Hiển thị các bài đăng có nhãn Quân khu 9 - Muôn dặm nẻo đường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quân khu 9 - Muôn dặm nẻo đường. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, tháng 5 25, 2025

Nhìn lại những năm tháng quân ngũ

  

“Có lần, một thầy giáo già hỏi tôi rằng hồi mấy năm đi bộ đội anh có được những gì? Tôi bỗng trả lời ngay rằng nhờ những năm tháng đó mà tôi đã có được tất cả những gì tôi có hôm nay”!


Nhìn lại những năm tháng quân ngũ ở Quân khu 9, các chuyến đi công tác đến các đơn vị quân đội làm kinh tế, các giao tiếp và sinh hoạt với xã hội và người dân phương Nam, tôi thấy có quá nhiều điểm lí thú. Có thể tạm tổng quát lại thành 4 điểm chính: Một là, tôi được thỏa cái nguyện đi-lại (xê-dịch) của tuổi trẻ: mỗi lần xách cái ba lô ra khỏi doanh trại như một dịp được biến thành cánh chim tự do khám phá, ngắm nhìn những điều mới lạ để nhận biết, cảm thụ và từ các trải nghiệm tích tụ thành chiêm nghiệm. Hai là, được đến với miền đất trù phú, phì nhiêu, hào phóng của thiên nhiên và sự hào sảng của con người sinh ra trên miền đất ấy. Chính sự hào phóng của thiên nhiên đã tạo nên con người hào sảng xứ này. Ba là, thấy bao nhiêu điều lạ, điều chưa từng được biết kích thích sự tò mò, ham hiểu biết và Bốn là, thấy rõ thực chất làm kinh tế của quân đội (như một số ghi chép tôi trong blog[1]).

Tạm gọi đó là những tổng quát nho nhỏ của những năm tôi ở đây, nhưng trong li ti cuộc sống có vô vàn các chi tiết đáng nhớ, đáng yêu…

Thứ Tư, tháng 5 21, 2025

Chia tay một thuở


Gọi là một thuở với Trần Hữu Giang – Lê Hữu Ảnh – Lê Cao Bính, nhưng là tới gần hết 9 năm trời. Một thuở trẻ trai ngờ ngệch!

Vào những tháng của mùa thu 1984, chúng tôi xuất ngũ nhận công tác ở những miền đất mới. Cũng từ đó, chúng tôi thực sự chia tay cái thuở “chung sống” cùng nhau. Riêng tôi nghĩ, sự chia tay đó tất yếu phải đến. Việc chia tay đó là duyên phận một thời và rất may là lại chưa thể “hết duyên” với nhau.

Rõ ràng thời cuộc tạo ra duyên phận của chúng tôi. Tôi đã dành hẳn một chuyên mục dài (Page: Thời cuộc và duyên phận với các Label dự định viết 4 mục lớn[1]). Sau khi đã viết được vài chục bài lại thấy rằng: thật khó để tách một sự kiện nào đó trong 9 năm ra khỏi chúng tôi vì hình như chúng tôi đều có mặt tham dự hoặc chứng kiến. Nhưng cái lạ là sau khi đã “mỗi người mỗi ngả” thì vẫn có rất nhiều sự kiện lại vẫn như đang có cùng nhau! Tại sao vậy? Đó là câu hỏi cần tiếp tục lí giải thêm, hay cái duyên vẫn đang cùng nhau trong mỗi biến đổi thời cuộc?

Thứ Ba, tháng 5 20, 2025

Xuất ngũ về Bắc (kì 3)

Bài học nhớ đời ngày muốn trở thành công dân Hà Nội


Tôi từ giã phương Nam ngày 23-9-1984 sau khi cả Bính và Giang đã xuất ngũ trước tôi. Sở dĩ tôi nán lại chút cũng là cố chia tay với bạn bè, người quen vì biết rằng mình sẽ còn rất lâu nữa mới có điều kiện quay trở lại[1]. Dù sao thì gần 4 năm ở Cần Thơ (chính xác hơn là 3 năm 6 tháng – đến Cần Thơ ngày 23-3-1981) nên tôi cũng có nhiều người quen, nhiều kỉ niệm khó quên. Có những người tôi phải mấy lần “nâng chén chia tay” mới thật sự từ giã như gia đình cô Hòa – thầy Liễn, ông Chước, bạn bè cùng quê… Những ngày này tôi đã bán đi đôi vành xe thồ Nhật Bản đổi lấy đôi vành xe “inox Chợ Lớn” và uốn thẳng cái ghi đông, lắp thêm cái đèo hàng cho cái xe đạp của mình. Số tiền dư được nhờ bán đôi vành xe đạp được góp thêm chút cho mấy buổi liên hoan chia tay…

