Nhân 86 năm ngày mất ông nội tôi 28/7/1939 (Kỉ Mão) - 28/7/2015 (Ất Tỵ). Các tư liệu được trích tại Phúc Ấm Lê Hữu tộc tôi đã viết 2021
1. Thông tin trang phả
1.1 Nguyên văn
![]() |
Trang phả của ông và dịch nguyên văn |
Dòng
họ Lê Hữu sống tại Phúc Ấm căn cứ theo Tộc phả
đã từ khoảng 350 năm trước đây. Từ những khảo cứu trên kết hợp với
tư liệu Tộc phả được lưu giữ đến nay, chúng tôi xin trao đổi một số
thông tin để làm rõ hơn sự cư trú lâu đời của Dòng họ Lê Hữu Phúc
Ấm, từ đó có thêm cơ sở để tiếp tục khảo cứu trong quan hệ hợp
phả với đại gia đình họ Lê cả nước.
1. Nơi phát tích của Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm
Tính đến nay (năm 2021)
Dòng họ Lê Hữu tại xóm Phúc, làng Phúc Ấm đã có 14 đời được trực
tiếp ghi chép và cập nhật. Tại Phúc Ấm còn những di sản quan trọng: Khu
mộ cụ Khởi Tổ (Đời Thứ 1) và mộ của những vị Tiên tổ các đời sau. Cuốn
phả Hán Nôm được biên chép đầy đủ từ đời Khởi Tổ đến nay. Tổng hợp
từ Tộc phả cho thấy Dòng họ Lê Hữu đã
định cư ở Phúc Ấm từ khoảng 1670 ± 10 (Thế kỷ XVII) đến nay đã liên
tục khoảng 350 năm. Từ sau năm 1950 xuất hiện sự định cư của người Dòng họ Lê Hữu ở địa phương khác (do
thoát ly khỏi quê hương đi kháng chiến, đi học tập và công tác...).
Phúc Ấm được coi là nơi phát tích để phát triển sau này của Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm tại các địa
phương khác trong cả nước.
![]() |
Ảnh 1: Vài nét về niên đại các vị Tộc trưởng |
![]() |
| Ảnh 2: Sự truyền ngôi các vị Tộc trưởng 350 năm qua |
2. Các giả thuyết về
Thượng Tổ của cụ Khởi Tổ Dòng họ Lê
Hữu Phúc Ấm
Cụ Khởi Tổ Dòng họ Lê Hữu từ đâu đến lập nghiệp
tại Phúc Ấm là câu hỏi chưa được khảo cứu. Chúng tôi thấy có những
giả thuyết sau về Thượng Tổ[1] cụ Khởi
Tổ:
a/ Nếu trước thời Ngô
Quyền, ở Đông Sơn, Thanh Hóa có Lê Sương và Lê Ngọc thì cũng có thể
coi đây là một giả thuyết về Thượng Tổ của Dòng họ. Hơn nữa, làng
Phúc Ấm chỉ cách Kinh đô Trường Xuân (Đồng Pho) chỉ 2-3km thì rất có
thể thời đó đã có người họ Lê ở Phúc Ấm (cũng như có người họ Lê
ở Cổ Định, Đồng Pho, Hoàng Lạp...). Đây là một giả thuyết không thể
bỏ qua.
b/ Trong phả họ Lê của vị
Tổ Lê Đột ở Phong Mỹ (Xuân Tân, Thọ Xuân) có nói rõ về một "Chi
Đồng chiêm" ở Đông Văn, Đông Sơn. Đông Văn chỉ cách làng Phúc Ấm
khoảng 3km về phía Đông. Biết đâu nhánh này có người đã di cư về Phúc
Ấm để sống?
c/ Tại các địa phương
khác trong vòng bán kính 10km đều có Dòng họ Lê nói chung, Lê Hữu
nói riêng. Những địa danh được coi là làng cổ (đã tồn tại từ hơn 1000
năm) như Cổ Bôn, Cổ Định, Hữu Bộc, Đồng Pho,... đều có người họ Lê
Hữu. Như vậy, Lê Hữu từ Phúc Ấm tại sao lại không thể có từ thời
các làng cổ trên?
d/ Các biến cố lịch
sử thời Tiền Lê (khi nhà Lý lên ngôi) và thời Hậu Lê những năm Nhà
Mạc, Nhà Tây Sơn, Nhà Nguyễn có liên quan gì đến sự ly tán, mai danh,
ẩn tích... của dòng Hoàng tộc và quan lại họ Lê đến ở các vùng quê
héo lánh? Đây cũng nên coi là cơ sở để xem xét khảo cứu.
3. Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm trong quan hệ với các Dòng họ
khác
Tại xã Đồng Tiến,
hiện làng nào cũng có người mang họ Lê Hữu (chẳng hạn gia đình ông Lê
Hữu Nghênh ở Đồng Xá, gia đình ông Lê Hữu Khu ở Đồng Vinh, gia đình
ông Lê Hữu Quyền ở Trúc Chuẩn). Các xã quanh làng Phúc Ấm (Đồng
Thắng, Đông Hòa, Đông Yên, Đông Phú, Đông Nam) cũng đều có người mang danh
Lê Hữu.
Trong làng Phúc Ấm
còn có nhiều họ Lê khác tên đệm như Lê Văn, Lê Đình, Lê Công, Lê Quang,
Lê Đăng... Các tên đệm khác nhau được coi như các phái hoặc chi họ khác
nhau. Cùng với các họ khác như Nguyễn (với các đệm Hữu, Đình, Văn...),
Hoàng, Vũ, Đỗ... họ Lê chung sống rất hài hòa bình yên hàng trăm năm
qua tại làng Phúc Ấm.
Cũng tại Phúc Ấm hiện
có 3 Dòng họ mang danh Lê Hữu (như gia đình ông Lê Hữu Khươi ở xóm Thọ;
ông Lê Hữu Tự ở xóm Quý). Tuy nhiên trong 80 năm qua không thấy quan hệ
gì với nhau về phả và sinh hoạt Dòng họ. Đây cũng là điểm chưa được
khảo cứu về nguồn gốc của 3 Dòng họ mang cùng danh Lê Hữu trong cùng
một làng. Chính vì thế, bản Tộc phả này được định danh đầy đủ phải là Dòng
họ Lê Hữu tại xóm Phúc, làng Phúc Ấm để phân biệt với 2
dòng họ Lê Hữu khác cùng làng, một ở xóm Thọ, một ở xóm Quý. Địa danh
xóm Phúc để nói rõ thổ cư các vị Tộc trưởng và nơi có Từ đường Dòng
họ. Tuy nhiên, để viết gọn lại và thống nhất với Lời Tựa bản phả Hán Nôm là Phúc Ấm Lê Hữu tộc, chúng tôi gọi
tắt là Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm.
