Hiển thị các bài đăng có nhãn Làng xã - Dòng họ - Gia đình: Những giá trị di sản. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Làng xã - Dòng họ - Gia đình: Những giá trị di sản. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, tháng 9 21, 2025

Ông nội tôi – vị Tộc trưởng Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm

 Nhân 86 năm ngày mất ông nội tôi 28/7/1939 (Kỉ Mão) - 28/7/2015 (Ất Tỵ). Các tư liệu được trích tại Phúc Ấm Lê Hữu tộc tôi đã viết 2021

1. Thông tin trang phả

1.1 Nguyên văn


Trang phả của ông và dịch nguyên văn

 

Thứ Bảy, tháng 9 06, 2025

Thử bàn về Giả thuyết về Thượng Tổ của cụ Khởi Tổ Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm

 

Dòng họ Lê Hữu sống tại Phúc Ấm căn cứ theo Tộc phả đã từ khoảng 350 năm trước đây. Từ những khảo cứu trên kết hợp với tư liệu Tộc phả được lưu giữ đến nay, chúng tôi xin trao đổi một số thông tin để làm rõ hơn sự cư trú lâu đời của Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm, từ đó có thêm cơ sở để tiếp tục khảo cứu trong quan hệ hợp phả với đại gia đình họ Lê cả nước.

1.  Nơi phát tích của Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm

Tính đến nay (năm 2021) Dòng họ Lê Hữu tại xóm Phúc, làng Phúc Ấm đã có 14 đời được trực tiếp ghi chép và cập nhật. Tại Phúc Ấm còn những di sản quan trọng: Khu mộ cụ Khởi Tổ (Đời Thứ 1) và mộ của những vị Tiên tổ các đời sau. Cuốn phả Hán Nôm được biên chép đầy đủ từ đời Khởi Tổ đến nay. Tổng hợp từ Tộc phả cho thấy Dòng họ Lê Hữu đã định cư ở Phúc Ấm từ khoảng 1670 ± 10 (Thế kỷ XVII) đến nay đã liên tục khoảng 350 năm. Từ sau năm 1950 xuất hiện sự định cư của người Dòng họ Lê Hữu ở địa phương khác (do thoát ly khỏi quê hương đi kháng chiến, đi học tập và công tác...). Phúc Ấm được coi là nơi phát tích để phát triển sau này của Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm tại các địa phương khác trong cả nước.



Ảnh 1: Vài nét về niên đại các vị Tộc trưởng



Ảnh 2: Sự truyền ngôi các vị Tộc trưởng 350 năm qua

 

2. Các giả thuyết về Thượng Tổ của cụ Khởi Tổ Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm

Cụ Khởi Tổ Dòng họ Lê Hữu từ đâu đến lập nghiệp tại Phúc Ấm là câu hỏi chưa được khảo cứu. Chúng tôi thấy có những giả thuyết sau về Thượng Tổ[1] cụ Khởi Tổ:

a/ Nếu trước thời Ngô Quyền, ở Đông Sơn, Thanh Hóa có Lê Sương và Lê Ngọc thì cũng có thể coi đây là một giả thuyết về Thượng Tổ của Dòng họ. Hơn nữa, làng Phúc Ấm chỉ cách Kinh đô Trường Xuân (Đồng Pho) chỉ 2-3km thì rất có thể thời đó đã có người họ Lê ở Phúc Ấm (cũng như có người họ Lê ở Cổ Định, Đồng Pho, Hoàng Lạp...). Đây là một giả thuyết không thể bỏ qua.

b/ Trong phả họ Lê của vị Tổ Lê Đột ở Phong Mỹ (Xuân Tân, Thọ Xuân) có nói rõ về một "Chi Đồng chiêm" ở Đông Văn, Đông Sơn. Đông Văn chỉ cách làng Phúc Ấm khoảng 3km về phía Đông. Biết đâu nhánh này có người đã di cư về Phúc Ấm để sống?

c/ Tại các địa phương khác trong vòng bán kính 10km đều có Dòng họ Lê nói chung, Lê Hữu nói riêng. Những địa danh được coi là làng cổ (đã tồn tại từ hơn 1000 năm) như Cổ Bôn, Cổ Định, Hữu Bộc, Đồng Pho,... đều có người họ Lê Hữu. Như vậy, Lê Hữu từ Phúc Ấm tại sao lại không thể có từ thời các làng cổ trên?

d/ Các biến cố lịch sử thời Tiền Lê (khi nhà Lý lên ngôi) và thời Hậu Lê những năm Nhà Mạc, Nhà Tây Sơn, Nhà Nguyễn có liên quan gì đến sự ly tán, mai danh, ẩn tích... của dòng Hoàng tộc và quan lại họ Lê đến ở các vùng quê héo lánh? Đây cũng nên coi là cơ sở để xem xét khảo cứu.

3. Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm trong quan hệ với các Dòng họ khác

Tại xã Đồng Tiến, hiện làng nào cũng có người mang họ Lê Hữu (chẳng hạn gia đình ông Lê Hữu Nghênh ở Đồng Xá, gia đình ông Lê Hữu Khu ở Đồng Vinh, gia đình ông Lê Hữu Quyền ở Trúc Chuẩn). Các xã quanh làng Phúc Ấm (Đồng Thắng, Đông Hòa, Đông Yên, Đông Phú, Đông Nam) cũng đều có người mang danh Lê Hữu.

Trong làng Phúc Ấm còn có nhiều họ Lê khác tên đệm như Lê Văn, Lê Đình, Lê Công, Lê Quang, Lê Đăng... Các tên đệm khác nhau được coi như các phái hoặc chi họ khác nhau. Cùng với các họ khác như Nguyễn (với các đệm Hữu, Đình, Văn...), Hoàng, Vũ, Đỗ... họ Lê chung sống rất hài hòa bình yên hàng trăm năm qua tại làng Phúc Ấm.

Cũng tại Phúc Ấm hiện có 3 Dòng họ mang danh Lê Hữu (như gia đình ông Lê Hữu Khươi ở xóm Thọ; ông Lê Hữu Tự ở xóm Quý). Tuy nhiên trong 80 năm qua không thấy quan hệ gì với nhau về phả và sinh hoạt Dòng họ. Đây cũng là điểm chưa được khảo cứu về nguồn gốc của 3 Dòng họ mang cùng danh Lê Hữu trong cùng một làng. Chính vì thế, bản Tộc phả này được định danh đầy đủ phải là Dòng họ Lê Hữu tại xóm Phúc, làng Phúc Ấm để phân biệt với 2 dòng họ Lê Hữu khác cùng làng, một ở xóm Thọ, một ở xóm Quý. Địa danh xóm Phúc để nói rõ thổ cư các vị Tộc trưởng và nơi có Từ đường Dòng họ. Tuy nhiên, để viết gọn lại và thống nhất với Lời Tựa bản phả Hán Nôm là Phúc Ấm Lê Hữu tộc, chúng tôi gọi tắt là Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm.

