Hiển thị các bài đăng có nhãn Suy ngẫm vụn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Suy ngẫm vụn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, tháng 7 15, 2025

“Ăn cơm nhà nước” và một vài suy ngẫm!

Tặng những người có ước mơ thành người nhà nước! 


Tụi trẻ trâu cùng tuổi ở quê tôi tất thảy đều mơ thành người nhà nước, nghĩa là được ăn cơm nhà nước và đi làm cho nhà nước.

Số là hồi đó những ai được ăn cơm nhà nước, dù là bộ đội, đi TNXP, đi học chuyên nghiệp hay công nhân, đều thấy có sự thay đổi rất rõ rệt – cao lớn hơn, đẹp trai, đẹp gái hơn so với khi ở nhà. Cơm nhà nước chắc chắn là có “chất gì đó” nên bọn họ đều có chất rất khác tụi trẻ trâu gầy đen, “ăn phải ruột lươn”[1] không chịu dậy thì!

Ghi chép ở đây trong trường hợp của riêng tôi, để có thể theo dõi “cho có mạch” hơn nếu lần lượt đọc thêm 4 ghi chép sau để thấy cái khát khao muốn thành người ăn cơm nhà nước.

Ghi chép  “Có một giấc mơ đại học” tại https://lehuuanhghichep.blogspot.com/2025/06/co-mot-giac-mo-ai-hoc-ki-1.html và tại https://lehuuanhghichep.blogspot.com/2025/06/co-mot-giac-mo-ai-hoc-ki-2.html và “Được vào đại học, may mắn thay đổi định mệnh” tại https://lehuuanhghichep.blogspot.com/2025/06/may-man-thay-oi-inh-menh.html “Cuộc sống sinh viên những ngày đầu tiên” tại https://lehuuanhghichep.blogspot.com/2025/06/cuoc-song-sinh-vien-nhung-ngay-au-tien.html

Từ tháng 7-1974 đến tháng 12-1975, tôi đã có hơn một năm “lắm vai”: người trượt đại học, nông dân, thủy nông viên, “bộ đội gia công”, thanh niên xung kích, sinh viên. Cuối cùng là tôi đã thành người được chính thức ăn cơm nhà nước. Những dòng kí ức dưới đây của tôi là chuyện đã gần tròn 50 năm trước.

“Ăn cơm nhà nước” đổi đời thể chất

Noel 1975 đến sau Tết dương lịch 1976, trời Hà Nội rất lạnh giá. Hồi xưa ấy ai cũng nói lạnh hơn bây giờ bởi 2 nguyên nhân: i/ quần áo không đủ mặc và ii/cái rét từ bên trong rét ra do thiếu dinh dưỡng (mỡ) giữ ấm cơ thể. Tôi nhập học (đợt 2) ngày 24-12-1975 đúng vào dịp đó, lại phải đi lại bổ sung giấy tờ nên nhiễm lạnh và viêm họng quá nặng, đến nỗi không nói được. Khi chưa kịp làm sổ y bạ, tôi đem giấy báo nhập học đi xin thuốc. Từ 13-1 đến 17-2-1976 vẫn còn bút tích nhân viên bệnh xá trường ghi 3 lần xin thuộc ho và viêm họng. Phòng 9 Nhà A2 Tổ 1 chắc vẫn còn nhớ hình ảnh tôi khi ở phòng luôn có cái khăn quàng to như một cái chăn quấn trên cổ. Đây là khăn len của Nga to dài dành cho người xứ tuyết nên nó như một cái chăn, tôi không dám mang theo khi đi học hay mỗi khi ra ngoài. Từ đầu tháng 4-1976, trời ấm hơn nên tôi mới đỡ viêm họng khủng[2] và sau này trở thành mãn tính suốt đời tôi mang theo.

Một chuyện khác là vào khoảng đầu tháng 3 năm 1976, anh em “đỗ vớt” trong lớp được gọi đi kiểm tra sức khỏe đầu và để làm y bạ. Trong số 6 người thì có 2 người lo lắng nhiều nhất là tôi và Lê Cao Bính. Tôi thì khi vào trường mới hơn 30kg một chút. Với cân nặng ấy có đủ sức khỏe để học không? Còn Bính thì có vấn đề lo lắng gì đó về tim mạch thì phải… Lúc này tôi đã được ăn cơm nhà nước hơn 2 tháng rồi.

Khi lên cân đo: nặng 32kg, cao 1,53m. Các phòng khám kiểm tra khác đều đạt. Như vậy tôi chỉ có vấn đề thể lực. Vào phòng kết luận, bác sĩ Nguyễn Thanh Tiềm cao lớn người Nghệ An bảo đã học được mấy tháng rồi, thể trạng này sẽ thay đổi nhanh nên không đáng lo lắng – kết luận đủ tiêu chuẩn sức khỏe học đại học. Tôi được cấp y bạ và quan trọng nhất là đã chính thức qua được “cửa ải điều kiện sức khỏe” – nỗi lo lớn nhất khi tôi đến trường!

Lúc này nỗi lo là mình đi học chậm hơn người khác 2 tháng thì cố mà học hỏi thêm. Nhưng môn Nga văn là đáng lo nhất vì mãi gần 1 tháng sau tôi mới biết cách đọc âm tiếng Nga qua chữ viết. Rồi lại xuất hiện nỗi lo khác về môn thể dục điền kinh. Thầy Đỗ Mộng Ngọc[3] dạy rất nghiêm khắc và theo quy định, sức khỏe chúng tôi sau năm thứ nhất phải đạt tiêu chuẩn tương đường vận động viên hạng 3.