Như vậy, từ đơn vị cư
trú độc lập (làng, xóm) cho đến đơn vị hành chính (cấp xã) đã cho thấy
sự tồn tại riêng biệt, đồng thời của những người Dòng họ khác tên,
khác đệm, thậm chí cùng đệm. Mỗi Dòng họ hiện nay được liên hệ
ngày càng phổ biến qua các hoạt động sinh hoạt Dòng họ, các nghi lễ
cúng tế, chăm sóc mồ mả... Tính riêng biệt với các đặc trưng của
từng Dòng họ tạo thành sự phong phú về sinh hoạt cộng đồng trong
quan hệ xóm giềng luôn là điểm mạnh của làng Phúc Ấm có truyền
thống đoàn kết từ nhiều trăm năm qua. Truyền thống đó ngày nay đang
được phát triển trong sự liên hệ mang tính tổ chức chặt chẽ của
chính quyền các cấp. Ngày nay, mỗi người mang Dòng họ Lê Hữu
Phúc Ấm luôn tự hào về nơi phát tích, tự hào về Dòng họ để
tùy hoàn cảnh và điều kiện của mình mà hướng về cội nguồn với
lòng thành kính trong tâm linh, với niềm tin về sự phát triển quê
hương ngày càng tốt đẹp.
Nhân ngày giỗ cụ Ông và cụ Bà Khởi Tổ (hay Đời Thứ nhất), ghi chép dưới đây cơ bản từ thông tin Tộc phả Lê Hữu Phúc Ấm.
1. Thông tin trang phả
1.1 Nguyên văn
Ảnh trang phả

Ảnh trang phả viết về Đời thứ nhất
Dịch từ trang phả Hán tự
Đệ Nhất đại tự Pháp Nghị
Thất nguyệt thập tứ nhật kỵ
Táng tại Cồn Nguộc
Tỷ hiệu Ân
Thất nguyệt thập tứ nhật kỵ
(Sinh hạ)
Tự Pháp Nghĩa
Tự Pháp Diệu
Tự Phúc Trực
1.2 Dịch nghĩa
Cụ Đời Thứ 1 có tên
tự[1] là
Pháp Nghị, mộ táng tại Cồn Nguộc, ngày giỗ là 14-7. Vợ cụ tên hiệu
là Ân, ngày giỗ 14-7.
Các cụ sinh hạ:
Trưởng nam[2]
tên tự là Pháp Nghĩa, thứ nam tên tự là Pháp Diệu và thứ nam (út)
tên tự là Phúc Trực.
2. Phân tích, bổ sung, cập
nhật thông tin
Các thông tin về cụ Đời
Thứ 1 (Khởi Tổ) ngắn gọn, giản dị nhưng rất quan trọng. Việc trang
phả có được đầy đủ như trên là rất quý giá bởi thông tin đó làm rõ
vị Khởi Tổ của Dòng họ Lê Hữu cư
trú tại Phúc Ấm được tính từ đây.
Vợ cụ ở trang phả chỉ
ghi hiệu là Ân, nhưng trong bia mộ ghi rõ Lê Lệnh thị[3] hiệu
Từ Ân đã làm rõ cụ bà cũng mang họ Lê, thuộc dòng dõi gia đình danh
giá. Các cụ đều có ngày mất là 14-7 (hội kỵ).
Tên tự cụ Khởi Tổ là
Pháp Nghị, vợ cụ tên hiệu là Từ Ân. Pháp (法)
nghĩa là phép tắc, gương mẫu, khuôn pháp, nghiêm túc, khéo léo (có
thuật, có tài ăn nói, xử thế). Nghị (議)
mang ý nghĩa nghị luận, bàn luận, sắp đặt trước. Ân (恩) có nghĩa ơn, ân cần, ân trời. Chồng
tên tự là Nghị, vợ tên hiệu là Ân, các con có tên tự là Nghĩa (義): có nghĩa, tình nghĩa; Diệu (妙): kỳ diệu và Trực (直): thẳng thắn, trung trực. Nghị – Ân;
Nghĩa - Diệu – Trực là những suy tôn của đời sau cho các cụ Đời Khởi
Tổ thật nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Thông tin mộ phần và
bia mộ
Tại phả có ghi mộ
các cụ Khởi Tổ táng tại Cồn Nguộc. Thực địa 2021 tại Cồn Nguộc,
mộ các cụ Khởi Tổ được giữ gìn nguyên vẹn, tôn tạo uy nghi. Mộ đã
được tu tạo và bồi đắp nhiều lần nên đây là ngôi mộ cao, to nhất ở
phần chính giữa Cồn Nguộc.
Ảnh
bia mộ cụ Ông-Bà Khởi Tổ: mặt trước (trái) và mặt sau (phải)
Mặt trước
Lê Hữu tộc bia
Nhất đại Khởi Tổ Lê Quý công tự Pháp Nghị
Tỷ Lê Lệnh thị, hiệu Từ Ân.
Thất nguyệt thập tứ nhật hội kỵ.
Mặt sau
Ất Sửu niên, nhị nguyệt thập tam nhật tu tạo
bia.
Dịch nghĩa văn tự bia
Mặt trước
Bia Dòng họ Lê Hữu
Đời Thứ 1 Khởi Tổ Lê Quý công tên tự là Pháp
Nghị;
Vợ: Lê Lệnh thị tên hiệu là Từ Ân. Giỗ 14-7 hội
kỵ (cùng ngày).
Mặt sau
Tu tạo bia ngày 13-2 Ất Sửu.
Bia khẳng định rõ
ràng sự suy tôn Khởi Tổ. Cụ bà Khởi Tổ cũng người họ Lê, "Lệnh
thị" khẳng định thêm ý nghĩa quan trọng của gia đình cụ bà. Các
cụ có gia sự tốt đẹp, được ca ngợi qua các từ Quý công, tự Pháp...,
Lệnh thị, hiệu Từ... (các từ dành cho người sống thọ, hưởng phúc,
gia thế yên ổn, phát triển).
3. Niên đại, bối cảnh xã
hội
Các thông tin trên không
thể có căn cứ để xác định niên đại một cách rõ ràng. Tuy nhiên, xét
về phả, thông thường cách tính mỗi đời là khoảng 20-35 năm (tùy theo từng
đời), suy ra cụ Khởi Tổ sinh khoảng 1670 ± 10, mất khoảng 1725 ± 10, tức
cụ sinh cách hiện nay khoảng 350 ± 10 năm (Xem thêm bài Nhìn lại lịch sử
phát triển Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm
– Phần thứ hai). Từ đó xác định các biến cố liên quan đến thời
đại, đến bối cảnh lịch sử đời Khởi Tổ. Vào thời đó, lịch sử đất
nước ở vào thời Lê Trung Hưng[4] nhà
Hậu Lê. Cụ Khởi Tổ đã chọn Đông Sơn làm nơi lập nghiệp, lấy Phúc Ấm
để an cư, coi là quê hương để cư trú khoảng 350 năm qua (Xem thêm Bài Làng
Phúc Ấm... Phần thứ hai).