Như vậy, từ đơn vị cư trú độc lập (làng, xóm) cho đến đơn vị hành chính (cấp xã) đã cho thấy sự tồn tại riêng biệt, đồng thời của những người Dòng họ khác tên, khác đệm, thậm chí cùng đệm. Mỗi Dòng họ hiện nay được liên hệ ngày càng phổ biến qua các hoạt động sinh hoạt Dòng họ, các nghi lễ cúng tế, chăm sóc mồ mả... Tính riêng biệt với các đặc trưng của từng Dòng họ tạo thành sự phong phú về sinh hoạt cộng đồng trong quan hệ xóm giềng luôn là điểm mạnh của làng Phúc Ấm có truyền thống đoàn kết từ nhiều trăm năm qua. Truyền thống đó ngày nay đang được phát triển trong sự liên hệ mang tính tổ chức chặt chẽ của chính quyền các cấp. Ngày nay, mỗi người mang Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm luôn tự hào về nơi phát tích, tự hào về Dòng họ để tùy hoàn cảnh và điều kiện của mình mà hướng về cội nguồn với lòng thành kính trong tâm linh, với niềm tin về sự phát triển quê hương ngày càng tốt đẹp.

 



[1] Thượng Tổ: những vị sinh ra cụ Khởi Tổ.

CÁC CỤ KHỞI TỔ DÒNG HỌ LÊ HỮU PHÚC ẤM

Nhân ngày giỗ cụ Ông và cụ Bà Khởi Tổ (hay Đời Thứ nhất), ghi chép dưới đây cơ bản từ thông tin Tộc phả Lê Hữu Phúc Ấm.

 

1. Thông tin trang phả

1.1 Nguyên văn

Ảnh trang phả

Ảnh trang phả viết về Đời thứ nhất

 

Dịch từ trang phả Hán tự

        Đệ Nhất đại tự Pháp Nghị

        Thất nguyệt thập tứ nhật kỵ

        Táng tại Cồn Nguộc

        Tỷ hiệu Ân

        Thất nguyệt thập tứ nhật kỵ

        (Sinh hạ)

    Tự Pháp Nghĩa

    Tự Pháp Diệu

    Tự Phúc Trực

 

1.2 Dịch nghĩa

Cụ Đời Thứ 1 có tên tự[1] là Pháp Nghị, mộ táng tại Cồn Nguộc, ngày giỗ là 14-7. Vợ cụ tên hiệu là Ân, ngày giỗ 14-7.

Các cụ sinh hạ: Trưởng nam[2] tên tự là Pháp Nghĩa, thứ nam tên tự là Pháp Diệu và thứ nam (út) tên tự là Phúc Trực.

2. Phân tích, bổ sung, cập nhật thông tin

Các thông tin về cụ Đời Thứ 1 (Khởi Tổ) ngắn gọn, giản dị nhưng rất quan trọng. Việc trang phả có được đầy đủ như trên là rất quý giá bởi thông tin đó làm rõ vị Khởi Tổ của Dòng họ Lê Hữu cư trú tại Phúc Ấm được tính từ đây.

Vợ cụ ở trang phả chỉ ghi hiệu là Ân, nhưng trong bia mộ ghi rõ Lê Lệnh thị[3] hiệu Từ Ân đã làm rõ cụ bà cũng mang họ Lê, thuộc dòng dõi gia đình danh giá. Các cụ đều có ngày mất là 14-7 (hội kỵ).

Tên tự cụ Khởi Tổ là Pháp Nghị, vợ cụ tên hiệu là Từ Ân. Pháp (法) nghĩa là phép tắc, gương mẫu, khuôn pháp, nghiêm túc, khéo léo (có thuật, có tài ăn nói, xử thế). Nghị (議) mang ý nghĩa nghị luận, bàn luận, sắp đặt trước. Ân (恩) có nghĩa ơn, ân cần, ân trời. Chồng tên tự là Nghị, vợ tên hiệu là Ân, các con có tên tự là Nghĩa (義): có nghĩa, tình nghĩa; Diệu (妙): kỳ diệu và Trực (直): thẳng thắn, trung trực. Nghị – Ân; Nghĩa - Diệu – Trực là những suy tôn của đời sau cho các cụ Đời Khởi Tổ thật nhiều ý nghĩa sâu sắc.

Thông tin mộ phần và bia mộ

Tại phả có ghi mộ các cụ Khởi Tổ táng tại Cồn Nguộc. Thực địa 2021 tại Cồn Nguộc, mộ các cụ Khởi Tổ được giữ gìn nguyên vẹn, tôn tạo uy nghi. Mộ đã được tu tạo và bồi đắp nhiều lần nên đây là ngôi mộ cao, to nhất ở phần chính giữa Cồn Nguộc.

Ảnh bia mộ cụ Ông-Bà Khởi Tổ: mặt trước (trái) và mặt sau (phải)


Nguyên văn văn tự trên bia

        Mặt trước

        Lê Hữu tộc bia

        Nhất đại Khởi Tổ Lê Quý công tự Pháp Nghị

        Tỷ Lê Lệnh thị, hiệu Từ Ân.

        Thất nguyệt thập tứ nhật hội kỵ.

        Mặt sau

        Ất Sửu niên, nhị nguyệt thập tam nhật tu tạo bia.

 

Dịch nghĩa văn tự bia

        Mặt trước

        Bia Dòng họ Lê Hữu

        Đời Thứ 1 Khởi Tổ Lê Quý công tên tự là Pháp Nghị;

        Vợ: Lê Lệnh thị tên hiệu là Từ Ân. Giỗ 14-7 hội kỵ (cùng ngày).

        Mặt sau

        Tu tạo bia ngày 13-2 Ất Sửu.

Bia khẳng định rõ ràng sự suy tôn Khởi Tổ. Cụ bà Khởi Tổ cũng người họ Lê, "Lệnh thị" khẳng định thêm ý nghĩa quan trọng của gia đình cụ bà. Các cụ có gia sự tốt đẹp, được ca ngợi qua các từ Quý công, tự Pháp..., Lệnh thị, hiệu Từ... (các từ dành cho người sống thọ, hưởng phúc, gia thế yên ổn, phát triển).

3. Niên đại, bối cảnh xã hội

Các thông tin trên không thể có căn cứ để xác định niên đại một cách rõ ràng. Tuy nhiên, xét về phả, thông thường cách tính mỗi đời là khoảng 20-35 năm (tùy theo từng đời), suy ra cụ Khởi Tổ sinh khoảng 1670 ± 10, mất khoảng 1725 ± 10, tức cụ sinh cách hiện nay khoảng 350 ± 10 năm (Xem thêm bài Nhìn lại lịch sử phát triển Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm – Phần thứ hai). Từ đó xác định các biến cố liên quan đến thời đại, đến bối cảnh lịch sử đời Khởi Tổ. Vào thời đó, lịch sử đất nước ở vào thời Lê Trung Hưng[4] nhà Hậu Lê. Cụ Khởi Tổ đã chọn Đông Sơn làm nơi lập nghiệp, lấy Phúc Ấm để an cư, coi là quê hương để cư trú khoảng 350 năm qua (Xem thêm Bài Làng Phúc Ấm... Phần thứ hai).