Tôi hí hửng về quê nghỉ ngơi rồi nhanh chóng ra Hà Nội lo công việc. Khi xuất ngũ tôi đã xin thêm giấy đi phép tháng 9 và tháng 10 từ QK9, lại làm tạm trú tại quê từ tháng 11 và 12 để tính chuyện được cấp lương thực theo Giấy cắt chuyển Lương thực từ QK9[2]. Tôi tính định tìm nơi có thể xin việc rồi mới qua Trường Đại học Nông nghiệp I làm thủ tục vì còn ý định khi đó chuyển về trường chỉ là để lấy giấy phân công công tác từ trường đến các cơ quan khác (nếu mình liên hệ được nơi nhận công tác).

Thứ Hai, tháng 5 19, 2025

Xuất ngũ về Bắc (kì 2)

Thủ tục ra quân, chuyển ngành

Tôi trở vào Nam khoảng giữa tháng 7-1984 để làm thủ tục xuất ngũ. Lúc này nhiều người đã chuyển ngành sang công tác bên dân sự. Giang đã xin được công việc ở Cần Thơ, Bính cũng đã có được giấy tiếp nhận ở Ty Nông nghiệp Nghệ Tĩnh.

Tôi cũng bắt đầu bớt băn khoăn là làm thủ tục theo giấy tiếp nhận của tỉnh Thanh Hóa hay theo giấy tiếp nhận của Trường Đại học Nông nghiệp I. Nếu về Thanh Hóa thì khó có cơ hội phát triển chuyên môn sau này. Tôi cũng đã bàn với một số anh em ý định của mình trước khi gửi giấy đi làm thủ tục. Giang thì không nói gì nhưng Bính cũng cho rằng tôi cứ ra trường làm thủ tục giảng viên trước, sau đó thấy không hợp lí thì chuyển sau qua chỉ tiêu của trường hoặc không thích làm giảng viên thì ở phòng ban nào đó cũng được để có thể có hộ khẩu ở Hà Nội trước. Còn sau này muốn về Thanh Hóa thì từ hộ khẩu Hà Nội rồi chuyển sẽ không khó gì, nhưng ngược lại từ Thanh Hóa sẽ khó có cơ hội chuyển ra Hà Nội được. Cuối cùng thì tôi đã nộp giấy tiếp nhận của Trường Đại học Nông nghiệp I, nhưng trong thâm tâm cũng nghĩ mình khó có thể trở thành giảng viên đại học lâu dài.

Xuất ngũ về Bắc (kì 1)


Chúng tôi vào bộ đội năm 1980 với cả mấy ngàn sinh viên tốt nghiệp các trường Đại học – ai cũng tưởng rồi cả đời quân ngũ! Tình hình những năm thập kỉ 1980s ấy có nhiều biến động. Luật Sĩ quan 1981 và quá trình “giải trừ quân bị” bắt đầu được cụ thể hóa bằng hàng loạt các đơn vị kinh tế quân đội giải thể hoặc chuyển sang dân sự. Các kĩ sư-hạ sĩ quan cuối từ 1982 đã lần lượt xuất ngũ, chuyển ngành. Việc xuất ngũ của nhóm kĩ sư-sĩ quan từ 1983 đã rõ dần. Từ đấy, trong chúng tôi ai cũng chuẩn bị cho mình một phương án nghề nghiệp sau khi giải ngũ.