Vào cuối tháng 3-1976, khóa 20 có đợt lao động 2 tháng tại trường theo chương trình học. Đối với tôi, đó là dịp may vì đi lao động thì tôi có dịp để tự học bổ sung kiến thức mình bị chậm, nhất là toán giải tích và Nga văn. Ngoài ra, quan trọng nữa là mỗi ngày tham gia lao động[4] được cấp thêm 125g lương thực – tương đương một cái bánh mì. Công việc lao động thì chỉ làm những việc ở trường như sửa lại kênh mương, trồng hàng rào mây quanh trại quả, lấy rau lợn, chăn trâu… Toàn những chuyện nhà nông tôi không lo sợ gì cả. Lại nhớ có hôm anh Hợp lớp trưởng cử tôi đi chăn mấy con trâu của trại, trâu là khỏi chuồng không muốn về và mãi tối đen tôi mới xua được đàn trâu về…

Kết hợp chuyện được ăn thêm một bánh mì, làm việc thì không nặng nhọc và thời tiết ấm lên nên sức khỏe tôi cũng khá dần, bắt đầu hết những cơn ho và viêm họng. Thi xong năm thứ nhất rồi được về hè, tôi cảm thấy sức khỏe tốt hơn rõ rệt so với khi mới vào đại học. Tuy nhiên câu chuyện lo môn thể dục điền kinh đã có cái kết: tôi (và một số người khác trong lớp) đã trượt kì kiểm tra môn thể dục điền kinh. Mặc dù mấy tháng trước khi kiểm tra tôi đã tự rèn luyện nghiêm túc, sáng nào cũng chạy mấy vòng ở sân vận động. Tôi còn nhớ buổi sáng kiểm tra ấy, thầy Lung phất cờ, thầy Ngọc bấm giờ. Quãng đường chạy 100m tôi phải mất 16,5s mà tiêu chuẩn đạt là 15s. Tôi trượt môn kiểm tra[5] đầu tiên (và cũng là môn trượt duy nhất trong những năm đại học).

Thầy Ngọc tuyên bố 16,5s khi tôi chạm vạch đích. Tôi vừa dừng lại thì thấy hoa mặt lên và ngã lăn ra đất. Khi tỉnh dậy tôi thấy mình đang nằm ở Trạm xá trường, bên cạnh có anh Ngọc, anh Khang và một số người trong Tổ 1. Anh Ngọc bảo tôi bị ngất ngay sau khi chạm đích, mọi người không kịp đỡ nên tôi ngã ngay trên sân vận động. Đây là lần ngất[6] đầu tiên tôi gặp phải trong đời. Thấy tôi tỉnh táo, các cô y tá bảo tôi nằm nghỉ một lát, đo nhiệt độ, huyết áp, và sau đó tôi được cho về phòng ở.

Sau 8 tuần hè, chúng tôi trở lại trường một cách háo hức. Riêng tôi thì vui lắm, về hè chỉ đi thăm anh gia đình Khang và gia đình anh Lan, còn chỉ quanh quẩn trong làng, xã. Hồi đó xã tôi có một thư viện mới, thế là tôi có nơi đến mượn sách đọc hàng ngày. Tôi cũng tham gia một số công việc với đoàn thanh niên ở quê hương và đặc biệt vẫn dám mượn cái dậm để kiếm cá (nhưng chỉ dám đi buổi trưa vì sợ có nhiều người biết). Chỉ đi đánh dậm vài giờ là kiếm được tép cá ăn cả mấy ngày. Ngoài ra còn giúp được mẹ những công việc nặng nhọc như gánh phân, gánh củi. Một câu nói mà đi đâu tôi cũng được nghe: ăn cơm nhà nước có khác, mới đi mấy tháng mà cao lớn khác hẳn. Đúng là nhờ cơm nhà nước!

Vào giữa tháng 10-1976, người ta có đợt kiểm tra sức khỏe sau 1 năm học cho khóa 20. Lúc này tôi đã không còn lo gì nữa: tôi nặng 45kg và cao 1,65m. Tuy vẫn đen và gầy, nhưng anh sinh viên Lê Hữu Ảnh đầu năm học năm thứ 2 nhờ được “ăn cơm nhà nước” đã từ đứa trẻ trâu nặng 32kg, cao 1,53m (tháng 3-1976), chỉ sau 7 tháng tôi đã cao thêm 12cm và nặng thêm 13kg. Cũng nói luôn là hết đại học 1980 tôi  có độ cao 1,73cm và nặng 52kg. Một kiểu lớn rất “Phù Đổng”!

Rõ ràng với tôi “ăn cơm nhà nước” có hiệu quả thần kì. Chuyện “dậy thì” chậm hơn với tuổi của tôi những năm ở quê và nay chuyện ăn uống đầy đủ hơn, bảo đảm dinh dưỡng hơn so với khi ở quê đã làm tôi bật dậy đổi đời về thể chất. Tôi đã có đủ thể lực để làm được mọi công việc ngày sinh viên ấy.

 

Chuyện nhà nước nuôi học đại học

Đi thoát li nghĩa là được nhà nước nuôi tất tần tật! Cũng nên nhớ lại một thời bao cấp đau khổ mà vô cùng “sung sướng” ấy.

Đầu tiên là không mất tiền học phí, không mất tiền ở, tiền điện, nước. Sinh viên[7] được tiêu chuẩn chế độ mỗi năm 5m vải (thay chế độ nhân dân chỉ 4m), lại còn có 300gram đường. Học bổng được 18đồng/tháng, lương thực 17kg/tháng, bìa thực phẩm (loại E hay D gì đó) ở Hà Nội được mua thịt, đậu phụ, cá, nước mắm, chất đốt, thậm chí cả rau xanh[8]. Tất nhiên, lương thực, thực phẩm, chất đốt và tiền thì nộp tất vào nhà ăn tập thể (những ai cắt cơm thì được trả lương thực bằng tem gạo). Như vậy, với 18 đồng/tháng và chế độ tem phiếu lương thực, thực phẩm, chất đốt, người ta chia đều cho số ngày trong tháng để có đủ ngày 2 bữa ăn. Thế là xong việc lo ăn, ở, đi học. Còn phải kể đến chuyện đau ốm được đi chữa, đọc sách có thư viện, đi thực tập xa có xe chở đi về. Những ngày nghỉ hè, nghỉ tết thì được trả phiếu lương thực (nhưng không có chế độ thực phẩm). Khi đi thực tập tốt nghiệp thì cá nhân tự lo tàu xe, nhưng có chứng nhận theo giấy công tác thì được thanh toán tiền tàu xe (chế độ lương thực thì phải cắt theo, nhưng không cắt theo chế độ thực phẩm – có lẽ món này các tỉnh không giống nhau). Cá nhân thì chắc chắn được mỗi năm được mua 5m vải và 0,3kg đường.

Hồi đó có chuyện vui là nữ sinh thì được học bổng 18,5đ/tháng (hơn cái lí do gì đó bọn nam chúng tôi không rõ lắm). Nghe nói nhiều cô bị cắt mất 5 hào vì tên gọi bị nhầm tưởng là nam, còn một số anh bị tưởng nhầm tên nữ lại có thêm 5 hào! Anh Đỗ Kim Chung lớp KT19A được tiêu chuẩn 18,5 đ/tháng mấy năm đầu, không biết anh Lê Ngọc Lan lớp ta có bị nhầm để có thêm 5 hào/tháng không nhỉ?