4. Giá trị đóng góp

Đây là dấu mốc khởi đầu cho Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm. Hồng phúc các cụ để lại là Dòng họ Lê Hữu phát triển liên tục, cư trú an lạc tại làng Phúc Ấm kéo dài suốt 350 năm qua.

5. Giá trị di sản

- Nguồn gốc Dòng họ

Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm được minh chứng rõ ràng, đặc biệt chứng tích mộ các cụ Khởi Tổ, Khu mộ Cồn Nguộc cùng các ngôi mộ của Dòng họ suốt hơn 3 Thế kỷ.

- Về sự hội mộ, hội bia và hội kỵ

Các cụ đã được an táng cùng nhau trong một ngôi mộ đất đắp to có ý nghĩa được tôn giữ cho mai sau sự ổn định, tập trung, dễ nhận biết, dễ tìm kiếm trong không gian tưởng niệm. Ngay nay, trong quy tập hoặc xây dựng mới, rất nhiều gia đình, dòng họ cũng đang thực hiện để các cụ ông - cụ bà cạnh nhau theo nguyên tắc "nam tả, nữ hữu" trong các nghĩa trang hay các khu mộ phần gia đình. Việc các cụ xưa đã biết và thực hiện điều này cho thấy tư duy về tầm nhìn mang giá trị lâu dài, bền vững.

Việc hội kỵ cũng là điểm đặc biệt hiếm và may mắn. Tại phả và bia mộ đều nêu rõ sự hội kỵ 14-7. Cũng như cách thể hiện hội mộ và hội bia, việc hội kỵ có giá trị quan trọng về thông tin để sự hiếm có này trở thành sự kiện dễ nhớ, dễ thực hiện nghi lễ khi Dòng họ cùng tôn kính Đời Khởi Tổ, đồng nghĩa với việc cùng tôn kính cả 2 cụ, cùng tưởng nhớ về cả cụ ông và cụ bà. Sự hội mộ, hội bia, hội kỵ không chỉ thể hiện tính độc đáo có tư duy chủ kiến hướng về dài lâu mà còn sự khôn khéo về lý lẽ, sự tinh tế về hành lễ, sự hợp nhất kính trọng tôn thờ giới (không phân biệt nam nữ), không bị phân tán không gian, thời gian... Chúng tôi đánh giá cao điều này trong việc nhất quán, thống nhất tạo sức tập trung tưởng nhớ cội nguồn, tập trung trong thực địa, trong ý chí, trong Tộc phả...

Ngày giỗ cũng rất đặc biệt: 14-7. Trong dân gian, tháng 7[5] là tháng báo hiếu. Quan niệm Rằm tháng 7 là báo ơn sinh thành: “Cúng cả năm không bằng Rằm tháng 7”. Ngày 14 là ngày trước Rằm, ngày mà nhà nhà chuẩn bị cúng tế tổ tiên, đốt hàng mã cho người đã khuất, tế cô hồn... Với không khí chung đó, ngày giỗ các cụ Khởi Tổ thật nhiều ý nghĩa.

Di sản từ các cụ Khởi Tổ mặc dù giản dị ở phần phả, phần bia, phần mộ nhưng các yếu tố Đời Thứ 1 bảo đảm sự trường tồn, phát triển và bền vững của Dòng họ Lê Hữu.

6. Những điểm chưa khảo cứu được

- Cụ Khởi Tổ từ đâu đến?

Trong Lời Tựa cuốn phả gốc, ông Lê Hữu Đát có ghi "Tổ tôn ngưỡng Đông Sơn chi thịnh khí, tư Phúc Ấm dĩ an cư"... đã làm rõ thêm việc cụ Khởi Tổ chọn Đông Sơn, Phúc Ấm là nơi cư ngụ, là nơi có đất thịnh để ổn định và phát triển Dòng họ. Điểm quan trọng là khoảng 350 năm qua, Dòng họ vẫn duy trì sự cư ngụ và phát triển tại nơi lựa chọn ban đầu này. Trong văn hóa và lịch sử, Đông Sơn là một trong những nơi sinh sống của người Việt cổ (di chỉ trống đồng Đông Sơn, Văn hóa Đông Sơn) và Dòng họ Lê là một trong 3 dòng họ lớn nhất của Việt Nam có nguồn gốc cư trú lâu đời tại Thanh Hóa. Suy ra, cụ Khởi Tổ rất có thể là một chi dòng họ Lê tại Thanh Hóa khi đó đã sống ở Đông Sơn hoặc lân cận và đã đến khai hoang lập ấp tại Phúc Ấm (Xem thêm các bài ở Phần thứ hai).

- Bia mộ được lập mới, vậy trước đó có bia cũ?

Các cụ Khởi Tổ đã mất cách đây khoảng 300 năm, việc lập bia chắc chắn được tôn tạo từ các đời sau. Trên bia mộ còn ghi được ngày tháng năm tu tạo. Đó là ngày Xuân mùa Thanh Minh tảo mộ. Ất Sửu không chắc chắn được niên đại, nhưng trên thực địa, đây là bia đá to, chữ khắc hai mặt đẹp, rõ nét, đường bệ, nghiêm trang. Mặc dù được chôn sâu chìm chỉ hở đầu bia nhưng khi tôn tạo năm 1991 cho thấy may mắn còn nguyên vẹn. Căn cứ trên mức độ ăn mòn theo thời gian chúng tôi cho rằng bia được lập năm Ất Sửu, tức là năm 1925 (tất nhiên nếu có thể suy ra các năm Ất Sửu trước đó là 1865, 1805, 1745...). Trong điều kiện sự ăn mòn của mưa gió cho thấy bia rất có thể được tu tạo 1925, do Tộc trưởng Lê Hữu Đát (Đời Thứ 8) thực hiện. Các bia được ông Lê Hữu Đát lập cùng thời như bia mộ bà Nguyễn Thị Trạc (Đời Thứ 8), bia mộ Bà Cô Tổ, bia mộ ông Thuần Thủy (Đời Thứ 7)... cũng có mức độ rõ nét tương tự. Một thời điểm năm 1865 cũng đáng chú ý vì có liên quan đến cụ Tộc trưởng Phúc Huy (Đời Thứ 4). Tuy nhiên nếu cụ Phúc Huy có lập bia thì cũng đã bị mòn mất chữ, nên sau đó đã được ông Lê Hữu Đát đã tu tạo lại vào 1925 là hợp lý. Vậy ngày ghi tu tạo trên mặt sau của bia là 13-2 Ất Sửu chính là ngày 7-3-1925.