Như đã ghi chép trong các lần đi phép ra Bắc[1], khi tôi đi phép năm 1983 đã gần như rõ hướng chuyển ngành ra Bắc. Tuy vậy, năm 1983 cũng là thời gian có nhiều cân nhắc khá gay cấn về chuyện ra Bắc công tác vì nó liên quan đến quyết định tiếp tục phát triển hay chia tay với bạn gái nữ sinh Đại học Cần Thơ. Tôi cũng rất thích thành phố Cần Thơ bé nhỏ, thơ mộng lại rất nhiều kỉ niệm. Nếu có được công việc ở đây và sẽ tiếp tục tình bạn thân thiết với người mình muốn cũng là một lựa chọn đáng được ưu tiên. Tại đây, tôi quen một anh chị[2] cùng quê công tác ở Công ty nông sản Hậu Giang (thuộc đơn vị của Tổng Công ty Nông sản miền Nam). Anh chị ấy có gợi ý tôi chuyển về đây làm việc và anh cũng đưa tôi cũng đi gặp vài nhân vật quan trọng. Nếu chấp nhận công việc ở đơn vị thu mua hoặc bảo quản chế biến thì có thể người ta giải quyết được. Tuy nhiên, hoàn cảnh gia đình và một số băn khoăn công việc nên tôi chưa thể có quyết định rõ ràng.

Thứ Hai, tháng 5 12, 2025

Chiếc xe đạp đầu tiên của tôi

  

Năm cuối năm 1983, tôi có chiếc xe đạp đầu tiên. Có lẽ cũng thời chúng tôi mới có những “câu chuyện đầu tiên” về những gì mình có được để nhớ. Sở dĩ có cái để nhớ đời vì chúng có quá trình tích góp của toan tính và có sự chung tay giúp đỡ của nhiều người. Mà cũng phải đến năm 26 tuổi, phải gần 4 năm đi làm tôi mới có được điều mơ ước nhỏ nhoi này.

Năm đó nhiều người trong đơn vị đã có chiếc xe đạp riêng. Ba chúng tôi cùng phòng thì Giang có xe đạp sớm nhất: một chiếc xe nguyên hiệu của một hãng nào đó - hình như tên xe là Cửu Long (?). Sau đó Bính cũng sắm được một chiếc, bằng cách mua khung xe của QK7, rồi ra khu phố “chợ giời” Cần Thơ mua phụ tùng lắp. Nhìn chung 3 anh em có 2 xe thì cũng đủ đi lại. Tôi cũng thường mượn xe để vào kí túc xá ĐH Cần Thơ chơi với các bạn nữ sinh nhiều lần.

Thế rồi tôi cũng có ý định “dựng” cho mình một chiếc xe đạp. Tôi nhờ anh Quất mua cho tôi cái khung xe QK7 sản xuất mang từ Sài Gòn xuống trong một chuyến anh đi công tác QK9. Rồi một lần Cục Hậu cần “duyệt bán nội bộ” một số vành xe đạp thồ Nhật Bản, tôi nói anh Quất làm giấy xin mua và đã được phê duyệt từ ông Cục phó Nguyễn Nhật Quang[1]. Giấy được kí duyệt thì anh về Sài Gòn, tôi giúp anh làm các thủ tục lấy đôi vành xe đắt tiền giữ hộ anh. Lần về phép năm 1983, tôi xin anh trai tôi cái ghi đông và potang (cổ) xe đạp thể thao Liên Xô (anh mua khi đi Liên Xô về năm 1981) nhưng về Việt Nam thì anh đổi sang ghi đông thường để đi hàng ngày. Lúc này em trai đi lao động ở Tiệp Khắc cũng đã gửi được một số phụ tùng, tôi có một xích, một líp và một đôi pedan xe của Tiệp Khắc.

Thứ Bảy, tháng 5 10, 2025

Tình cảm đồng đội qua những lần dự cưới

 

Được dự các đám cưới[1] của những người bạn lính là sự vinh dự biết bao, nhất là khi mình còn đang mang áo lính. Tuy nhiên, cả khi đã thôi áo lính mà vẫn được dự các đám cưới của người bạn lính cũng vẫn thật sự vinh hạnh và đáng nhớ.

Dự cưới anh Lê Ngọc Lan và chị Lê Thị Dính

Vào dịp sát đến Tết năm 1981, đơn vị cho chúng tôi biết việc từng người được phân công đến các đơn vị, quân khu cụ thể. Đa số chúng tôi được cử đến các Quân khu phía Nam. Trung đoàn huấn luyện 826 đã có quyết định cho bộ đội về phép nghỉ Tết trước khi đi Nam (như tôi đã viết trong mục Những ngày đầu quân ngũ và Dọc đường vào Nam).