Đối với cán bộ đi học thì còn có tiêu chuẩn thuốc lá. Tổ tôi có các anh Lục, Khang, Minh, Kình,… đều được mua mỗi tháng mấy bao thuốc lá giá phân phối nhà nước qua căng tin trường. Nghe nói có người cưới thì chỉ cần xin bìa thuốc lá của bạn bè trong lớp vài tháng là đủ cả tiệc cưới!

Một tiêu chuẩn khác cũng được coi là ưu việt của thời bao cấp: nhà nước nuôi cơm đào tạo thì nhà nước tìm việc làm suốt đời. Không chỉ người đi học được hưởng “cái mát mặt” của người nhà nước mà khi đó trong chế độ ăn chia của HTX, các ưu tiên phân phối số 1 thuộc về gia đình có người nhà nước. Nghĩa là, nếu đi bộ đội, thương binh hay gia đình liệt sĩ được cấp một chế độ chính sách đặc biệt trong phân phối lương thực qua HTX, ngay sau đó là chế độ cho những gia đình có người nhà nước, rồi đến chế độ những gia đình có người đi học cấp 3 (quê tôi ngay từ hồi chiến tranh). Rõ ràng qua đó thấy những ưu ái cũng như “tầm nhìn” công bằng xã hội của tư duy “bao cấp” một thời.

Riêng bản thân tôi và gia đình tôi nếu không được trực tiếp hưởng những ưu ái đó thì chúng tôi không có được những gì như bây giờ. Thử hỏi gia đình tôi khi đó nếu không có chế độ học bổng nhà nước thì mấy anh chị em gia đình tôi làm sao được thoát li học hành. Tất nhiên nhiều người trong lớp chúng tôi khi ấy cũng đều vậy cả.

Ở trường Đại học Nông nghiệp I thì còn có một số ưu điểm: rau trồng tự túc được nên tiêu chuẩn rau xanh ăn khá đầy đủ, về Tết thì mỗi sinh viên có được một bánh chưng. Nghe nói chuyện ăn uống cũng có nhiều cải thiện hơn so với sinh viên các trường nội thành. 

“Chế độ bao cấp” - chuyện cũng nên nói lại

Rõ ràng nhà nước điều chỉnh cuộc sống mọi người bằng chế độ tem bìa phiếu để bảo đảm sự “công bằng” nào đó trong điều kiện của cải rất có hạn sau chiến tranh và các khốn khó hồi chiến tranh biên giới, chiến tranh Tây Nam. Nhưng thử đặt ra câu hỏi: nhà nước lấy từ đâu để làm ra cái chế độ “bao cấp” ấy?

Tất nhiên là chuyện nhà nước nuôi đào tạo thì nhà nước sử dụng. Cả cuộc đời người được nhà nước đào tạo sẽ phải làm cho nhà nước theo một chế độ nào đó mà chắc chắn nhà nước phải có được những lợi lộc nhất định từ những người được đào tạo làm ra. Chuyện mấy nước “bạn XHCN” có giúp đỡ vài trăm nghìn tấn lương thực hay gì gì đó thì cũng chỉ được một phần rất nhỏ so với nhu cầu cả nước. 

Có lần tôi đọc ở đâu đó rằng người ta tính toán như sau: một con người trong thế kỉ 20 với năng suất lao động trung bình thì nếu cứ sống đến 40 tuổi là đã bảo đảm hoàn lại đủ cho những gì lấy từ xã hội nuôi bản thân người đó. Ai sống (tất nhiên là làm việc) đến sau 40 tuổi là đã làm cho xã hội có lãi. Lãi ở đây không chỉ là tiền bạc mà trong kinh tế học đây thực chất là lãi cái giá trị “phúc lợi xã hội”. Tôi nghiên cứu lĩnh vực kinh tế học nhiều năm nên tôi biết rõ ngày nay người ta nhìn bao quát quan niệm phúc lợi xã hội (social benefit) - chi phí xã hội (social costs) = thặng dư xã hội (social surplus). Như vậy nhìn về toàn thể, xã hội bao giờ cũng lấy lại được phần thặng dư xã hội mà một người lao động sống và làm việc sau 40 tuổi. Nhờ đó mới có sự tích lũy của thế hệ trước cho thế hệ sau. 

Chuyện chi phí xã hội nuôi một con người

Đầu tiên là cha mẹ, gia đình lấy sức lao động làm ra để nuôi con trong giá trị “thặng dư xã hội” ấy một cách tất yếu. Tuy nhiên còn phải tính đến nhà cửa, ruộng đất ông cha bao đời để lại, của cải xã hội được sử dụng trên nền tảng xây dựng của con người nhiều thế hệ: đường sá, cơ sở vật chất, thậm chí cả văn hóa, lối sống, tập quán tiến bộ… Sau đó là những “tích lũy nhà nước” có được từ tồn kho (hay tồn dư lũy kế), bán tài nguyên, sử dụng lao động, đi vay…

Nhưng đó là lối nhìn khoa học tổng quát. Thực tế quê tôi khi ấy phải thấy như thế này: toàn bộ công sức lao động làm ra hạt lúa, cân thịt của mỗi người, mỗi gia đình đều thuộc nhà nước. Mỗi người, mỗi gia đình phải đóng nghĩa vụ cho nhà nước. Gia đình tôi lao động quanh năm trong HTX được bao nhiêu thì nhà nước thu cả, sau đó chia lại chỉ đủ ăn để tái sản xuất sức lao động làm tiếp. Thôi thì ta nghĩ cho đơn giản là làm trên ruộng đất nhà nước thì nhà nước thu, nhưng chuyện gia đình nuôi con lợn phải tự mua giống, dành thức ăn và công nuôi, thế thì sao nhà nước lại đòi nghĩa vụ đóng góp thực phẩm? Nhà tôi 5 khẩu (khẩu là tính trên số miệng ăn) mỗi năm phải đóng cho nhà nước 27kg thịt hơi (được cho là xác định theo số khẩu ăn lương thực thì tất nhiên còn có phần cám nuôi lợn). Lương thực được phân phối (nghĩa là được ban cho để tái sản xuất sức lao động). Cám chưa được tính trong sự ban cho ấy nên phải thu hồi, qua thịt lợn (!!!) Năm nào gia đình tôi nuôi được con lợn đủ 27kg thịt hơi[9] là vừa đủ đóng. Nếu cao hơn 27kg thì người ta trả lại phần thừa bằng tem thịt. Khi HTX có bán thì cầm tem thịt ấy đến mua, nhưng đa số không ai mua được. Nhưng nếu thiếu thì số thiếu được cộng dồn vào tiêu chuẩn nghĩa vụ cho năm sau. Đó là cái nhà nước thu để tồn tại chứ còn gì nữa!