- Sự trùng hợp may mắn: Ai đã quy tập đưa các cụ táng về một mối?

Rất có thể cụ Phúc Huy, Tộc trưởng Đời Thứ 4 là người có công lao và có điều kiện dựng lại cơ nghiệp, mồ mả dòng tộc. Đối với cụ Phúc Huy thì cụ Khởi Tổ cách cụ 4 đời, nghĩa là cụ Phúc Huy là chắt nội (gọi cụ Khởi Tổ bằng ông cố/kỵ).

Việc quy tập về một mối ngày nay rất phổ biến, nhưng thời điểm xa xưa ấy mà táng đặt cả hai cụ trong một ngôi mộ là có chủ ý định hướng rõ ràng. Ngoài ra cũng có thể suy đoán việc này được quy tập từ nơi khác về Cồn Nguộc. Cụ Phúc Huy đã chọn được Cồn Nguộc làm Khu mộ của Dòng họ rất có thể từ sự kiện được truyền ngôn về Bà Cô Tổ. Đây là chứng cứ lấy Cồn Nguộc làm nơi linh thiêng cho Dòng họ và cất bốc mộ các cụ Khởi Tổ về đây làm dấu mốc cho Dòng họ về lâu dài.

*  *

*

 

Mỗi lần nghĩ về Dòng họ, mỗi lần thắp hương cúi đầu viếng mộ các cụ Khởi Tổ và các vị Tiên tổ khác, những người con trong Dòng họ Lê Hữu đều tưởng nhớ công lao to lớn của người Khởi Tổ và đều thầm nghĩ đến sự may mắn mà con cháu đời sau được hưởng phúc từ các cụ. Ẩm Hà Tư Nguyên (uống nước nhớ nguồn) là mỗi niềm thành kính của mỗi người con trong Dòng họ, dù đi đâu về đâu, sinh cơ lập nghiệp trăm miền đều luôn hướng về nguồn cội Dòng họ Lê Hữu, nhớ về nơi phát tổ Phúc Ấm, nhớ về những giá trị di sản cội nguồn còn vẹn nguyên từ thời cụ Khởi Tổ. Như một lời kính lạy, viễn tôn hậu sinh Đời Thứ 10 xin được sự phù hộ của các cụ Khởi Tổ và các vị Tiên tổ để ghi chép biên tập Tộc phả, mong có được nhiều điều bổ ích cho truyền thống Dòng họ.

Kính dâng ! 

 



[1] Tên tự và tên hiệu là cách gọi tên đã giải thích ở Phần thứ nhất. Một số vị có ghi rõ húy (như Đời Thứ 4, Đời Thứ 7, Đời Thứ 8). Trường hợp không ghi húy, nhất là các vị từ các Đời Thứ 1 – Đời Thứ 6 thì tên tự và tên hiệu được đời sau suy tôn người đã khuất (hiểu như tên hèm hay tên thụy) dùng để xưng khi tế lễ. Tuy nhiên một số trường hợp có thể lại chính là tên tục (tên thường gọi).

[2] Cách viết trong trang phả cũ: phía phải là giới nam: từ trưởng đến thứ, tính từ giữa ra bên phải; trái là giới nữ: trưởng đến thứ, tính từ giữa ra phía trái. Đây là cách viết phân rõ được thứ tự theo giới nhưng không xác nhận được thứ tự sinh khi nhập cả 2 giới.

[3] Khi các vị dâu có thêm chữ Lệnh thị được hiểu là thông gia của Dòng họ Lê Hữu thuộc gia đình dòng dõi danh giá (gia đình có chức sắc, giàu có...)

[4] Thời Lê Trung Hưng nhà Hậu Lê. Cụ sống ở các đời Vua Lê Huyền Tông (1663-1671); Lê Gia Tông (1672 – 1675); Lê Hy Tông (1676-1705) và Lê Dụ Tông (1705-1729).

[5] Tháng 7 âm lịch (theo Phật giáo) nặng về báo ơn sinh thành, là tiết xá tội vong nhân, nhờ ơn đức Phật mà tất cả các vong linh bị đoạ trong chốn khổ đau được tế bạt, siêu thoát. Ở Việt Nam tháng 7 với đạo hiếu: báo hiếu cho tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Phật giáo quan niệm phải yêu thương tất cả mọi loài, kể cả những người không mồ không mả, chết không thờ tự hay còn gọi là cô hồn.

 

Thứ Ba, tháng 6 24, 2025

Anh trai tôi – Vị Tộc trưởng đời thứ 10 Phúc Ấm Lê Hữu tộc

 Kính dâng hương hồn Anh – nhân ngày giỗ Anh lần thứ 22

 

1. Thông tin chung

Tại trang phả của cha tôi có ghi rõ ngày sinh, năm sinh của ông Lê Hữu Đồ. Đây là bút tích của ông Lê Hữu Đát viết về cháu đích tôn. Hàng chữ chân phương, thẳng đứng, thể hiện rõ tâm thế của người viết là sự mãn nguyện, tự tin và tràn đầy hy vọng của người ông đối với cháu nội mới sinh. Tên Đồ có thể do ông Đát đặt cho cháu với mong muốn cháu trở thành "ông đồ". Từ năm 1935, ông Đát có thể chưa tưởng tượng được sự thay đổi của xã hội mới sau này, nhưng điều ông muốn đứa cháu sống bằng nghề trí óc thay cho nghề nông là điều ông đã suy nghĩ tổng kết rằng nghề nông không thể là nghề của cháu ông, tức là vị Tộc trưởng tương lai chỉ có thể phát triển và tạo được sự nghiệp bền vững cho Dòng họ bằng nghề phi nông nghiệp, phải bằng lao động trí tuệ.

Tên ông ở trang phả ông Lê Hữu Nhạn Đời Thứ 9

Nguyên văn chữ Nho phần liên quan đến tên của ông: Lê Hữu Đồ, sinh Ất Hợi niên, tam nguyệt thập thất nhật. Dịch nghĩa: Lê Hữu Đồ, sinh ngày 17-3 năm Ất Hợi


2. Phân tích, bổ sung và cập nhật thông tin

2.1 Nhận xét chung

Ông dáng người thư sinh, đeo kính cận, khuôn mặt sáng, ưa nhìn, trán cao thông minh. Tính tình hiền lành, ít nói, khiêm nhường, dễ gây thiện cảm với người tiếp xúc. Ông học giỏi, trong điều kiện học giao thời giữa chữ Hán và chữ Việt, tốt nghiệp cấp 3 năm 1955 và được Chính phủ cử sang Liên Xô học đại học từ 1956.

