dễ dàng biết bao”.

Giữa tháng 5, toàn khóa 20 có kế hoạch đi thực tế đột xuất, vì thế môn này phải học gấp để thi vào ngày 28-5-1979, cả khóa 20 thi viết chung 1 đề. Sau khi thi xong, 2 lớp KT20 đi Hải Hậu, Hà Nam Ninh 1 tháng. Khi đi thực tế Hải Hậu về trường mới học tiếp và thi các môn còn lại của kì 2 năm thứ 4.

Môn này thi viết, tôi đạt kết quả khá (điểm 7/10).

 

4. Môn học Chính sách đất đai ở Việt Nam

Hình như người ta bổ sung môn học này vào chương trình và KT20 là khóa được học đầu tiên. Môn học có 30 tiết, thuộc nhóm các môn kiểm tra.

a/ Giáo viên giảng dạy

Thầy Trần Văn Hức, quê Vĩnh Phú dạy. Nghe nói thầy Hức mới chuyển về trường (từ một cơ quan nào đó của địa phương) để dạy cho ngành QLRĐ mới thành lập ở trường. Phải nói là thật khó tả về thầy Hức: nhiều tầm thước, hơi đậm, mặt vuông, da trắng, mũi hơi to (không có dáng trí thức). Tuy nhiên lối giảng của thầy Hức rất độc đáo: thầy là cả kho chuyện cười, cười cả lớp, học mà vui như nghe kể chuyện.

b/ Nội dung môn học

Đến nay tôi hầu như không còn nhớ gì, có lẽ thầy mô tả chính sách đất đai khi đó ở Việt Nam, lơ mơ nhớ có những liên hệ chính sách đất đai của thời phong kiến… Nhưng về các chuyện cười của thầy thì vẫn nhớ - kiểu các “giai thoại” khi nghe thầy Hức giảng.

Tôi nghĩ nhiều người trong lớp còn nhớ về thầy Hức vì thầy có rất nhiều câu chuyện cười. Dường như đầu tiết và cuối tiết thầy luôn có một chuyện cười. Ngay cả trong tiết học thầy vẫn đưa được tiếng cười vào nội dung học nên tiết học của thầy vui nhộn và mọi người nghe rất háo hức. Thầy biết kết hợp sự khô khan của chính sách đất đai với những chuyện dân gian khôi hài để người nghe không nhàm chán.

Thầy nói về nhà thơ Bút Tre[12] có câu: “Con thuyền dịch đít sang ngang/ Bỗng nhiên thấy một cái làng thò ra”. Khi biết câu thơ này, ai cũng nghĩ Bút Tre đã viết về cái làng nhỏ ven sông quê mình. Rồi một câu khác: “Sông Hồng nước đỏ phù sa/Đỏ thì đỏ thật, thua da Bác Hồ”. Thầy nói Bút Tre có khả năng ẩn dụ thật tài tình…

Thầy kể chuyện “ông Bèn” lên làm vua. Một thầy giáo đọc một đoạn sử có ghi: “…sau khi đánh tan giặc Minh, ông bèn lên làm vua”. Thầy giáo hỏi một học sinh (đang không chú ý nghe giảng): “Em có biết ai làm vua khi ta đánh tan giặc Minh không?”. Cậu học sinh đáp: “Dạ thưa thầy, ông Bèn ạ!”

Chuyện cười thầy tưng tửng kể trước mỗi buổi vào học và có khi ngay giữa tiết như kiểu xả cười để bắt tay vào học. Anh Trần Duy Học tổ 1 chúng tôi rất khoái những chuyện cười của thầy. Mỗi tối mất điện lại lôi những chuyện cười của thầy ra kể với nhau trong phòng.

Thầy về hưu và ở khu gia đình dành cho giáo viên trường ĐHNN I. Sau đó thầy phải ngồi xe lăn sau cơn đột quỵ. Một vài lần tôi thấy vợ thầy đẩy xe đưa thầy đi dạo khu 4 hồ. Thầy ngồi xe, đôi mắt xa xăm nhìn thiên nhiên cây cỏ… Tôi thấy cảnh đó mà rất thương thầy. Thầy mất khoảng hơn mươi năm gần đây. Nghe nói khi thầy mất, tại tang lễ, thầy có bài từ biệt mọi người được ghi âm từ trước rất cẩn thẩn: thầy đã chuẩn bị cho chuyến đi xa chu đáo, kĩ càng.



[1] Vào 1997 tôi tham gia vào một đề tài cấp Nhà nước. Tôi được gặp lại cô Thúy Mỹ, cô khi đó làm ở Phòng Khoa học của trường Đại học KTQD và cũng gặp thầy Vũ Hy Chương, năm 1997 là GS TSKH, công tác ở Bộ Khoa học Công nghệ.

[2] Tôi gặp lại thầy Sắc về dự Hội trường, có một tối chơi tổ tôm ở Khu tập thể A1 cán bộ.

[3] Thầy Ch. sau chuyển sang Bộ Lao động, nay vẫn sinh hoạt trong Hội Cựu giáo chức Khoa Kinh tế với chúng tôi.

[4] Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần (tiếng Anh: Reducing balance method hay Declining Balance Method) là phương pháp mà theo đó mức trích khấu hao lớn vào những năm đầu và giảm dần ở những năm tiếp theo.

[5] Phương pháp khấu hao tổng số (tổng số năm sử dụng, tiếng Anh: Sum-of-the-years' digits method) là một phương pháp khấu hao nhanh, ghi nhận mức trích khấu hao cao hơn vào những năm đầu đời của tài sản và giảm dần theo thời gian.

[6] Có một thời gian anh Nguyễn Đăng Hợp cũng dạy một số nội dung môn học này, nhưng ở một cơ sở đào tạo khác.

[7] Khi đó nước ta chưa có bậc đào tạo cao học, nhưng chương trình bồi dưỡng sau đại học 2 năm của ĐH Bách khoa được coi như chương trình cao học (đến 1992 Việt Nam mới có quy định pháp lý vệ bậc đào tạo cao học).

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập từ ngày 3 đến 7-2-1930 tại bán đảo Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc). Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản là Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn thành Đảng Cộng sản Việt Nam (do Nguyễn Ái Quốc chủ trì).

[9] Đây được coi là khẩu hiệu “nguy hiểm” vì không tạo được sự đoàn kết dân tộc trong đấu tranh giành chính quyền, Cho đến này vẫn còn nhiều giả thuyết về tác giả của câu khẩu hiệu này.

[10] Rất nhiều năm, lịch sử Đảng CS Việt Nam dùng từ “cướp”, kể cả trong các sách giáo khoa hồi chúng tôi học. Gần đây người ta mới đổi thành từ “giành chính quyền”

[11] Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố "tự giải tán" vào ngày 11/11/1945 thực chất là một chiến lược rút vào hoạt động bí mật, nhằm tránh sự chống phá của kẻ thù. Đảng đã lập ra Hội Nghiên cứu chủ ngĩa Mác để công khai tuyên truyền tư tưởng, đường lối cách mạng và lãnh đạo quần chúng trong tình hình mới. 

[12] Bút Tre (19111987), tên thật Đặng Văn Đăng, quê Phú Thọ, là nhà thơ theo trường phái dân gian, phong cách thơ độc đáo, sáng tạo và giàu sức lan tỏa. (Theo https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%BAt_Tre).