Bất công quá nhỉ! Bất công thì chế độ nào cũng có. Mình “bị đóng” cái công nghĩa vụ của mình (đi bộ đội, đi làm cho nhà nước, đóng nghĩa vụ lương thực, thực phẩm…) nhưng bù lại “được hưởng” rất nhiều thứ (đi học, làm người nhà nước, có thu nhập, tài sản…). Trộm nghĩ, “nhìn xuống” thấy khối kẻ không được hưởng những cái như mình được - phải chăng kẻ đó đã “bị đóng” nhiều hơn hay “được hưởng” ít hơn?

 



[1] Hồi ở quê các cụ nói đùa bọn trẻ trên 16 tuổi mà không chịu lớn là “ăn phải ruột lươn” nên ruột bị xoắn lại, không nở ra để lớn được!

[2] Hồi đó có quan điểm cắt a-mi-dan để chống viêm a-mi-dan, nhưng cũng có quan điểm khi a-mi-dan bị cắt thì lại càng việm họng hơn do tiền đồn ngăn lạnh vào phổi và họng bị cắt bỏ. Cuối 1974, chế độ nuôi dưỡng để mau trở thành bộ đội đã cho tôi đi cắt cái a-mi-dan.

[3] Thầy Ngọc đã tốt nghiệp đại học thể dục ở Liên Xô.

[4] Chủ nhật nghỉ lao động thì không có bánh mì.

[5] Hồi đó chương trình đào tạo phân biệt môn thi và môn kiểm tra. Tôi sẽ nói rõ hơn trong bài Chương trình đào tạo kĩ sư kinh tế.

[6] Cho đến nay tôi đã 4 lần ngất – sau này đi khám kĩ các bác sĩ xác định được nguyên nhân ngất của tôi thường là những lần quá gắng sức tạo nên cơn thiếu máu não thoáng qua – một dạng đột quỵ nhẹ.

[7] Người đi thoát li khỏi nông thôn vào nhà nước đều có tiêu chuẩn 5m vải/năm.

[8] Từ bìa C, bìa B cà bìa A còn có trứng, sữa… tức tiêu chuẩn cán bộ cao cấp.

[9] Thịt hơi là cân khi con vật đang còn thở (hơi là hơi thở). Khi đi mua thịt về ăn gọi là thịt móc hàm – tức là con vật đã bị giết lấy thịt.

Thứ Bảy, tháng 6 14, 2025

Nhân được đọc bài thơ “Ngủ chung”

Chuyện “ngủ riêng lâu rồi ông ơi”

Trong một chuyến du lịch nước ngoài, chúng tôi được đến một điểm du lịch nổi tiếng – là điểm đến mơ ước của rất nhiều người trong đời. Sáng dậy tôi hỏi vui anh bạn thân: Tối qua vợ chồng có “đánh dấu” kỉ niệm gì ở đây không vậy? Anh bạn nói nhỏ: Đi du lịch thì xếp ngủ chung phòng thôi chứ ở nhà ngủ riêng lâu rồi ông ơi. Tôi tự nhủ: thôi xong, họ đã không ngủ chung nữa rồi!

Chuyện “lí do ngáy to như sấm”

Một cô bạn vợ tôi nói đã bắt đầu cho “ông lão” 60 tuổi lên ngủ tầng 3, còn mình thì chiếm cứ phòng master ông bà đã ngủ chung bên nhau tầng 2. Thế là lại có một đôi không muốn ngủ chung. Tôi bảo vợ tôi là vì sao bạn ấy lại cho chồng “lên tầng” khi cả 2 mới vào độ tuổi 60? Vợ tôi bảo cô ấy nói ông ta ngủ ngáy như sấm ai mà chịu được! Ái chà, thì ra là có “lí do ngáy to như sấm”.

Có một ông tôi biết rất rõ – vốn dĩ cùng cơ quan, có nhiều lần đi công tác với nhau – thì nổi tiếng ngáy to, không ai dám ngủ chung phòng, thậm chí còn không muốn ở gần phòng của ông luôn. Khi chúng tôi hỏi vợ ông ta là làm sao bà chịu được khi hàng ngày ông bà ngủ với nhau. Bà ấy tỉnh queo trả lời: Ông ấy đi công tác là tôi không ngủ được vì ngủ chung với ông ấy nhiều năm nên nay nghiện tiếng ngáy ấy rồi! Lại một thái độ chuyện “lí do ngáy to như sấm”.

Ngủ chung rồi ngủ riêng, chuyện “thâm cung bí sử” từng nhà. Nghe dzậy chắc gì đã dzậy! Có lẽ mỗi nhà, mỗi người đều có cái rất riêng mang tính “đặc sản” của mỗi nhà, mỗi người.

Nhà tôi thì cũng có những chuyện quanh cái món ngủ chung – ngủ riêng, thậm chí cũng có khi “hội thảo” hẳn hoi. Mà tôi thích nhất món “hội thảo” vì xưa nay có vô vàn “hội thảo”, tranh cãi đủ mọi thứ trên đời nhưng chưa có hội thảo nào rút ra được một kết luận. Vì vốn dĩ “hội thảo” là không có kết luận dứt khoát nên món ngủ chung – ngủ riêng ở nhà tôi cho đến nay cũng chỉ mới dừng ở mức có thể tham khảo khi cần thiết!

Tôi vừa được đọc một tác phẩm “để đời” – bài thơ Ngủ chung – tác giả là một người thân của bạn tôi. Tôi rất thấm thía cái đơn giản mà thầm kín, vừa dí dỏm lại thâm thúy của bài thơ này. Khoái nhất là hai câu kết – thời tiết thì bản tính thay đổi: có nắng mưa, có bão gió, có lạnh, có nóng… mà cái thay đổi còn dữ dội gấp bội ở “thời tiết” buồng ngủ, thế mà vẫn cứ “kiên trì ngủ chung” mới là kết luận giá trị.