Ông là vị Tộc trưởng có học vấn cao nhất trong Dòng họ: được đào tạo bài bản ở Liên Xô từ đại học cho đến trình độ tiến sĩ và sau tiến sĩ. Ông công tác tại Bộ Xây dựng từ 1962 cho đến khi về hưu 1997, là Nghiên cứu viên cao cấp, cán bộ quản lý cấp Vụ, Viện nhiều năm ở Bộ Xây dựng.

Thứ Ba, tháng 6 03, 2025

Cha tôi – vị Tộc trưởng đời thứ 9 của Phúc Ấm Lê Hữu tộc (kì 4)

 Nhân ngày giỗ thứ 33 và năm sinh thứ 120 của cha tôi (Các tư liệu được trích tại Phúc Ấm Lê Hữu tộc tôi viết 2021)

 

6. Một số chuyện đáng nhớ

6.1 Chuyện ông đi đón dâu

Khi chịu tang bố, mẹ và vợ xong, qua mối lái[1] ông cưới bà Lê Thị Mỹ ở làng Bì, Cổ Định. Hôm đoàn đón dâu đến cây đa đầu làng Bì thì bị dân làng chặn lại và được yêu cầu trả lời một vế đối[2], nếu không đối lại được thì không cho vào làng đón dâu. Đây là tục có tính văn hóa có từ lâu ở quê. Làng Bì thuộc Cổ Định là làng cổ có từ thời Hùng Vương, Cổ Định có tới 24 tiến sĩ làm quan Triều đình, nổi tiếng là đất học xứ Thanh (xem thêm bài Làng Phúc Ấm). Vế đối ra là: "Cây đa làng Bì". Cái khó ở đây là kiểu chơi chữ khá oái ăm: "Bì" có nghĩa là da, tiếng địa phương gọi da là "đa" lại trùng tên cây đa - nơi cả đoàn đang đứng dưới bóng cây. Đoàn đón dâu không ai đối được, xin khất thì không cho nên bèn cử một người khỏe chạy về xin ý kiến các vị có học. Lúc này đã gần trưa mà đường thì xa (hai làng cách nhau khoảng 8 km). Người chạy về đến làng gặp được một số vị có học để xin ý kiến. May thay có ông anh rể họ[3] (là ông Nguyễn Hữu Quế, cha của ông Viên) giỏi chữ Hán nghĩ ngay ra vế đối và nói để người đó chạy vào xin dâu. Khi vào đến nơi đã quá trưa, đoàn đón dâu ngồi đợi dưới gốc đa mừng quá gọi làng ra nhận vế đối. Khi nghe vế đối: "Cái bụng xóm Phúc" người làng Bì đã vui vẻ chấp nhận ngay và khen vế đối chuẩn cả về thanh lẫn nghĩa đen, nghĩa chữ. Số là chữ Phúc (褔) còn có nghĩa (腹) là bụng. "Bì" đối với "Phúc": da đối với bụng (ruột), làng Bì mà đối với xóm Phúc là da đã bao được bụng, làng trùm lên xóm thì đã chuẩn mọi nhẽ. Cả hai họ hoan hỉ đón cô dâu từ làng "Bì - da" về xóm "Phúc - bụng" với điều bất ngờ thú vị của cả người đối, người trả lời như một câu chuyện nhân văn đáng nhớ trong cả hai làng. Nay ông Viên là người chứng kiến vẫn đang ở xóm Phúc còn luôn nhớ và kể chuyện này.

Cha tôi – vị Tộc trưởng đời thứ 9 của Phúc Ấm Lê Hữu tộc (kì 3)

 Nhân ngày giỗ thứ 33 và năm sinh thứ 120 của cha tôi (Các tư liệu được trích tại Phúc Ấm Lê Hữu tộc tôi viết 2021)


5. Giá trị di sản

5.1 Chứng kiến sự suy tàn và có tầm nhìn bảo tồn giá trị

Bối cảnh quê hương và sự tàn phá của văn hóa đã ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến gia đình và Dòng họ. Việc duy trì và gìn giữ được những gì còn lại trước những phá phách nghiêm trọng khi đó ở quê thật là một điều thần kỳ may mắn nhờ số phận và tâm niệm ý thức.

- Các tác động trực tiếp: gia đình bị quy là địa chủ trong Cải cách ruộng đất và bị đấu tố tinh thần, sau sửa sai thành trung nông (lớp trên). Phải triệt phá đồ thờ[1] trong nhà để không bị tiếng lạc hậu, mê tín trong chính sách cải tạo xã hội cũ, xây dựng đời sống mới. Điều đặc biệt quan trọng là đã truyền được ý niệm, niềm tin cho con cháu qua khơi gợi ý thức, khuyến khích học hành, truyền khẩu các câu chuyện quan trọng.

Nhờ khéo léo và may mắn, việc đối xử của Tộc trưởng trong giai đoạn đó vẫn giữ được các giá trị đặc biệt: Từ đường Dòng họ với các kiến trúc cũ từ 1917 (tu tạo 1929 và 1937)[2]; Khu mộ gia đình và một số bia mộ quan trọng; Giữ được gia phả và một số chứng tích từ các đời trước để lại. Có thể nói cả đời ông chống chọi sự phá hoại, ngăn cản các mất mát và tìm cách lưu truyền các giá trị.

Cha tôi – vị Tộc trưởng đời thứ 9 của Phúc Ấm Lê Hữu tộc (kì 2)

 Nhân ngày giỗ thứ 33 và năm sinh thứ 120 của cha tôi (Các tư liệu được trích tại Phúc Ấm Lê Hữu tộc tôi viết 2021)


4. Vai trò phát triển gia đình, Dòng họ

4.1 Quan hệ và nhận thức xã hội

Ông là người kiên cường, bền bỉ vượt qua Thế kỷ XX đầy biến cố đau thương. Các đóng góp của ông đối với địa phương và cộng đồng cũng chỉ như mọi người khác lúc bấy giờ là chịu đựng gian khó, tích cực tham gia các hoạt động địa phương, đi dân công, góp ruộng đất, trâu bò vào HTX. Tuy nhiên, ông đã biết vươn lên tích cực học hỏi, tích lũy kiến, thức tìm ra con đường tự giải quyết các vấn đề cho gia đình và Dòng họ.

Ông một mặt gìn giữ, kế thừa truyền thống gia đình, Dòng họ nhưng mặt khác chống mê tín dị đoan (bói toán, lên đồng...), tích cực hưởng ứng trào lưu sống mới, tiến bộ. Những năm 1936-1938 ông đã đi đầu trong phong trào cắt bỏ búi tóc[1]. Sau năm 1950 ông sớm biết thực hành lối sống vệ sinh: ngủ có màn, nhà có tủ gạc-măng-giê (garde manger – tủ chạn bát đựng thức ăn), thực hành ăn chín uống sôi...