Thứ Hai, tháng 5 05, 2025

Ba lần đi phép ra Bắc


Trong 4 năm ở bộ đội, tôi có 3 lần đi phép ra Bắc theo chế độ như mọi người khác. Hồi đó cơ bản đơn vị thì không có việc gì nhiều, đi về bằng tàu xe lại rất khó khăn nên mỗi lần đi phép có khi thời gian ghi trên giấy phép và các chế độ[1] cắt theo phép ít nhất 45 ngày (một tháng rưỡi). Quy định đi lại qua đường giao liên, khi có giấy nghỉ phép thì người đi phép đem giấy đến các đơn vị Trạm khách (kí hiệu các T như T80, T82…) để đăng kí, các Trạm khách chờ thủ tục tàu xe để xếp cho từng nhóm đi. Khó nhất là chờ tàu hỏa vì mỗi đoàn tàu thống nhất chỉ có vài toa dành quân sự mà quân đội nên có khi phải chờ cả tháng. Ở các tỉnh ngoài Bắc khi trở vào lại càng khó vì họ cũng phải đăng kí trả phép qua các T80 của Tỉnh đội, mà khách đi vào luôn có hiện tượng nhiều hơn so với đi ra nên việc phải chờ hàng tháng kể từ khi đăng kí là chuyện thường. Thành thử mỗi lần đi phép cứ ít ra phải vài tháng mới trở về đơn vị được.

Thứ Sáu, tháng 5 02, 2025

Tình cảnh cuộc sống người lính sau chiến tranh


Những năm tôi ở quân ngũ tại QK9 là những năm chỉ còn lại những tranh chấp biên giới phía Bắc và những trận đánh tàn quân Polpot ở nước bạn Campuchia, tức là những năm tháng của thời bình. Nhưng cuộc chiến đấu mấy mươi năm của đất nước với kẻ thù, quê hương Việt Nam vô cùng kiệt quệ và nghèo đói. Thế hệ chúng tôi có một tuổi thơ đói nghèo và bom đạn. Cái đói, cái nghèo theo mãi cuộc sống mỗi người trong những ngày tháng chiến tranh, trong những ngày đã im tiếng súng ở mỗi cán bộ chiến sĩ và nhân dân trong những ngày chúng tôi là người lính trong QK9.

Dưới đây là một số ghi chép của tôi từ những chuyện tôi chứng kiến hoặc tôi nghe kể từ những người trong chúng tôi hồi đó.

Đối với đội ngũ sĩ quan trung-cao cấp (từ đại úy trở lên) ở QK9 hồi đó, chúng tôi thấy dù họ sống xa vợ con thì cũng đều được phân nhà công vụ trong các khu gia binh sĩ quan. Một số cán bộ cao cấp (cấp tướng) còn được phân nhà từ các căn hộ của quan chức chính quyền cũ (bị tịch thu hoặc đã ra nước ngoài). Với những cán bộ lãnh đạo Cục Kinh tế và Cục Hậu cần những năm 1980-1984 ở QK9, tôi thấy tuy họ có được những không gian riêng tư nhất định nhưng trong cái khó khăn chung của đất nước, họ cũng không có gì gọi là khá giả về đẳng cấp cuộc sống. Những trường hợp tôi đã đến tận nhà các ông Cục phó Nguyễn Nhật Quang, Trần Kì Vân, Nguyễn Hữu Chước, các ông được phân một gian nhà cấp 4 trong những căn hộ gia binh sĩ quan. Ngoài lương, họ có điều kiện tăng gia cải thiện cuộc sống như nuôi heo, nuôi gà như tôi đã có nêu trong những ghi chép trước.

Thứ Năm, tháng 4 24, 2025

Vài chuyến đi công tác ngắn ngày khác

 

Từ khi về Phòng Sản xuất Cục Hậu cần QK9, chúng tôi được tham gia vào các hoạt động kinh tế khác như mua bán vật tư, máy móc, thiết bị… Nhờ đó tôi có được một số chuyến đi công tác ngắn ngày. Tôi còn nhớ đôi chút về các chuyến đi này.