Bài thơ của tác giả T.H.B

Tôi ước gì mọi người đến cái tuổi tranh luận ngủ chung – ngủ riêng thì cứ tạm dừng ở dạng kết quả “hội thảo” chứ đừng vội đưa ra kết luận gì sớm!

 

Thứ Bảy, tháng 2 22, 2025

Chuyện ngày sinh nhật của tôi

Viết nhân ngày bước vào tuổi mới

Đến tuổi “đầu 6 đít vô cùng” ngoái nhìn lại mới thấy cuộc đời rất tuyệt diệu và có nhiều điều đáng chiêm nghiệm và suy ngẫm: cái đúng có cần đúng? Giá dẫu đúng thì có tác dụng gì? Tôi xin đi từ câu chuyện của đời tôi.

Thứ Hai, tháng 2 03, 2025

Tri ân – Tại sao?

Chuyện 1 – Tri ân trong tự nhiên

Cửa phòng tôi hay ngồi đọc sách tầng 2 thông ra ban công đầy ánh sáng, lại có thêm con mèo ngủ trên ghế (tên y bạ của nó là Domben, tức Đốm – Bền: đốm vì cái mũi có chấm đốm, Bền vì đã bền bỉ sống với gia đình tôi được gần 13 năm). Thế là đủ luôn nhất thụ - nhị vân – tam nhân – tứ thú. Cây ngay trước cửa, mèo già ngủ say, ánh sáng gió trời mênh mông trên cao, dưới là các kiểu hoạt động thường nhật của người quen, kẻ lạ…

Chủ Nhật, tháng 1 12, 2025

Ba chuyện từ trải nghiệm du lịch đáng suy ngẫm

  

Hành trình hơn 10 năm đi du lịch nước ngoài cùng “bà lão” và bạn bè, thấy “thiên hạ” nhiều cái hay và cũng nhiều cái chưa hay. Đành rằng ở đâu cũng có những tinh túy, nhưng cạnh đó là những thứ cũng tầm thường thôi. Điều quan trọng là ta được “thẩm” những tinh túy qua sự cảm nhận để chiêm nghiệm các giá trị cuộc sống…

Ba mẩu chuyện dưới đây không phải là cái ta muốn trong những chuyến đi, nhưng đáng suy ngẫm.

Thứ Tư, tháng 12 25, 2024

Nghĩ về một trường phái khoa học

 

Lúc còn đi làm ở trường đại học, tôi đã từng có ước mơ Bộ môn có được một trường phái khoa học với mô hình GS đứng đầu, dưới có các PGS, dưới nữa có các TS, rồi các NCS TS, NCS ThS và các nhóm NCKH của sinh viên theo định hướng nghiên cứu của Bộ môn. Đại loại là mô hình một Bộ môn của một trường ĐH trên lớn thế giới có sự phát triển của các nghiên cứu đầu ngành. May mà mình chẳng làm nên trò trống gì, rồi đổ hết cho mọi thứ đều không có “điều kiện”…

Nghe ra có lí vì giấc mơ đó là một trường phái nghiên cứu khoa học có người đứng đầu (đầu đàn) luôn xưng danh là “sư phụ” và có các thế hệ “đệ tử” nối gót đồng tình phát triển trường phái lâu dài, thúc đẩy sự cố kết cùng nỗ lực nghiên cứu một định hướng được người đầu đàn gây dựng. Người đứng đầu xứng đáng chức danh GS để tạo ra một trường phái nghiên cứu độc lập, cạnh tranh và thách thức với các nhóm nghiên cứu khác đương thời và bất đương thời. Sự khác biệt đó tạo nên các thương hiệu trong khoa học, tạo nên các giải thưởng gắn với tên tuổi các trường ĐH và quốc gia.

Sau này tôi nghĩ lại những mô hình này có lẽ không cần thiết lắm và thậm chí không nên có. Thứ nhất vì mô hình “sư phụ” và “đệ tử” tạo ra sự lệ thuộc với nhau khi các thế hệ gia nhập sau “bị hiến thân” cho sự nghiệp của người đi trước. Các tầng lớp “đệ tử” bị lệ thuộc không còn dám sáng tạo hơn người đi trước, cứ theo lối người đi trước để làm đông đảo đội ngũ, để phát triển các râu ria như kiểu “vẽ thêm râu cho mèo”.

Thứ hai, liên hệ đến sự phát triển và tồn tại trong tự nhiên cho thấy những mô hình “đầu đàn” đều có vấn đề nghiêm trọng. Con đầu đàn chịu trách nhiệm bảo vệ đàn: nòi giống, lãnh thổ, nguồn thức ăn… trong sự cạnh tranh khốc liệt với các nhóm khác cùng loài và khác loài. Nghiêm trọng hơn là các thế hệ kế sau khi đang độ khỏe nhất, nhiều năng lượng nhất thì lại không có được sức giải phóng mà luôn bị kìm hãm bởi luật hà khắc nhất của nhóm: không thể kết đôi với con khác ở nhóm khác (vì tìm đôi ở nhóm khác thì bị nhóm khác đánh chặn bảo vệ), càng không thể kết đôi với anh chị em cùng nhóm, vì con đầu đàn giữ “đặc quyền” giao phối với tất cả các thế hệ giống cái trong nhóm. Vợ con đầu đàn (buồn thay và ghê tởm thay) lại chính là con, là cháu, là chắt… của chính nó. Các thế hệ con đực sau chỉ chờ cơ hội khi con đầu đàn suy yếu thì tìm cách kết liễu nó để lên thay và rồi lại độc quyền chiếm giữ lãnh thổ và “tài sản” của nhóm mình (khi đó vợ của con đầu đàn lại thành vợ của đứa con/đứa cháu chiếm ngôi). Có 2 nguy cơ dẫn đến tất yếu diệt vong: a/ sự cận huyết trong tạo giống di truyền; b/ Sự co cụm tranh giành cuộc sống với tài nguyên ngày càng khan hiếm. Ngày nay, nhìn trong tự nhiên các mô hình đầu đàn nổi tiếng như sư tử, voọc, gấu, báo… đều hầu hết chỉ còn trong các khu bảo tồn để cố sinh sống thêm một số thời gian nữa nhờ bàn tay cứu hộ của con người.