4. Giá trị đóng góp
Đây là dấu mốc khởi
đầu cho Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm. Hồng phúc các cụ để lại là Dòng
họ Lê Hữu phát triển liên tục, cư trú an lạc tại làng Phúc Ấm kéo dài suốt
350 năm qua.
5. Giá trị di sản
- Nguồn gốc Dòng họ
Dòng
họ Lê Hữu Phúc Ấm được minh chứng rõ ràng, đặc biệt
chứng tích mộ các cụ Khởi Tổ, Khu mộ Cồn Nguộc cùng các ngôi mộ của Dòng
họ suốt hơn 3 Thế kỷ.
- Về sự hội mộ, hội
bia và hội kỵ
Các cụ đã được an
táng cùng nhau trong một ngôi mộ đất đắp to có ý nghĩa được tôn
giữ cho mai sau sự ổn định, tập trung, dễ nhận biết, dễ tìm kiếm
trong không gian tưởng niệm. Ngay nay, trong quy tập hoặc xây dựng mới,
rất nhiều gia đình, dòng họ cũng đang thực hiện để các cụ ông - cụ
bà cạnh nhau theo nguyên tắc "nam tả, nữ hữu" trong các nghĩa
trang hay các khu mộ phần gia đình. Việc các cụ xưa đã biết và thực
hiện điều này cho thấy tư duy về tầm nhìn mang giá trị lâu dài, bền vững.
Việc hội kỵ
cũng là điểm đặc biệt hiếm và may mắn. Tại phả và bia mộ đều nêu
rõ sự hội kỵ 14-7. Cũng như cách thể hiện hội mộ và hội bia, việc hội
kỵ có giá trị quan trọng về thông tin để sự hiếm có này trở
thành sự kiện dễ nhớ, dễ thực hiện nghi lễ khi Dòng họ cùng tôn
kính Đời Khởi Tổ, đồng nghĩa với việc cùng tôn kính cả 2 cụ, cùng
tưởng nhớ về cả cụ ông và cụ bà. Sự hội mộ, hội bia, hội kỵ
không chỉ thể hiện tính độc đáo có tư duy chủ kiến hướng về dài lâu
mà còn sự khôn khéo về lý lẽ, sự tinh tế về hành lễ, sự hợp nhất
kính trọng tôn thờ giới (không phân biệt nam nữ), không bị phân tán
không gian, thời gian... Chúng tôi đánh giá cao điều này trong việc nhất
quán, thống nhất tạo sức tập trung tưởng nhớ cội nguồn, tập trung
trong thực địa, trong ý chí, trong Tộc phả...
Ngày giỗ cũng rất
đặc biệt: 14-7. Trong dân gian, tháng 7[5] là
tháng báo hiếu. Quan niệm Rằm tháng 7 là báo ơn sinh thành: “Cúng cả
năm không bằng Rằm tháng 7”. Ngày 14 là ngày trước Rằm, ngày mà nhà
nhà chuẩn bị cúng tế tổ tiên, đốt hàng mã cho người đã khuất, tế
cô hồn... Với không khí chung đó, ngày giỗ các cụ Khởi Tổ thật nhiều
ý nghĩa.
Di sản từ các cụ Khởi
Tổ mặc dù giản dị ở phần phả, phần bia, phần mộ nhưng các yếu tố
Đời Thứ 1 bảo đảm sự trường tồn, phát triển và bền vững của Dòng
họ Lê Hữu.
6. Những điểm chưa
khảo cứu được
- Cụ Khởi Tổ từ đâu
đến?
Trong Lời
Tựa cuốn phả gốc, ông Lê Hữu Đát có ghi "Tổ tôn
ngưỡng Đông Sơn chi thịnh khí, tư Phúc Ấm dĩ an cư"... đã làm
rõ thêm việc cụ Khởi Tổ chọn Đông Sơn, Phúc Ấm là nơi cư ngụ, là nơi
có đất thịnh để ổn định và phát triển Dòng họ. Điểm quan trọng là
khoảng 350 năm qua, Dòng họ vẫn duy trì sự cư ngụ và phát triển tại
nơi lựa chọn ban đầu này. Trong văn hóa và lịch sử, Đông Sơn là một
trong những nơi sinh sống của người Việt cổ (di chỉ trống đồng Đông
Sơn, Văn hóa Đông Sơn) và Dòng họ Lê là một trong 3 dòng họ lớn nhất
của Việt Nam có nguồn gốc cư trú lâu đời tại Thanh Hóa. Suy ra, cụ Khởi
Tổ rất có thể là một chi dòng họ Lê tại Thanh Hóa khi đó đã sống ở
Đông Sơn hoặc lân cận và đã đến khai hoang lập ấp tại Phúc Ấm (Xem
thêm các bài ở Phần thứ hai).
- Bia mộ được lập mới,
vậy trước đó có bia cũ?
Các cụ Khởi Tổ đã
mất cách đây khoảng 300 năm, việc lập bia chắc chắn được tôn tạo từ
các đời sau. Trên bia mộ còn ghi được ngày tháng năm tu tạo. Đó là
ngày Xuân mùa Thanh Minh tảo mộ. Ất Sửu không chắc chắn được niên
đại, nhưng trên thực địa, đây là bia đá to, chữ khắc hai mặt đẹp, rõ
nét, đường bệ, nghiêm trang. Mặc dù được chôn sâu chìm chỉ hở đầu bia
nhưng khi tôn tạo năm 1991 cho thấy may mắn còn nguyên vẹn. Căn cứ trên
mức độ ăn mòn theo thời gian chúng tôi cho rằng bia được lập năm Ất Sửu,
tức là năm 1925 (tất nhiên nếu có thể suy ra các năm Ất Sửu trước đó là
1865, 1805, 1745...). Trong điều kiện sự ăn mòn của mưa gió cho thấy bia
rất có thể được tu tạo 1925, do Tộc trưởng Lê Hữu Đát (Đời Thứ 8) thực
hiện. Các bia được ông Lê Hữu Đát lập cùng thời như bia mộ bà Nguyễn
Thị Trạc (Đời Thứ 8), bia mộ Bà Cô Tổ, bia mộ ông Thuần Thủy (Đời Thứ
7)... cũng có mức độ rõ nét tương tự. Một thời điểm năm 1865 cũng
đáng chú ý vì có liên quan đến cụ Tộc trưởng Phúc Huy (Đời Thứ 4).