Chuyến đi giao tiền tại Thành phố Hồ Chí Minh: Lần ấy, Phòng Sản xuất có việc gì đó liên quan đến thanh toán bằng tiền mặt tại một Ngân hàng xuất nhập khẩu tại Thành phố HCM. Công việc này liên quan đến trợ lí tài vụ Lê Cao Bính, nhưng ông Chước nghĩ nên cử thêm người đi để bảo đảm an toàn, và thế là tôi được cử đi theo. Tôi nhớ một xe tải có thùng rộng được đánh đến Phòng Tài vụ, mọi người vác mấy bao đựng tiền lên thùng xe. Trong cabin có lái xe và anh Nguyễn Ngọc Lâm (người của Phòng Sản xuất cũ). Tôi và Bính ngồi trên các bao tiền ở thùng xe không mui. Lần ấy có ai đó đã giao cho tôi kí nhận mang theo một khẩu súng K54 không có đạn, chắc ý là để tăng thêm sự an toàn.

Thứ Tư, tháng 4 16, 2025

Chuyến đi công tác Campuchia (kì 6)


Tôi trở về Việt Nam

Gần 2 tháng tôi ở Campuchia, một hôm Hanh trở lại xưởng (sau 2 lần “được trốn về nước” thăm vợ mới), tôi bảo Hanh và Hạnh: Tuần sau tôi cũng sẽ về Việt Nam xem tình hình thế nào vì ở đây tôi chẳng thấy người ta xúc tiến công việc gì cho hoạt động của xưởng. Cả tháng nay mấy anh em thợ cũng chẳng thèm sửa chữa gì vì khi tôi hỏi thì anh em bảo không biết làm gì nữa với cái máy nổ này. Các anh em chưa bao giờ được học sửa cái máy to như thế. Máy không nổ được thì làm gì có chuyện người ta đưa lúc thóc đến để chà. Tôi sẽ về rồi xem ý của Phòng Sản xuất, Cục Hậu cần Việt Nam thế nào. Nếu cử thì tôi trở lại Campuchia thì tôi phải biết công việc của tôi ở đó là gì và phải có giấy tờ gì đó cho chính đáng cái công việc của tôi ở đây. Ông Kì Vân chỉ bảo tôi ở đây bằng một lệnh nói miệng, đâu có cụ thể là ở làm gì, bao lâu, để giải quyết công việc gì,… Hanh đồng ý với tôi, còn Hạnh thì không nói gì, nhưng tôi hiểu Hạnh cũng cho là phải.

Chuyến đi công tác Campuchia (kì 5)

Vài mẩu chuyện khác

Ở lối ra vào chỗ bếp ăn của xưởng thông ra bến sông, hôm nào tôi cũng gặp một ông già người Khmer cao to, da màu đồng, chỉ quấn một xà-rông đứng đó xin ăn. Mừng bảo ông này không có gia đình nên chẳng làm gì, hàng ngày cứ đến các đơn vị quân Việt Nam xin ăn. Có gì ăn nấy và ông có vẻ rất thoải mái, vui vẻ. Tôi thấy ông hiền lành, khuôn mặt rất bình thản, dễ mến nhìn chúng tôi đi đến các bữa ăn. Có lẽ ông cười vui lấy lòng vì hôm nào tôi cũng bảo với Mừng hoặc Hạnh đem cho ông một ít cơm và chút thức ăn vào cái bát gỗ to ông luôn mang theo mình.

Chuyến đi công tác Campuchia (kì 4)


Những chuyện nghe từ người khác kể

Tôi có vài lần lên bộ phận tiền phương của QK9 chơi với Tiệc và một lần đi với em Hạnh lên làm thủ tục gì đó ở Cục Hậu cần tiền phương.

Chuyện lên chơi với Tiệc và được Tiệc dẫn đi Chợ Orussey, đi thăm Hoàng Cung[1] thì tôi đã viết rồi. Còn chuyến đi với em Hạnh thì lúc về tôi có rủ Tiệc đến thăm xưởng của tôi một lúc. Tôi còn nhớ chuyện khi chúng tôi về tới gần xưởng thì em Hạnh đi như chạy, vài chục m lại dừng lại đứng chéo chân một mình. Tiệc bảo chắc cô ấy đang gặp chuyện cần giải quyết gấp lắm rồi vì em Hạnh đi với chúng tôi từ sáng mà bây giờ đã quá trưa. Bọn tôi thì đã phải tạt vào bụi cây ven đường mấy lần nhưng cô ấy làm sao dám? Chúng tôi đi chậm để cô ấy trên đường về xưởng tìm được chỗ giải quyết bên những lùm cây rậm rạp bên đường (lại cũng là nỗi khổ của phụ nữ so với chúng tôi). 