Bằng những may mắn và khôn khéo, ông đã tránh được những "trận đấu tố" đau thương, đã đấu tranh kiên trì và hợp lý để được sửa sai thành phần gia đình[2] trong Cải cách ruộng đất từ địa chủ (loại 3) thành phú nông, rồi thành trung nông lớp trên để bảo đảm "sự trong sạch" chính trị cho gia đình và là con đường phát triển cho con cái.

Cha tôi – vị Tộc trưởng đời thứ 9 của Phúc Ấm Lê Hữu tộc (kì 1)

Nhân ngày giỗ thứ 33 và năm sinh thứ 120 của cha tôi (Các tư liệu được trích tại Phúc Ấm Lê Hữu tộc tôi viết 2021)


1. Thông tin trang phả

1.1 Nguyên văn

Ảnh chụp trang phả Phúc Ấm Lê Hữu tộc
Bản viết năm 1939

1.2 Dịch nghĩa

Vị Tộc trưởng Đời Thứ 9 là Lê Hữu Nhạn, sinh năm Ất Tỵ.

Vợ tên là Lê Thị Chi, sinh năm Kỷ Dậu, giỗ 6-Giêng.

Con trai: Lê Hữu Đồ, sinh ngày 17-3 năm Ất Hợi.

Vợ thứ là Lê Thị Mỡi.

Chủ Nhật, tháng 7 14, 2024

Phân hệ phái, chi, tiểu chi trong Dòng họ trong nông thôn

1. Hệ thống phân cấp theo sinh kỳ phát tộc

Theo thời gian, Dòng họ cứ nối dài sự tăng trưởng về số hộ, khẩu và mở rộng nơi cư trú. Để theo dõi được sự liên kết và phát triển Dòng họ cần tổ chức hệ thống phân chia thành các cấp. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên người Việt dựa trên quan niệm "thủy hữu nguyên, mộc hữu bản" nghĩa là nước có nguồn, cây có gốc để chia hệ thống thành 2 cấp chính là phái và chi. Phái (nhánh sông): nước chảy từ nguồn chia thành nhiều nhánh sông nhỏ. Chi (cành cây): mọc từ gốc, chia thành nhiều cành con.

Việc liên kết Dòng họ cứ phát triển mãi sẽ phải mở rộng hệ thống phân cấp. Những Dòng họ có phả tới 20 - 30 đời có thể dùng đến Phái - Tiểu phái - Chi - Tiểu chi, nhưng nếu đến 50-60 đời thì việc phân cấp rất phức tạp vì phải chia thêm các cấp nhỏ hơn. Sự quá phức tạp đó bắt buộc phải hình thành sinh kỳ mới tức là đến mức chi tiết nào đó thì hệ thống phân cấp cũ sẽ phải tạo thành hệ thống mới. Hệ thống mới sẽ lấy cấp phân chia cuối của sinh kỳ cũ làm gốc (đời khởi tổ) cho sinh kỳ mới.

Theo Phạm Thúc Hồng[1], một sinh kỳ phát tộc chia theo 12 cấp cho mỗi sinh kỳ như sau: 1/ Phái → 2/ Phân Phái  → 3/ Tiểu Phái → 4/ Chi → 5/ Phân Chi → 6/ Tiểu Chi → 7/ Tiết → 8/ Phân Tiết → 9/ Tiểu Tiết → 10/ Diệp → 11/ Phân Diệp → 12/ Tiểu Diệp. Hệ thống tiếp theo lấy cấp Tiểu Diệp để thành Thủy Tổ cho sinh kỳ 2...

Như vậy, theo lý thuyết, một sinh kỳ có 12 cấp, nếu phát triển Dòng họ thuận lợi thì khoảng 60 đời, tức khoảng 1200 – 1500 năm sẽ hết sinh kỳ thứ nhất[2]. Trong thực tế khó có Dòng họ nào tạo ra được phả liên quan 50-60 đời. Ngay cả ngọc phả, thế phả, các triều đại cũng chỉ kéo dài khoảng 300 – 400 năm. Ở Việt Nam, các Dòng họ có phả lâu đời nhất cũng chỉ khoảng 50 đời và thường rất hiếm. Các phả lớn ở Việt Nam đều có hiện tượng phân hệ sau một số đời (thường sau 4-5 đời). Phái, chi hay ngành (nhành) là tên gọi của các cấp không nhất thiết thống nhất mà theo tập tục địa phương. Chẳng hạn, họ Vũ[3] sau 5 đời thì có ngũ chi, rồi bát phái, họ Phạm[4] ở Đan Loan đến Đời Thứ 11 có 3 lần phân chi...

2. Sự hình thành đơn vị thờ cúng

Một đơn vị thờ cúng được hiểu là một tập hợp của những người cùng Dòng họ (cùng huyết thống) trong một địa phương do người dòng trưởng giữ vai Tộc trưởng tổ chức, cùng thống nhất các quy định thờ cúng và sinh hoạt trong Dòng họ. Các quy định được thống nhất trên cơ sở phong tục, truyền thống về phân phái, phân chi, tế lễ, Từ đường, mồ mả...

Tổ chức thờ cúng theo phái hoặc chi là những quy ước riêng của từng Dòng họ khi có những điều kiện nhất định, nhất là trường hợp có một số gia đình tách khỏi nơi cư trú cũ của Dòng họ để lập nghiệp ở địa phương mới. Các phái, chi khi quần tụ và phát triển mạnh ở nơi cư trú mới sẽ trở thành đơn vị tín ngưỡng độc lập, tổ chức thờ cúng tổ tiên theo truyền thống, cải biên truyền thống bằng những quy định mới phù hợp hơn với phong tục nơi cư trú mới về từ đường, mồ mả, gia quy... Tuy nhiên, khi Dòng họ cư trú ổn định và lâu đời trong một địa phương thường quy tụ tại Từ đường của người giữ vai Tộc trưởng.

Việc theo dõi và hình thành tộc phả, gia phả sẽ ngày càng phức tạp khi các Dòng họ có nhiều đời, nhiều hộ và nhiều nơi cư trú. Các quy ước trong phả được hình thành và phân chia hệ thống tùy theo điều kiện của từng Dòng họ. Không có sự thống nhất nào có thể hợp lý và tạo được mẫu mực cho mọi Dòng họ. Sự sáng tạo và những điều kiện thể hiện của mỗi Dòng họ trở thành sự đa dạng phong phú của văn hóa, được coi là những khảo cứu, tra cứu có tính lịch sử của dân tộc, các địa phương... Các khác biệt đó cho đến nay thấy ở sự phân hệ (tên gọi các cấp, quy định các đời) không thống nhất ở các phả.