Tuy nhiên nếu cụ Phúc Huy có lập bia thì cũng đã bị mòn mất chữ, nên sau đó đã
được ông Lê Hữu Đát đã tu tạo lại vào 1925 là hợp lý. Vậy ngày ghi
tu tạo trên mặt sau của bia là 13-2 Ất Sửu chính là ngày 7-3-1925.
- Sự trùng hợp may mắn: Ai đã quy tập
đưa các cụ táng về một mối?
Rất có thể cụ Phúc
Huy, Tộc trưởng Đời Thứ 4 là người có công lao và có điều kiện dựng
lại cơ nghiệp, mồ mả dòng tộc. Đối với cụ Phúc Huy thì cụ Khởi Tổ
cách cụ 4 đời, nghĩa là cụ Phúc Huy là chắt nội (gọi cụ Khởi Tổ bằng
ông cố/kỵ).
Việc quy tập về một mối
ngày nay rất phổ biến, nhưng thời điểm xa xưa ấy mà táng đặt cả hai
cụ trong một ngôi mộ là có chủ ý định hướng rõ ràng. Ngoài ra cũng
có thể suy đoán việc này được quy tập từ nơi khác về Cồn Nguộc. Cụ
Phúc Huy đã chọn được Cồn Nguộc làm Khu mộ của Dòng họ rất có thể
từ sự kiện được truyền ngôn về Bà Cô Tổ. Đây là chứng cứ lấy Cồn
Nguộc làm nơi linh thiêng cho Dòng họ và cất bốc mộ các cụ Khởi Tổ
về đây làm dấu mốc cho Dòng họ về lâu dài.
* *
*
Mỗi lần nghĩ về Dòng họ,
mỗi lần thắp hương cúi đầu viếng mộ các cụ Khởi Tổ và các vị Tiên tổ khác, những
người con trong Dòng họ Lê Hữu đều tưởng
nhớ công lao to lớn của người Khởi Tổ và đều thầm nghĩ đến sự may mắn mà con
cháu đời sau được hưởng phúc từ các cụ. Ẩm Hà Tư Nguyên (uống nước nhớ nguồn)
là mỗi niềm thành kính của mỗi người con trong Dòng họ, dù đi đâu về đâu, sinh
cơ lập nghiệp trăm miền đều luôn hướng về nguồn cội Dòng họ Lê Hữu, nhớ về nơi phát tổ Phúc Ấm, nhớ về những giá trị di
sản cội nguồn còn vẹn nguyên từ thời cụ Khởi Tổ. Như một lời kính lạy, viễn
tôn hậu sinh Đời Thứ 10 xin được sự phù hộ của các cụ Khởi Tổ và các vị
Tiên tổ để ghi chép biên tập Tộc phả, mong có được nhiều điều bổ ích cho truyền
thống Dòng họ.
Kính dâng !
[1] Tên
tự và tên hiệu là cách gọi tên đã giải thích ở Phần thứ nhất. Một
số vị có ghi rõ húy (như Đời Thứ 4, Đời Thứ 7, Đời Thứ 8). Trường hợp
không ghi húy, nhất là các vị từ các Đời Thứ 1 – Đời Thứ 6 thì tên tự
và tên hiệu được đời sau suy tôn người đã khuất (hiểu như tên hèm hay tên
thụy) dùng để xưng khi tế lễ. Tuy nhiên một số trường hợp có thể lại chính
là tên tục (tên thường gọi).
[2] Cách viết trong
trang phả cũ: phía phải là giới nam: từ trưởng đến thứ, tính từ
giữa ra bên phải; trái là giới nữ: trưởng đến thứ, tính từ giữa ra
phía trái. Đây là cách viết phân rõ được thứ tự theo giới nhưng không
xác nhận được thứ tự sinh khi nhập cả 2 giới.
[3] Khi các vị dâu có thêm chữ Lệnh thị
được hiểu là thông gia của Dòng họ Lê Hữu
thuộc gia đình dòng dõi danh giá (gia đình có chức sắc, giàu có...)
[4] Thời Lê Trung Hưng nhà Hậu Lê.
Cụ sống ở các đời Vua Lê Huyền Tông (1663-1671); Lê Gia Tông (1672 – 1675);
Lê Hy Tông (1676-1705) và Lê Dụ Tông (1705-1729).
[5] Tháng 7 âm lịch (theo Phật giáo) nặng về báo ơn sinh thành, là tiết
xá tội vong nhân, nhờ ơn đức Phật mà tất cả các vong linh bị đoạ trong chốn khổ
đau được tế bạt, siêu thoát. Ở Việt Nam tháng 7 với đạo hiếu: báo hiếu cho tổ
tiên, ông bà, cha mẹ. Phật giáo quan niệm phải yêu thương tất cả mọi loài, kể cả
những người không mồ không mả, chết không thờ tự hay còn gọi là cô hồn.
Kính dâng hương hồn Anh – nhân ngày giỗ Anh lần thứ 22
1. Thông tin chung
Tại trang phả của cha tôi
có ghi rõ ngày sinh, năm sinh của ông Lê Hữu Đồ. Đây là bút tích của ông Lê Hữu
Đát viết về cháu đích tôn. Hàng chữ chân phương, thẳng đứng, thể hiện rõ tâm thế
của người viết là sự mãn nguyện, tự tin và tràn đầy hy vọng của người ông đối với
cháu nội mới sinh. Tên Đồ có thể do ông Đát đặt cho cháu với mong muốn cháu trở
thành "ông đồ". Từ năm 1935, ông Đát có thể chưa tưởng tượng được sự
thay đổi của xã hội mới sau này, nhưng điều ông muốn đứa cháu sống bằng nghề
trí óc thay cho nghề nông là điều ông đã suy nghĩ tổng kết rằng nghề nông không
thể là nghề của cháu ông, tức là vị Tộc trưởng tương lai chỉ có thể phát triển
và tạo được sự nghiệp bền vững cho Dòng họ bằng nghề phi nông nghiệp, phải bằng
lao động trí tuệ.
![]() |
Tên ông ở trang phả ông Lê Hữu Nhạn Đời Thứ 9 |
Nguyên văn chữ Nho phần liên quan đến tên của ông: Lê Hữu Đồ, sinh Ất Hợi niên, tam nguyệt thập thất nhật. Dịch nghĩa: Lê Hữu Đồ, sinh ngày 17-3 năm Ất Hợi
2. Phân tích, bổ sung và cập nhật thông tin
2.1 Nhận xét chung
Ông dáng người thư sinh,
đeo kính cận, khuôn mặt sáng, ưa nhìn, trán cao thông minh. Tính tình hiền
lành, ít nói, khiêm nhường, dễ gây thiện cảm với người tiếp xúc. Ông học giỏi,
trong điều kiện học giao thời giữa chữ Hán và chữ Việt, tốt nghiệp cấp 3 năm 1955
và được Chính phủ cử sang Liên Xô học đại học từ 1956.