Một chuyện khác có tính xã hội hơn tự nhiên: khi một tộc người tìm cách sống trong mô hình co cụm không giao lưu xã hội cũng tất yếu dẫn đến chuyện đáng lo ngại: nguồn gen thoái hóa khi di truyền các thế hệ trên nền tảng cận huyết. Nhìn đám trẻ tộc H’mông ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta đều hao hao như nhau với khuôn mặt đờ đẫn, bàng bạc, trảng trẹt, thiếu hồn sống linh hoạt mà thấy buồn thay cho tương lai của chúng. Cả một làng hôn phối cùng tộc, cả một tộc hôn phối cùng loài (gen) làm sao có được sự phát triển ưu thế lai trong tiến hóa khi các gen trội tất nhiên mạnh mẽ di truyền cho các thế hệ sau. Đáng suy ngẫm lắm chứ!

Rõ ràng nếu có chăng sự tồn tại của một trường phái thì nên nhớ rằng tính lâu dài của trường phái là vô nghĩa vì sự cạnh tranh trong khoa học cũng như trong tự nhiên phải đi đến sự phá vỡ các trường phái khi chúng không còn tiên phong khoa học.

 

Thứ Hai, tháng 9 02, 2024

Ba chiều cuộc sống

 

Khi còn đi làm, để gia tăng giá trị tri thức phục vụ công việc thì tôi cứ tự khuyến: làm giàu tri thức bằng sự tích lũy hàng ngày, liên tục, kiên trì mỗi giờ trôi qua lại có thêm nhiều hiểu biết tri thức mới. Đại loại là chăm lo làm giàu tri thức theo dòng thời gian.

Chiều thời gian thì mỗi ngày ai cũng như ai đều có 24 giờ. Làm thật nhiều hay không làm gì thì 24 giờ cũng vùn vụt trôi qua. Chiều thời gian kéo chúng ta xềnh xệch từ lúc chào đời đến khi ta được trao cho thần chết một cách rất tàn nhẫn và công bằng.

Chiều tích lũy gia tăng giá trị (chiều sâu cuộc sống) phụ thuộc vào khát vọng, năng lực, kĩ thuật và phương pháp tích lũy cùng vô số yếu tố, điều kiện khác trong đó không thể không kể đến yếu tố may mắn mà ta được ‘bề trên tinh túy’ từ vũ trụ ban cho.

Còn chiều thứ ba ta thường quên hoặc giả vờ quên trong suốt cuộc đời mình: chiều rộng của cuộc sống. Người xưa nói ‘lòng rộng 1 thước, đường rộng 1 trượng’. Sách Thái Căn Đàm[1]: ‘đi đường nếu gặp phải đoạn đường chật hẹp thì nhường 1 bước để người ta đi qua’. Nhường 1 bước là cao, lùi 1 bước là nền tảng để bước tiếp.

Chiều thứ ba này tưởng dễ mà lại khó thực hành vô cùng: thực chất Lão Tử coi là đạo của nước (tìm nơi thấp nhất mà ở), còn ở lòng người thì đó là sự khiêm cẩn (khiêm tốn – cẩn trọng) và khoan dung (bao dung – tha thứ).

Chiều thứ nhất ta không thay đổi được, chiều thứ hai là ta cố gắng nhưng chiều thứ ba là ta thực hành trí huệ. Cái có được ở chiều thứ hai chẳng là gì cả, chỉ là sự ham hố tha về đầy tổ để khi nhận thấy chúng vô dụng thì băn khoăn buông bỏ. Chiều thứ ba kiểm lại mới thấy rõ chân giá trị cuộc đời.



[1] Hồng Ứng Minh: Thái Căn Đàm - Tinh Hoa Xử Thế Phương Đông (Dịch giả: Lê Tiến Thành). Nhà xuất bản Hồng Đức, 2024.

 

Chủ Nhật, tháng 8 18, 2024

Tuổi thơ nhân tạo

 

Cứ đúng 8.45am các ngày thứ (trừ ngày mưa) tôi lại thấy các cháu nhà trẻ ở cạnh nhà tôi được các cô đưa đi dạo trong chương trình nuôi dưỡng hàng ngày. Hai cô cầm 2 đầu dây, nắm theo dây là 10-14 cháu, trai mũ xanh, gái mũ đỏ. Nhìn các cháu đi trong hàng, ai thấy cũng vô cùng hoan hỉ khi thấy những khuôn mặt trẻ thơ, hồn nhiên, thánh thiện. Tôi và con Domben đứng bên này đường nhìn qua, các cháu nhao nhao: cháu chào mèo, cháu chào ông ạ. Cứ thế hàng ngày nếu không bận gì tôi cũng đợi nhìn các cô dẫn “một xâu” các cháu đi qua trước mặt. Buổi sáng đang tĩnh lặng bỗng thành ồn ã, vui nhộn. Ai cũng như mong một buổi sáng tốt đẹp cho mọi người. Ai cũng thầm mong các cháu được vui sướng, được nuôi dưỡng tốt để lớn lên đẹp cả về thể chất lẫn tâm hồn. Tất nhiên đây là các cháu được sinh ra trong các gia đình có điều kiện chi ra hơn chục triệu/tháng để các cháu được vui khỏe hàng ngày. Hạnh phúc quá, tương lai tươi đẹp quá!



Nhìn những khuôn mặt thần tiên ấy ai mà không mơ về cái thuở thơ dại của mình… Nghĩ về những năm tháng xưa cũ, cái tuổi thơ hoang dại của những đứa trẻ làng nghèo chúng tôi thời ấy, tôi bỗng so sánh: các cháu đi trong cái “xâu người” ấy ngày nay có sướng hơn chăng?

Không thể kể hết những kí ức xưa cũ, nhưng tôi còn nhớ hồi khoảng 3 tuổi, bố mẹ phải đi làm, chị 9 tuổi trông em (1 tuổi), tôi (3 tuổi) được mẹ ra sông gánh về một gánh cát ẩm đổ ra sân. Thế là sà vào chơi cát cho đến lúc mẹ đi làm về vẫn chưa chán (tất nhiên là đất lẫn cát dây mặt đầy người bẩn như ma lem). Vầy trong đống cát đó cho đến nay tôi vẫn còn cảm nhận thấy có những con hến nhỏ, có các viên sỏi nhiều màu, có cả những con trùng cựa quậy… Càng tìm càng thấy nhiều điều thú vị.