3. Khảo cứu cội nguồn, khát vọng hợp phả

Do những biến cố trong lịch sử (chiến tranh, loạn lạc, thiên tai, cư trú...) việc nối tiếp của một Dòng họ trong quá khứ không được ghi chép liên tục và đầy đủ. Chính vì vậy kết nối phả đời sau với các đời trước, việc sánh chiếu các phả ở các địa phương khác nhau là chuyện phức tạp muôn thuở và luôn có sự băn khoăn, nghi hoặc của hàng trăm giả thuyết khi bàn luận hợp phả. Đó là chưa kể những biến cố phải "mai danh ẩn tích, đổi tộc thay tên" trong nhiều trường hợp vì sự sinh tồn. Hợp phả luôn là những giả thuyết gắn với truyền ngôn hơn là các chứng cứ trong thực tế. Khi cư trú tại một địa phương, các dòng tộc phát triển mạnh lên sẽ gặp bế tắc về sinh kế, do đó di cư tìm nguồn sống mới tạo ra sự phát triển các phái, các chi của Dòng họ tại nơi cư trú mới. Điều kiện sinh kế mới và sự xa cách với nơi cư trú cũ lâu ngày làm cho việc hợp phả trở nên khó khăn. Sau nhiều trăm năm sự liên lạc có thể không còn nữa làm mất đi sự liên kết Dòng họ. Đó cũng là sự phát triển tất yếu của xã hội và lịch sử. Do vậy, dù có cố gắng đến mấy và dù công nghệ phát triển đến đâu chăng nữa thì mỗi người, mỗi gia đình, mỗi Dòng họ đều có cội nguồn, nhưng sự theo dõi và liên kết chỉ có hạn. Lịch sử dân tộc Việt Nam đã có cội nguồn các vua Hùng với truyền thuyết "100 trứng" tượng trưng cho mọi người trong nước đều cùng một gốc, đều sinh trong một bọc nên gọi nhau bằng đồng bào (cùng bọc).

Khảo cứu cội nguồn là khát vọng chính đáng của mỗi Dòng họ. Từ những giả thuyết, những truyền ngôn, những văn tự lưu giữ... mà nhiều Dòng họ đã lần tìm ra cội nguồn phát tích. Tác dụng to lớn của những khảo cứu này là hiểu biết về tổ tiên, mở mang quan hệ Dòng họ, nâng cao niềm tự hào về Dòng họ, quê hương, đất nước. Mặc dù chứng tích có thể không nhiều nhưng sự bao dung, đồng cảm, chấp nhận thông tin cội nguồn luôn là những tín hiệu tích cực trong khảo cứu tổ tiên trên tinh thần "uống nước nhớ nguồn" của mỗi người con trong Dòng họ. 



[1] Nguồn: Phạm Thúc Hồng: Gia phả chữ Hán. Truy cập ngày 15/6/2021 tại  https://hophamvietnam.org/gia-pha-chu-han-va-gia-pha-thoi-nay

[2] Nếu một Dòng họ phát triển nhanh liên tục thì khoảng 3-5 đời sẽ cần một lần phân cấp. Trường hợp các nhánh không phát triển nhanh được là do nhánh có ít con trai hoặc có nhiều người vô tự (không có người nối dõi). Khi đó có thể phải 5-7 đời mới có một lần phân cấp. Mỗi sinh kỳ có 12 cấp tức là cần 36-60 đời, thậm chí tới 72 đời cho những dòng chậm phát triển (tức 12 cấp × 3 đời/cấp = 36 đời, 12 cấp × 5 đời/cấp = 60 đời, 12 cấp × 7 đời/cấp = 72 đời). Mỗi đời thông thường trung bình 20-25 năm. Vậy 36 đời tương đương 720-900 năm; 60 đời tương đương 1200-1500 năm và 72 đời tương đương 1440-1800 năm. 

[3] Theo tài liệu "Vũ tộc thế hệ sự tích" của Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Thế giới, 2004: Phả Dòng họ Vũ Mộ Trạch  ghi được tới 35-40 đời, gồm ngũ chi, bát phái.

[4] Theo Phạm Đình Hổ: Đường An Đan Loan Phạm gia thế phả. Trần Thị Kim Anh giới thiệu và chuyển ngữ. NXB Văn học, 2019 (trang 26).

Thứ Sáu, tháng 7 05, 2024

Làng Phúc Ấm - Một số giai thoại liên quan (Bài 3)

1. "Roọc Đồng Pho, Chùa Phúc Ấm"

Đồng Pho là lỵ sở mấy trăm năm của Cửu Chân, Ái Châu, là kinh đô một thời của "Hoàng đế" Lê Ngọc hẳn phải nổi tiếng là nơi có nhiều công trình kiến trúc quan trọng như thành lũy, trại lính, trại ngựa, chợ, chùa chiền, danh thắng... Về mặt địa hình, đây chắc chắn phải là nơi cao ráo có địa thế rộng rãi và nhất định phải có ưu thế về công - thủ, lưu thông và tập hợp quần cư đông đúc.

Tuy nhiên, do vị trí sát sông Gốm nên cũng như các làng xung quanh (Phúc Ấm, Đồng Xá, Trúc Chuẩn, Hữu Bộc...), Đồng Pho có nhiều vùng đất trũng gọi là roọc (rộc hay dộc) và vì Đồng Pho nhiều roọc nên mới được coi là một đặc trưng của địa phương.

Ở Đồng Pho có chùa Phúc Hưng, tuy nhiên, chùa Phúc Hưng mới có từ Thế kỷ XVII, như vậy sau khi lỵ sở từ Đông Phố từ Thế kỷ XI chuyển về Duy Trinh (Hậu Lộc ngày nay), những chùa chiền cổ ở đây hoặc cũng được chuyển theo hoặc chuyển thành phế tích khi Lê Ngọc bị sát hại (Thế kỷ VII).

Chúng tôi nghĩ rằng làng Phúc Ấm có 2 chùa, nhưng một làng mà có tới 2 chùa thờ Phật cách nhau không đầy 500 m thì chắc phải là đặc trưng quan trọng của làng. Việc lấy 2 đặc trưng của 2 làng làm đơn vị so sánh (cách làm nổi bật trong giai thoại) cho thấy ngụ ý lấy số nhiều hơn, rất nhiều... của nơi này so với nơi khác. Trong dân gian đây là nghệ thuật ẩn dụ truyền miệng kiểu vè sống mãi trong dân nhằm nhấn mạnh tính địa phương đặc trưng.

Một địa danh lỵ sở thuộc chính quyền trực thuộc nhà nước, là Kinh đô nổi dậy của vị Thái thú dũng cảm sao lại không lấy di sản lớn để so sánh mà lại lấy rộc? Rất có thể giai thoại trên xuất hiện sau này khi Đồng Pho đã không còn những chùa thời còn là Kinh đô. Từ khi Lê Ngọc chết (năm 618) cho đến 1029 mới đổi lỵ sở, lẽ nào Đồng Pho lại ít chùa hơn Phúc Ấm? Trước khi Đồng Pho có chùa Phúc Hưng (Thế kỷ XVII) thì Phúc Ấm khi đó đã có 2 chùa? Vậy làng Phúc Ấm có tự bao giờ và chùa ở Phúc Ấm được xây từ năm nào?