Ông là vị Tộc trưởng có học vấn cao nhất trong Dòng họ: được đào tạo bài bản ở Liên Xô từ đại học cho đến trình độ tiến sĩ và sau tiến sĩ. Ông công tác tại Bộ Xây dựng từ 1962 cho đến khi về hưu 1997, là Nghiên cứu viên cao cấp, cán bộ quản lý cấp Vụ, Viện nhiều năm ở Bộ Xây dựng.
Nhân ngày giỗ thứ 33 và năm sinh thứ 120 của cha tôi (Các tư liệu được trích tại Phúc Ấm Lê Hữu tộc tôi viết 2021)
6. Một số chuyện đáng nhớ
6.1 Chuyện ông đi
đón dâu
Khi chịu tang bố, mẹ và vợ xong, qua mối lái[1] ông cưới bà Lê Thị Mỹ ở làng Bì, Cổ Định. Hôm đoàn đón dâu đến cây đa đầu làng Bì thì bị dân làng chặn lại và được yêu cầu trả lời một vế đối[2], nếu không đối lại được thì không cho vào làng đón dâu. Đây là tục có tính văn hóa có từ lâu ở quê. Làng Bì thuộc Cổ Định là làng cổ có từ thời Hùng Vương, Cổ Định có tới 24 tiến sĩ làm quan Triều đình, nổi tiếng là đất học xứ Thanh (xem thêm bài Làng Phúc Ấm). Vế đối ra là: "Cây đa làng Bì". Cái khó ở đây là kiểu chơi chữ khá oái ăm: "Bì" có nghĩa là da, tiếng địa phương gọi da là "đa" lại trùng tên cây đa - nơi cả đoàn đang đứng dưới bóng cây. Đoàn đón dâu không ai đối được, xin khất thì không cho nên bèn cử một người khỏe chạy về xin ý kiến các vị có học. Lúc này đã gần trưa mà đường thì xa (hai làng cách nhau khoảng 8 km). Người chạy về đến làng gặp được một số vị có học để xin ý kiến. May thay có ông anh rể họ[3] (là ông Nguyễn Hữu Quế, cha của ông Viên) giỏi chữ Hán nghĩ ngay ra vế đối và nói để người đó chạy vào xin dâu. Khi vào đến nơi đã quá trưa, đoàn đón dâu ngồi đợi dưới gốc đa mừng quá gọi làng ra nhận vế đối. Khi nghe vế đối: "Cái bụng xóm Phúc" người làng Bì đã vui vẻ chấp nhận ngay và khen vế đối chuẩn cả về thanh lẫn nghĩa đen, nghĩa chữ. Số là chữ Phúc (褔) còn có nghĩa (腹) là bụng. "Bì" đối với "Phúc": da đối với bụng (ruột), làng Bì mà đối với xóm Phúc là da đã bao được bụng, làng trùm lên xóm thì đã chuẩn mọi nhẽ. Cả hai họ hoan hỉ đón cô dâu từ làng "Bì - da" về xóm "Phúc - bụng" với điều bất ngờ thú vị của cả người đối, người trả lời như một câu chuyện nhân văn đáng nhớ trong cả hai làng. Nay ông Viên là người chứng kiến vẫn đang ở xóm Phúc còn luôn nhớ và kể chuyện này.
Nhân ngày giỗ thứ 33 và năm sinh thứ 120 của cha tôi (Các tư liệu được trích tại Phúc Ấm Lê Hữu tộc tôi viết 2021)
5. Giá trị di sản
5.1 Chứng kiến
sự suy tàn và có tầm nhìn bảo tồn giá trị
Bối cảnh quê hương và
sự tàn phá của văn hóa đã ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến gia đình
và Dòng họ. Việc duy trì và gìn giữ được những gì còn lại trước
những phá phách nghiêm trọng khi đó ở quê thật là một điều thần kỳ
may mắn nhờ số phận và tâm niệm ý thức.
- Các tác động trực
tiếp: gia đình bị quy là địa chủ trong Cải cách ruộng đất và bị đấu
tố tinh thần, sau sửa sai thành trung nông (lớp trên). Phải triệt phá
đồ thờ[1] trong
nhà để không bị tiếng lạc hậu, mê tín trong chính sách cải tạo xã
hội cũ, xây dựng đời sống mới. Điều đặc biệt quan trọng là đã
truyền được ý niệm, niềm tin cho con cháu qua khơi gợi ý thức, khuyến
khích học hành, truyền khẩu các câu chuyện quan trọng.
Nhờ khéo léo và may mắn, việc đối xử của Tộc trưởng trong giai đoạn đó vẫn giữ được các giá trị đặc biệt: Từ đường Dòng họ với các kiến trúc cũ từ 1917 (tu tạo 1929 và 1937)[2]; Khu mộ gia đình và một số bia mộ quan trọng; Giữ được gia phả và một số chứng tích từ các đời trước để lại. Có thể nói cả đời ông chống chọi sự phá hoại, ngăn cản các mất mát và tìm cách lưu truyền các giá trị.
Nhân ngày giỗ thứ 33 và năm sinh thứ 120 của cha tôi (Các tư liệu được trích tại Phúc Ấm Lê Hữu tộc tôi viết 2021)
4. Vai trò phát triển gia đình, Dòng họ
4.1 Quan hệ và
nhận thức xã hội
Ông là người kiên
cường, bền bỉ vượt qua Thế kỷ XX đầy biến cố đau thương. Các đóng
góp của ông đối với địa phương và cộng đồng cũng chỉ như mọi người
khác lúc bấy giờ là chịu đựng gian khó, tích cực tham gia các hoạt
động địa phương, đi dân công, góp ruộng đất, trâu bò vào HTX. Tuy nhiên,
ông đã biết vươn lên tích cực học hỏi, tích lũy kiến, thức tìm ra
con đường tự giải quyết các vấn đề cho gia đình và Dòng họ.
Ông một mặt gìn giữ,
kế thừa truyền thống gia đình, Dòng họ nhưng mặt khác chống mê tín
dị đoan (bói toán, lên đồng...), tích cực hưởng ứng trào lưu sống
mới, tiến bộ. Những năm 1936-1938 ông đã đi đầu trong phong trào cắt
bỏ búi tóc[1].
Sau năm 1950 ông sớm biết thực hành lối sống vệ sinh: ngủ có màn,
nhà có tủ gạc-măng-giê (garde manger – tủ chạn bát đựng thức ăn),
thực hành ăn chín uống sôi...
Bằng những may mắn và khôn khéo, ông đã tránh được những "trận đấu tố" đau thương, đã đấu tranh kiên trì và hợp lý để được sửa sai thành phần gia đình[2] trong Cải cách ruộng đất từ địa chủ (loại 3) thành phú nông, rồi thành trung nông lớp trên để bảo đảm "sự trong sạch" chính trị cho gia đình và là con đường phát triển cho con cái.