Lớn lên một chút là cái tuổi thơ được tự do với nắng gió sông nước đồng quê ngập tràn năng lượng thiên nhiên: mùa hè tắm sông đến khi mờ mắt mới thôi, cưỡi trâu, thả diều, đá bóng (bằng quả bưởi héo rụng), chơi ú tim có đứa ngủ quên trong đống rơm khi mẹ tìm được thì sương ướt cả đầu. Rồi đùa vui trong những cơn mưa rào tháng 8, rồi trèo cây, bắt cá, trộm quả xanh… Lũ trẻ không có trò nào không trải, lớn lên hồn nhiên như cỏ dại ven đường, gầy đen nhưng đầy năng lượng.

Những năm 1964-1968 (tuổi 7-11) còn được cái “thú” trải nghiệm bom đạn: trưa hè nằm cạnh những đống rạ giữa cánh đồng nhìn máy bay Mĩ sáng loáng nhào xuống cắt bom đánh phá cầu Hàm Rồng, lại được thấy đạn pháo cao xạ của ta bắn 5 viên một cụm nổ 2 lần oặc oặc. Nhiều lần thấy máy bay Mĩ trúng đạn cháy bùng như bó đuốc, thấy phi công nhảy dù… Cũng còn khiếp cái cảnh những mảnh đạn pháo cao xạ của ta nổ trên trời, mảnh pháo lúc rơi xuống kêu như tiếng con ong véo véo quanh mình. May mà lũ trẻ cả làng không đứa trẻ nào, không con trâu nào dính mảnh của chúng. Thú thật nếu có đội 3 lớp mũ rơm thì vẫn thủng đầu…

Ôi cái tuổi thơ tự do, hồn nhiên và dữ dội sao mà sướng. Học hành, chơi games, quần áo sạch sẽ đồng phục, ăn uống đầy đủ… chắc gì tôi muốn đổi?

Cái tuổi thơ của các cháu kia đẹp quá, sướng quá mà sao “nhân tạo” thế. Các cháu còn được ngồi trong phao cao su bơm nước vào, trên thì phun nước như mưa để vui vầy. Tất cả 1 ngày là một chuỗi hành động kèm hiệu lệnh: mẹ đưa-cô đón, ăn-chơi-ngủ-thức-chơi, cô trao-mẹ đón, ngày lại ngày diễn ra trong hiệu lệnh của các cô. Một điều rất quan trọng khác: năm 2023 ở Việt Nam có tới 54% số trẻ được ĐẺ NHÂN TẠO bằng phương pháp "mổ bụng bắt con". Đẻ nhân tạo và nuôi dưỡng nhân tạo. Cái tuổi thơ nhạt nhẽo biết chừng nào, sau này có nhớ lại thấy kinh hoàng lắm lắm không đây?

Có lần tôi được đọc thấy ngày nay người ta lo rằng các nước giàu bây giờ nhiều người không muốn đẻ, tụi trẻ chủ yếu được sinh ra ở các nước nghèo, gia đình nghèo, dân tộc nghèo… Rồi người ta lo mất cân bằng: người giàu thì cứ giàu hơn, người nghèo thì cứ nghèo đi và lũ trẻ đàn đống ấy sẽ lại cứ dốt hoài. Nhưng cũng có người cãi lại rằng cái tụi giàu này sống có ích gì, gen của họ ngày nay yếu kém lắm, có sinh ra đứa nào thì cũng là những đứa trẻ yếu và hèn, rồi lại kiểu sống trong môi trường nhân tạo kia ai dám chắc loài người không thoái hóa biến mất trong mấy trăm năm nữa. Vậy cái sứ mệnh sinh sản vô tội vạ của xứ nghèo phải chăng được Đấng Tạo hóa sáng tạo để trái đất này còn lưu giữ những gen tốt tự nhiên, mạnh mẽ, không bị thoái hóa… đặng sau này còn có cơ nhân giống trở lại vào cái ngày lũ “con người nhân tạo” lụi tàn.

Thứ Sáu, tháng 7 05, 2024

Chẳng có gì thất bại hơn thành công

Khi đọc được câu từ một tác phẩm của Osho[1]: ‘Chẳng có gì thất bại hơn thành công’, ban đầu tôi nghĩ có gì đó sai sai, sau đó nghĩ lại…

Thành công của cá nhân vừa là kết quả vừa là hậu quả. Dù sao thì những cố gắng để đạt tới được một mục tiêu nhất định đem đến thành công. Thành công bao giờ cũng được nêu trong quan hệ ‘nhị nguyên’ (tức là có so sánh với cái gì đó). Chưa đạt tới tức là chưa thành công (hay thất bại). Rõ ràng có ‘cái sào’ tiêu chuẩn trong so sánh được đặt ra, khi nhấc ‘cái sào’ so sánh ấy lên một tí thì cái thành công có thể đã thành… thất bại.

‘Cái sào’ so sánh ấy thường căn cứ vào những tiêu chuẩn cơ bản ‘phi tự nhiên’ như số kết quả tạo ra được (do sự chăm chỉ, cần cù, khôn ngoan, khéo léo…), số thời gian thực hiện (như các thành tích, kỉ lục thể thao…) hay sự kết hợp của chúng (năng suất). Dựa vào đó, người ta lấy những mốc cần tính để tôn vinh lẫn nhau, tạo ra cơ sở những tự tôn, tự ti trong một nhóm người (cộng đồng). Thành công rồi thành công mãi để rồi làm gì? Có được thành công để ‘gặm nhấm’ nó thì có hơn được sự chưa từng khát khao thành công để về sau không cần phải nghĩ đến sự hơn thua một thuở???

Những thành công đến được từ tự nhiên hoặc được hưởng của tự nhiên: biết sống, biết lắng nghe, ứng dụng cái tự nhiên có thể của mình với tự nhiên (vũ trụ) thì vô cùng đáng kể lại hầu như không được đề cập đến. Con người ta vốn là một thành phần vô cùng bé nhỏ của tự nhiên, tồn tại (một lát) trong vĩnh hằng tự nhiên… Thuận theo tự nhiên (thuận thiên) phải chăng mới là cái đáng kể so với những thành công (nhỏ nhen) của sự đố kị tự tôn/tự ti trong đời.

Mà thực ra sống một cách ‘thuận thiên’ cũng không cần thành công nào cả: chẳng qua là có được phúc lạc đưa tâm thức mình vào được với tự nhiên thôi.