2. "Đồng Pho Phúc Ấm Đại Từ, Gặp 3 làng ấy thì từ mặt ra"

Câu này nổi tiếng trong dân gian vùng Nông Cống, Đông Sơn xưa. Cách hiểu câu này cũng có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau. Theo quan điểm cá nhân, có thể trao đổi trên 2 mặt sau đây:

Quan điểm "kiềng" mặt

Chữ "từ mặt" mang nghĩa khó chơi, khó hợp tác,... là cách hiểu phổ biến, cho là 3 làng không chơi được, do tính ngỗ nghịch, thái độ tránh xa cho yên ổn, để không bị bắt nạt, ức hiếp...

Vị trí 3 làng này như 3 đỉnh của một tam giác cân. Đáy tam giác là Đồng Pho ở phía Bắc và Phúc Ấm ở phía Nam. Đỉnh tam giác là Đại Từ cách Đồng Pho và Phúc Ấm chừng 4km. Trong tam giác ấy còn nhiều làng lớn khác như Ngọc Lậu, Cẩm Nga, Mục Nhuận... Rõ ràng đây không hẳn là 3 làng lớn nhất vùng.

Đồng Pho là làng cổ có giá trị "Kinh đô" thì đương nhiên về hình ảnh có những tác động lớn đến xung quanh, còn Đại Từ là một làng thuộc Doãn Xá. Thời Doãn Xá (thế kỷ XIV), làng Đại Từ thuộc đất lập ấp của họ Doãn. Rất có thể là một số cư dân ở đây cũng chính là người được cấp khi đó (chế độ nô lệ thời Trần) cho Doãn Bang Hiến. Cũng có thể họ là quân lính của vị quan Thượng thư. Nếu vậy họ tất từ xa đến, lại có nguồn gốc quân sự thì việc lập làng Đại Từ phải có tính "giang hồ" kiêu binh... lập địa danh mới sinh sống. Với tính cách ấy, nên "từ mặt" họ có lý do chính đáng.

Vậy Làng Phúc Ấm dựa vào đâu trong quan hệ với 3 làng ở quan điểm này khi vị thế Đồng Pho và Đại Từ rất đáng nể?

Quan điểm kính nể

Đây là quan điểm được cho là ít phổ biến, nhưng tôi thiên về quan điểm này bởi chữ "từ mặt" được hiểu là họ tự thấy mình kém hơn, sự "từ mặt ra" do không đủ sức "chơi" với họ.

Lại phân tích tiếp tính cách người Đồng Pho, rõ ràng điều kiện phát triển ở lỵ sở nhất định tạo ra những người giỏi, người giàu, có thế lực. Đại Từ nếu xét theo nghĩa làng ở đây có 2 giả thuyết: i/ Giả thuyết 1: Họ là dân nhập cư đến thời Doãn Bang Hiến (như đã nói ở trên); ii/ Giả thuyết 2: Họ là dân làng cũ, nhưng bị bán nô lệ cho Doãn Xá trong cơ chế cống đất. Ở giả thuyết 1, nếu họ từ nơi khác đến nhất định sẽ phải đoàn kết nhất trí để làm ăn, sinh sống, vì thế cố kết thống nhất thành một khối và vị thế đồng sức, đồng lòng khi giải quyết các va chạm xã hội. Đó là lợi thế mà các làng khác không có nên họ được kính nể! Còn ở giả thuyết 2 khi họ là làng gốc nhưng bị ép giao ruộng đất cho Doãn Xá chắc chắn là bị va chạm về quyền lợi đất đai, cư trú... với nhà quan lớn. Các xung đột bảo vệ quyền lợi này tạo ra sức mạnh của làng và gây ra sự kính nể cho làng khác.

Vậy làng Phúc Ấm khi đó thì sao? Theo tôi, làng Phúc Ấm cũng có những thế mạnh ngang hàng với 2 làng trên theo nghĩa này. Phúc Ấm cũng được coi là đất học, nhiều người có lý lẽ, có sức thuyết phục. Tất nhiên khi có học, họ sẽ bang giao rộng. Mặt khác đây cũng là nơi có nhiều ruộng đất, nhiều nhà giàu nên có điều kiện kinh tế trong việc tạo ra sức mạnh ở cửa trên để các làng khác phải kính nể. Đó là chưa kể trong quan hệ quyền lực, khi làng có nhiều nhà giàu, có học, có lý lẽ thì thường sẽ có những người tham gia chính quyền. Chính vì thế nên có điều kiện phát huy các giá trị kính nể như tài giỏi, năng động, mạnh mẽ, đoàn kết thành một khối khi quan hệ với các làng khác.

Rõ ràng câu này mang nghĩa kính nể thì hợp lý hơn nghĩa nghịch ngỗ, thiếu văn hóa. Sau này, có người cho rằng thời "giặc" Văn Thân[1], 3 làng này đoàn kết nên "giặc" không làm gì được... Đây cũng là cách giải thích cho giai thoại trên, nhưng điểm quan trọng vẫn là cơ sở nào để Phúc Ấm tạo ra được điều kiện chống "giặc", bảo vệ làng mà các làng khác không chống lại được?

3. "Một sào Phúc Ấm bằng 3 sào Trúc Chuẩn"

Câu này tôi đọc được trong sổ tay viết văn của Tô Hoài khi ông tham gia Cải cách ruộng đất ở Trúc Chuẩn. Ghi chép của ông để nói về kinh nghiệm viết văn. Theo tôi ở đây chỉ thuần túy về kinh tế: Làng Trúc Chuẩn sát sông Gốm (như Đồng Xá, Đồng Pho...) nên mùa màng thất bát rủi ro nhiều hơn so với Phúc Ấm (do ở xa sông hơn và có đường Cửa Rộc chắn ngang hạn chế lụt lội). Làng không chỉ có nhiều ruộng đất mà còn có đất tốt, điều kiện canh tác thuận lợi hơn nên giàu có hơn. Từ sau 1928, nông giang tưới nhờ đập Bái Thượng của người Pháp càng làm cho Phúc Ấm có điều kiện canh tác tốt hơn khi tưới tiêu dễ dàng hơn các cánh đồng làng khác, nhất là Trúc Chuẩn.

 



[1] Xem Phong trào Văn Thân (1864) chủ yếu ở Nghệ An, Hà Tĩnh. Ở Thanh Hóa thì phong trào có thể bị lợi dụng để gây bạo động mất trật tự ở một số địa phương (nên gọi là "giặc Văn Thân") khi vào những năm thoái trào.