Nhân ngày giỗ thứ 33 và năm sinh thứ 120 của cha tôi (Các tư liệu được trích tại Phúc Ấm Lê Hữu tộc tôi viết 2021)
1. Thông tin trang phả
1.1 Nguyên văn
![]() |
| Ảnh chụp trang phả Phúc Ấm Lê Hữu tộc Bản viết năm 1939 |
1.2 Dịch nghĩa
Vị Tộc trưởng Đời Thứ 9
là Lê Hữu Nhạn, sinh năm Ất Tỵ.
Vợ tên là Lê Thị Chi,
sinh năm Kỷ Dậu, giỗ 6-Giêng.
Con trai: Lê Hữu Đồ,
sinh ngày 17-3 năm Ất Hợi.
Vợ thứ là Lê Thị Mỡi.
1. Hệ thống phân cấp theo sinh kỳ phát tộc
Theo
thời gian, Dòng họ cứ nối dài sự tăng trưởng về số hộ, khẩu và mở rộng
nơi cư trú. Để theo dõi được sự liên kết và phát triển Dòng họ cần tổ chức
hệ thống phân chia thành các cấp. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên người
Việt dựa trên quan niệm "thủy hữu nguyên, mộc hữu bản"
nghĩa là nước có nguồn, cây có gốc để chia hệ thống thành 2 cấp
chính là phái và chi. Phái (nhánh sông): nước chảy từ nguồn chia
thành nhiều nhánh sông nhỏ. Chi (cành cây): mọc từ gốc, chia thành
nhiều cành con.
Việc
liên kết Dòng họ cứ phát triển mãi sẽ phải mở rộng hệ thống phân cấp.
Những Dòng họ có phả tới 20 - 30 đời có thể dùng đến Phái - Tiểu phái
- Chi - Tiểu chi, nhưng nếu đến 50-60 đời thì việc phân cấp rất phức tạp
vì phải chia thêm các cấp nhỏ hơn. Sự quá phức tạp đó bắt buộc phải hình
thành sinh kỳ mới tức là đến mức chi tiết nào đó thì hệ thống
phân cấp cũ sẽ phải tạo thành hệ thống mới. Hệ thống mới sẽ lấy cấp
phân chia cuối của sinh kỳ cũ làm gốc (đời khởi tổ) cho sinh kỳ mới.
Theo
Phạm Thúc Hồng[1],
một sinh kỳ phát tộc chia theo 12 cấp cho mỗi sinh kỳ như sau: 1/ Phái →
2/ Phân Phái → 3/ Tiểu Phái → 4/ Chi →
5/ Phân Chi → 6/ Tiểu Chi → 7/ Tiết → 8/ Phân Tiết → 9/ Tiểu Tiết → 10/ Diệp →
11/ Phân Diệp → 12/ Tiểu Diệp. Hệ thống tiếp theo lấy cấp Tiểu Diệp để
thành Thủy Tổ cho sinh kỳ 2...
Như
vậy, theo lý thuyết, một sinh kỳ có 12 cấp, nếu phát triển Dòng họ thuận lợi
thì khoảng 60 đời, tức khoảng 1200 – 1500 năm sẽ hết sinh kỳ thứ nhất[2]. Trong
thực tế khó có Dòng họ nào tạo ra được phả liên quan 50-60 đời. Ngay
cả ngọc phả, thế phả, các triều đại cũng chỉ kéo dài khoảng 300 –
400 năm. Ở Việt Nam, các Dòng họ có phả lâu đời nhất cũng chỉ khoảng 50 đời và
thường rất hiếm. Các phả lớn ở Việt Nam đều có hiện tượng phân hệ sau một số đời
(thường sau 4-5 đời). Phái, chi hay ngành (nhành) là tên gọi của các cấp không
nhất thiết thống nhất mà theo tập tục địa phương. Chẳng hạn, họ Vũ[3] sau 5 đời
thì có ngũ chi, rồi bát phái, họ Phạm[4] ở Đan
Loan đến Đời Thứ 11 có 3 lần phân chi...
2. Sự hình thành đơn vị thờ cúng
Một
đơn vị thờ cúng được hiểu là một tập hợp của những người cùng Dòng họ (cùng huyết
thống) trong một địa phương do người dòng trưởng giữ vai Tộc trưởng tổ chức,
cùng thống nhất các quy định thờ cúng và sinh hoạt trong Dòng họ. Các quy định
được thống nhất trên cơ sở phong tục, truyền thống về phân phái, phân chi, tế lễ,
Từ đường, mồ mả...
Tổ
chức thờ cúng theo phái hoặc chi là những quy ước riêng của từng Dòng họ
khi có những điều kiện nhất định, nhất là trường hợp có một số gia đình
tách khỏi nơi cư trú cũ của Dòng họ để lập nghiệp ở địa phương mới. Các
phái, chi khi quần tụ và phát triển mạnh ở nơi cư trú mới sẽ trở thành đơn
vị tín ngưỡng độc lập, tổ chức thờ cúng tổ tiên theo truyền thống,
cải biên truyền thống bằng những quy định mới phù hợp hơn với phong tục
nơi cư trú mới về từ đường, mồ mả, gia quy... Tuy nhiên, khi Dòng họ cư trú
ổn định và lâu đời trong một địa phương thường quy tụ tại Từ đường của người giữ
vai Tộc trưởng.
Việc
theo dõi và hình thành tộc phả, gia phả sẽ ngày càng phức tạp khi
các Dòng họ có nhiều đời, nhiều hộ và nhiều nơi cư trú. Các quy
ước trong phả được hình thành và phân chia hệ thống tùy theo điều
kiện của từng Dòng họ. Không có sự thống nhất nào có thể hợp lý
và tạo được mẫu mực cho mọi Dòng họ. Sự sáng tạo và những điều
kiện thể hiện của mỗi Dòng họ trở thành sự đa dạng phong phú của
văn hóa, được coi là những khảo cứu, tra cứu có tính lịch sử của
dân tộc, các địa phương... Các khác biệt đó cho đến nay thấy ở sự
phân hệ (tên gọi các cấp, quy định các đời) không thống nhất ở các phả.