28-6-2024



[1] Osho: Đạo – ba kho báu, truy cập ngày 28-6-2024 tại https://oshovietnam.wordpress.com/2010/05/15/dao3khobau

 

Công cụ chia rẽ tuổi thơ

Chúng ta sống ở thời trẻ em trên toàn thế giới bị dọa lấy toán để chia rẽ. Nếu không có toán có lẽ tụi trẻ lớn lên hồn nhiên, vô tư và đều thông minh như nhau. Khi gặp “tư duy toán”, tính hồn nhiên của chúng bị phân biệt cao thấp qua năng lực logic ban đầu. Mà nói chung năng lực ấy bị xã hội hóa (qua giáo viên) đánh giá, dọa nạt để phân biệt thành đẳng cấp (thông minh, xuất sắc, giỏi, dốt…). Nạn nhân là tụi trẻ bị bắt nạt nên gây ra suy sự tôn nhau, nể trọng nhau, cuối cùng thành những kẻ tự tôn (coi mình hơn người) và tự ti (coi mình kém người). Rồi sự suy tôn, nể trọng đó chúng biến thành tư cách trong công việc và cuộc sống suốt cả đời người.

Nếu kẻ nào sớm có sự may mắn được giáo viên đánh giá cao về ‘tư duy toán’ thì từ đó bắt đầu có những ưu ái đầu tiên của cuộc đời. Ban đầu, từ giáo viên, bạn bè, sau đó lan ra cộng đồng (vì nghe người ta nói vậy). Điều đó có khi thành động viên nhưng có khi lại là áp lực. Áp lực nhất là mỗi khi va chạm năng lực với một nhóm mới, nếu mình vượt qua được thì tốt, còn không vượt hơn được là gây ra những lo lắng, thậm chí còn mất tự tin, nghi ngờ, đố kị… Đố kị rõ ràng cũng có những nguyên cớ từ toán.

Tư duy toán có giá trị trong khoa học, điều đó không thể phủ nhận. Tuy nhiên trong xã hội, những người lao động ít khi vận dụng toán trong công việc. Khoa học dẫn dắt sự phát triển của trí tuệ nhân loại nhưng đa phần người lao động bình thường sử dụng công cụ công nghệ (thành quả của khoa học) đâu có cần toán nhiều đến thế. Lẽ nào toán và áp lực tư duy toán đã gây ra bao phiền muộn cho những thất bại của bọn trẻ từ khi chúng bị lùa vào 1 nhóm và bị bắt nạt bởi logic toán. Có lẽ sự phải chăng nên đơn giản và trong sáng hơn từ việc áp đặt toán ít đi hoặc dễ hơn, nhất là logic toán ban đầu cho mọi người.

Một khi đã trưởng thành trong cuộc sống mới thấy cái thời của toán xa xưa ấy thật ấu trĩ và đầy kinh hoàng. Giá phần lớn loài người không sợ toán thì tư duy con người cứ như bầy đàn lũ chim, lũ thú: cứ theo kinh nghiệm và năng lực sức khỏe của con đầu đàn. Trong sự di động theo tự nhiên của bọn thú ấy thường rất hài hòa hoàn hảo nhưng được sắp xếp theo trật tự tối ưu toán học[1]. Đằng này con người khỏe mạnh nhất về thể chất và tinh thần lại lầm lũi đi theo kinh nghiệm của những con người yếu ớt giỏi toán (mà giỏi toán thì cơ bắp và tinh thần làm sao mà phát triển được !).

15-1-2023



[1] Trong bọn thú bầy đàn, những con đi đầu có nhiều tố chất đặc biệt. Xem web https://kenh14.vn/su-that-dang-sau-buc-anh-dan-soi-day-nhan-van-dang-gay-bao-cong-dong-mang-20170703131642887.chn#:~:text=%22Trong%20%C4%91%C3%A0n%20s%C3%B3i%3A%203%20con,%C4%91%C6%B0%E1%BB%A3c%20b%E1%BA%A3o%20v%E1%BB%87%20trong%20%C4%91%C3%A0n.

Tiếng mẹ đẻ

Tiếng mẹ đẻ thường dùng để nơi về quê hương của một người hay nơi sống của mẹ đứa trẻ. Đứa bé nghe được mẹ nói những âm thanh đầu tiên và tập nói theo mẹ những âm bập bẹ những tháng mới chào đời với tâm vô thức. Thực ra nó đã được nghe tiếng của mẹ trong thế giới bào thai 9 tháng qua người mẹ. Trong quá trình phát triển của bào thai, đứa trẻ phát triển dần dần tâm lắng nghe những âm thanh từ nhịp đập tim mẹ, từ hơi thở mẹ và từ những vận động của cơ thể mẹ…

Rõ ràng tiếng mẹ đẻ là sự độc quyền, là bản quyền của dòng máu nguồn gốc mẹ: nguồn gốc cội nguồn (gen, giống nòi), nguồn gốc sinh sống (nơi cư trú) nguồn gốc tự nhiên (giống nòi kết hợp những tác động của vũ trụ, sống núi, đất trời nơi mang thai đứa bé).

Người cha như biểu hiện ‘ăn theo’ gán ghép không thể có được tiếng cha (khi) đẻ cũng như sự kết hợp của 3 nguồn gốc trên. Người cha xen được vào những âm thanh lúc đầu hình thành ngôn ngữ của bé: đó là khi bé được quan tâm của người cha khi lắng nghe và tìm hiểu ngôn ngữ xã hội. Đứa bé ngồi trên bụng cha nhìn chăm chú vào miệng cha nghe cha nói và phản ứng lại theo cách của bé. Khi bé nói phát âm được từ ‘ba’, ông bố bèn lợi dụng nói: 2+1 bằng mấy? nó nói ‘ba’ (3). Ông bố khoái chí phát triển tư duy toán cho bé: 2 mũ mấy thì bằng 8? nó nói ‘ba’ (3). Vậy căn bậc 3 của 27 bằng mấy? nó lại nói ngay ‘ba’ (3). Cứ thế, cứ thế… cho đến lúc bé thấy chán, nó nói liền một hơi ‘bababababa” (33.333), ông bố sung sướng bảo với mẹ: nó có tư duy toán rất tốt, tôi vừa hỏi nó 1 triệu chia 3 thành bao nhiêu?

Tiếng ‘cha đẻ’ nói chung không thể liên quan đến cội rễ vô thức của bé cho đến tâm thức sau này. Tiếng mẹ đẻ là độc quyền vĩnh viễn của người mẹ được phong tặng mà không thể tranh cãi.

2-6-2024