3. Khảo cứu cội nguồn, khát vọng hợp phả
Do
những biến cố trong lịch sử (chiến tranh, loạn lạc, thiên tai, cư
trú...) việc nối tiếp của một Dòng họ trong quá khứ không được ghi chép
liên tục và đầy đủ. Chính vì vậy kết nối phả đời sau với các đời
trước, việc sánh chiếu các phả ở các địa phương khác nhau là chuyện
phức tạp muôn thuở và luôn có sự băn khoăn, nghi hoặc của hàng trăm giả
thuyết khi bàn luận hợp phả. Đó là chưa kể những biến cố phải
"mai danh ẩn tích, đổi tộc thay tên" trong nhiều trường hợp
vì sự sinh tồn. Hợp phả luôn là những giả thuyết gắn với truyền
ngôn hơn là các chứng cứ trong thực tế. Khi cư trú tại một địa phương,
các dòng tộc phát triển mạnh lên sẽ gặp bế tắc về sinh kế, do đó di
cư tìm nguồn sống mới tạo ra sự phát triển các phái, các chi của Dòng
họ tại nơi cư trú mới. Điều kiện sinh kế mới và sự xa cách với nơi cư
trú cũ lâu ngày làm cho việc hợp phả trở nên khó khăn. Sau nhiều trăm năm
sự liên lạc có thể không còn nữa làm mất đi sự liên kết Dòng họ. Đó cũng
là sự phát triển tất yếu của xã hội và lịch sử. Do vậy, dù có
cố gắng đến mấy và dù công nghệ phát triển đến đâu chăng nữa thì
mỗi người, mỗi gia đình, mỗi Dòng họ đều có cội nguồn, nhưng sự theo
dõi và liên kết chỉ có hạn. Lịch sử dân tộc Việt Nam đã có cội
nguồn các vua Hùng với truyền thuyết "100 trứng" tượng trưng
cho mọi người trong nước đều cùng một gốc, đều sinh trong một bọc nên gọi
nhau bằng đồng bào (cùng bọc).
Khảo
cứu cội nguồn là khát vọng chính đáng của mỗi Dòng họ. Từ những giả thuyết, những
truyền ngôn, những văn tự lưu giữ... mà nhiều Dòng họ đã lần tìm ra cội nguồn
phát tích. Tác dụng to lớn của những khảo cứu này là hiểu biết về tổ tiên, mở
mang quan hệ Dòng họ, nâng cao niềm tự hào về Dòng họ, quê hương, đất nước. Mặc
dù chứng tích có thể không nhiều nhưng sự bao dung, đồng cảm, chấp nhận
thông tin cội nguồn luôn là những tín hiệu tích cực trong khảo cứu tổ tiên trên
tinh thần "uống nước nhớ nguồn" của mỗi người con trong Dòng họ.
[1] Nguồn: Phạm Thúc Hồng:
Gia phả chữ Hán. Truy cập ngày 15/6/2021 tại
https://hophamvietnam.org/gia-pha-chu-han-va-gia-pha-thoi-nay
[2] Nếu một Dòng họ
phát triển nhanh liên tục thì khoảng 3-5 đời sẽ cần một lần phân cấp. Trường hợp
các nhánh không phát triển nhanh được là do nhánh có ít con trai hoặc có nhiều
người vô tự (không có người nối dõi). Khi đó có thể phải 5-7 đời mới có một lần
phân cấp. Mỗi sinh kỳ có 12 cấp tức là cần 36-60 đời, thậm chí tới 72 đời cho
những dòng chậm phát triển (tức 12 cấp × 3 đời/cấp = 36 đời, 12 cấp × 5 đời/cấp
= 60 đời, 12 cấp × 7 đời/cấp = 72 đời). Mỗi đời thông thường trung bình 20-25
năm. Vậy 36 đời tương đương 720-900 năm; 60 đời tương đương 1200-1500 năm và 72
đời tương đương 1440-1800 năm.
[3] Theo tài liệu
"Vũ tộc thế hệ sự tích" của Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Thế giới,
2004: Phả Dòng họ Vũ Mộ Trạch ghi được tới
35-40 đời, gồm ngũ chi, bát phái.
[4] Theo Phạm Đình Hổ:
Đường An Đan Loan Phạm gia thế phả. Trần Thị Kim Anh giới thiệu và chuyển
ngữ. NXB Văn học, 2019 (trang 26).
1. "Roọc Đồng Pho, Chùa Phúc Ấm"
Đồng
Pho là lỵ sở mấy trăm năm của Cửu Chân, Ái Châu, là kinh đô một thời
của "Hoàng đế" Lê Ngọc hẳn phải nổi tiếng là nơi có nhiều
công trình kiến trúc quan trọng như thành lũy, trại lính, trại ngựa,
chợ, chùa chiền, danh thắng... Về mặt địa hình, đây chắc chắn phải
là nơi cao ráo có địa thế rộng rãi và nhất định phải có ưu thế về
công - thủ, lưu thông và tập hợp quần cư đông đúc.
Tuy
nhiên, do vị trí sát sông Gốm nên cũng như các làng xung quanh (Phúc
Ấm, Đồng Xá, Trúc Chuẩn, Hữu Bộc...), Đồng Pho có nhiều vùng đất
trũng gọi là roọc (rộc hay dộc) và vì Đồng Pho nhiều roọc nên mới
được coi là một đặc trưng của địa phương.
Ở
Đồng Pho có chùa Phúc Hưng, tuy nhiên, chùa Phúc Hưng mới có từ Thế
kỷ XVII, như vậy sau khi lỵ sở từ Đông Phố từ Thế kỷ XI chuyển về
Duy Trinh (Hậu Lộc ngày nay), những chùa chiền cổ ở đây hoặc cũng
được chuyển theo hoặc chuyển thành phế tích khi Lê Ngọc bị sát hại
(Thế kỷ VII).
Chúng
tôi nghĩ rằng làng Phúc Ấm có 2 chùa, nhưng một làng mà có tới 2
chùa thờ Phật cách nhau không đầy 500 m thì chắc phải là đặc trưng
quan trọng của làng. Việc lấy 2 đặc trưng của 2 làng làm đơn vị so
sánh (cách làm nổi bật trong giai thoại) cho thấy ngụ ý lấy số
nhiều hơn, rất nhiều... của nơi này so với nơi khác. Trong dân gian đây
là nghệ thuật ẩn dụ truyền miệng kiểu vè sống mãi trong dân nhằm
nhấn mạnh tính địa phương đặc trưng.
Một
địa danh lỵ sở thuộc chính quyền trực thuộc nhà nước, là Kinh đô
nổi dậy của vị Thái thú dũng cảm sao lại không lấy di sản lớn để so
sánh mà lại lấy rộc? Rất có thể giai thoại trên xuất hiện sau này khi
Đồng Pho đã không còn những chùa thời còn là Kinh đô. Từ khi Lê Ngọc
chết (năm 618) cho đến 1029 mới đổi lỵ sở, lẽ nào Đồng Pho lại ít
chùa hơn Phúc Ấm? Trước khi Đồng Pho có chùa Phúc Hưng (Thế kỷ XVII)
thì Phúc Ấm khi đó đã có 2 chùa? Vậy làng Phúc Ấm có tự bao giờ và
chùa ở Phúc Ấm được xây từ năm nào?
2.
"Đồng Pho Phúc Ấm Đại Từ, Gặp 3 làng ấy thì từ mặt ra"
Câu
này nổi tiếng trong dân gian vùng Nông Cống, Đông Sơn xưa. Cách hiểu câu
này cũng có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau. Theo quan điểm cá
nhân, có thể trao đổi trên 2 mặt sau đây:
Quan
điểm "kiềng" mặt
Chữ
"từ mặt" mang nghĩa khó chơi, khó hợp tác,... là cách hiểu
phổ biến, cho là 3 làng không chơi được, do tính ngỗ nghịch, thái độ
tránh xa cho yên ổn, để không bị bắt nạt, ức hiếp...
Vị
trí 3 làng này như 3 đỉnh của một tam giác cân. Đáy tam giác là Đồng
Pho ở phía Bắc và Phúc Ấm ở phía Nam. Đỉnh tam giác là Đại Từ
cách Đồng Pho và Phúc Ấm chừng 4km. Trong tam giác ấy còn nhiều làng
lớn khác như Ngọc Lậu, Cẩm Nga, Mục Nhuận... Rõ ràng đây không hẳn
là 3 làng lớn nhất vùng.
Đồng
Pho là làng cổ có giá trị "Kinh đô" thì đương nhiên về hình
ảnh có những tác động lớn đến xung quanh, còn Đại Từ là một làng
thuộc Doãn Xá. Thời Doãn Xá (thế kỷ XIV), làng Đại Từ thuộc đất
lập ấp của họ Doãn. Rất có thể là một số cư dân ở đây cũng chính
là người được cấp khi đó (chế độ nô lệ thời Trần) cho Doãn Bang
Hiến. Cũng có thể họ là quân lính của vị quan Thượng thư. Nếu vậy họ
tất từ xa đến, lại có nguồn gốc quân sự thì việc lập làng Đại Từ
phải có tính "giang hồ" kiêu binh... lập địa danh mới sinh
sống. Với tính cách ấy, nên "từ mặt" họ có lý do chính
đáng.
Vậy
Làng Phúc Ấm dựa vào đâu trong quan hệ với 3 làng ở quan điểm này
khi vị thế Đồng Pho và Đại Từ rất đáng nể?
Quan
điểm kính nể
Đây
là quan điểm được cho là ít phổ biến, nhưng tôi thiên về quan điểm
này bởi chữ "từ mặt" được hiểu là họ tự thấy mình kém
hơn, sự "từ mặt ra" do không đủ sức "chơi" với họ.
Lại
phân tích tiếp tính cách người Đồng Pho, rõ ràng điều kiện phát
triển ở lỵ sở nhất định tạo ra những người giỏi, người giàu, có
thế lực. Đại Từ nếu xét theo nghĩa làng ở đây có 2 giả thuyết: i/
Giả thuyết 1: Họ là dân nhập cư đến thời Doãn Bang Hiến (như đã nói
ở trên); ii/ Giả thuyết 2: Họ là dân làng cũ, nhưng bị bán nô lệ cho
Doãn Xá trong cơ chế cống đất. Ở giả thuyết 1, nếu họ từ nơi khác
đến nhất định sẽ phải đoàn kết nhất trí để làm ăn, sinh sống, vì
thế cố kết thống nhất thành một khối và vị thế đồng sức, đồng
lòng khi giải quyết các va chạm xã hội. Đó là lợi thế mà các làng
khác không có nên họ được kính nể! Còn ở giả thuyết 2 khi họ là
làng gốc nhưng bị ép giao ruộng đất cho Doãn Xá chắc chắn là bị va
chạm về quyền lợi đất đai, cư trú... với nhà quan lớn. Các xung đột
bảo vệ quyền lợi này tạo ra sức mạnh của làng và gây ra sự kính
nể cho làng khác.
Vậy
làng Phúc Ấm khi đó thì sao? Theo tôi, làng Phúc Ấm cũng có những
thế mạnh ngang hàng với 2 làng trên theo nghĩa này. Phúc Ấm cũng
được coi là đất học, nhiều người có lý lẽ, có sức thuyết phục.
Tất nhiên khi có học, họ sẽ bang giao rộng. Mặt khác đây cũng là nơi
có nhiều ruộng đất, nhiều nhà giàu nên có điều kiện kinh tế trong
việc tạo ra sức mạnh ở cửa trên để các làng khác phải kính
nể. Đó là chưa kể trong quan hệ quyền lực, khi làng có nhiều nhà
giàu, có học, có lý lẽ thì thường sẽ có những người tham gia chính
quyền. Chính vì thế nên có điều kiện phát huy các giá trị kính nể
như tài giỏi, năng động, mạnh mẽ, đoàn kết thành một khối khi quan
hệ với các làng khác.
Rõ
ràng câu này mang nghĩa kính nể thì hợp lý hơn nghĩa nghịch ngỗ,
thiếu văn hóa. Sau này, có người cho rằng thời "giặc" Văn Thân[1], 3 làng
này đoàn kết nên "giặc" không làm gì được... Đây cũng là
cách giải thích cho giai thoại trên, nhưng điểm quan trọng vẫn là cơ
sở nào để Phúc Ấm tạo ra được điều kiện chống "giặc", bảo
vệ làng mà các làng khác không chống lại được?
3. "Một sào Phúc Ấm bằng 3 sào Trúc
Chuẩn"
Câu
này tôi đọc được trong sổ tay viết văn của Tô Hoài khi ông tham gia Cải
cách ruộng đất ở Trúc Chuẩn. Ghi chép của ông để nói về kinh nghiệm
viết văn. Theo tôi ở đây chỉ thuần túy về kinh tế: Làng Trúc Chuẩn
sát sông Gốm (như Đồng Xá, Đồng Pho...) nên mùa màng thất bát rủi ro
nhiều hơn so với Phúc Ấm (do ở xa sông hơn và có đường Cửa Rộc chắn
ngang hạn chế lụt lội). Làng không chỉ có nhiều ruộng đất mà còn
có đất tốt, điều kiện canh tác thuận lợi hơn nên giàu có hơn. Từ sau
1928, nông giang tưới nhờ đập Bái Thượng của người Pháp càng làm cho
Phúc Ấm có điều kiện canh tác tốt hơn khi tưới tiêu dễ dàng hơn các
cánh đồng làng khác, nhất là Trúc Chuẩn.
[1] Xem Phong trào
Văn Thân (1864) chủ yếu ở Nghệ An, Hà Tĩnh. Ở Thanh Hóa thì phong
trào có thể bị lợi dụng để gây bạo động mất trật tự ở một số
địa phương (nên gọi là "giặc Văn Thân") khi vào những năm
thoái trào.