Chuyến đi công tác Campuchia (kì 3)

 Chuyện giải quyết xử lí sự vụ của người cán bộ chỉ huy

Một buổi sáng, tôi và Hanh đang ngồi nói chuyện trong xưởng thì có một phụ nữ xin vào gặp. Đó là một phụ nữ nói tiếng Việt, bụng chửa to sắp đến ngày đẻ. Người gầy đen lại sắp đẻ trông có vẻ “gờn gợn” lên cái gì đó rất khó gần, lại như có vẻ nghèo khổ và bệnh tật nữa. Tôi mời vào ngồi bên cái bàn kê tạm và nghe cô ta kể: “- Báo cáo các anh chỉ huy, em đến xin trình bày việc mấy anh bộ đội ở đây còn nợ tiền em, em đến đòi mấy lần vẫn chưa trả”. Ban đầu tôi với Hanh ngơ ngác chưa hiểu gì thì cô ấy nói lí do các anh ấy nợ tiền. Hôm qua các anh ấy lại có ý không cho em gặp. Em sắp sinh nên cần tiền sinh cháu mà các anh ấy lại không trả tiền…

Ái chà, làm sao đây, chuyện gì đã xảy ra với bộ đội của mình? Mà việc ấy từ hồi trước khi tôi đến đây, nay giải quyết thì làm sao có căn cứ? Rồi lại nghĩ mọi người đều là người Việt Nam cả nên cần phải nghe và tìm cách giải quyết sao cho có tình có lí. Tôi suy nghĩ rồi bảo cô ấy viết ra những gì cô đề nghị (vì tôi nghĩ mình mà hỏi kĩ hơn hoặc nghe cô ta kể chi tiết hơn thì cũng hơi khó, có khi còn ngại ngùng cho cả đôi bên). Cũng có ý khác là khi cô ấy ngồi viết ra thì tôi và Hanh sẽ đọc rồi xem sự thể thế nào mà xử lý, đằng nào mấy anh em trong phòng máy cũng là quân nhân Việt Nam. Với lại cô ấy cùng là người Việt Nam. Mình đều là người Việt Nam trên đất lạ, thì cứ phải xem sự thể sai đúng thế nào chứ để người xấu vu oan là không thể được. Hanh đưa giấy bút ra thì cô ấy bảo cô ấy không biết chữ. Điều này thì có thể chưa hẳn tin là đúng nhưng trong nông thôn đồng bằng sông Cửu Long hồi ấy có nhiều người lớn không biết chữ mà.

Thứ Hai, tháng 4 14, 2025

Chuyến đi công tác Campuchia (kì 2)

Những người mới đến và chuyện sắp xếp ăn ở

Chừng mấy ngày sau tôi thấy có 2 người mới đến, nhưng không đi cùng nhau. Một là cô gái trẻ, chừng kém tôi vài tuổi, người mập thấp tên Hạnh. À, thì ra đây là cô Hạnh, bạn gái anh Hồng ở Phòng Tài vụ Cục Hậu cần. Có một hôm anh Hồng gặp tôi trước khi tôi được cử đi Campuchia và nói nhờ tôi qua đó giúp bạn gái anh. Sao anh em Phòng Tài vụ biết tôi được cử đi Campuchia trước cả tôi[1] nhỉ? Em Hạnh được cử qua đây để giữ vào trò ghi chép đại loại là kế toán – tài vụ của xưởng.

Người thứ 2 tên Hanh - anh là kĩ sư chế biến thực phẩm đang biên chế ở Đơn vị 404, thuộc quân nhân chuyên nghiệp hay nhân viên quốc phòng gì đó (loại không có cấp bậc quân hàm). Anh được cử sang phụ trách chất lượng gạo chế biến trước khi cấp cho bộ đội.

Chủ Nhật, tháng 4 13, 2025

Chuyến đi công tác Campuchia (kì 1)

Tôi được cử đi Campuchia để làm gì?

Từ sau khi về Cục Hậu cần, Phòng Sản xuất bắt đầu có nhiều việc “không nông nghiệp” trực tiếp như các công việc như mua bán vật tư, máy móc,… Vì thế chúng tôi không còn được đi công tác đến nông trường, nông trại ở các tỉnh nữa. Đổi lại, tôi được cử đi phụ việc mua máy Kubota ở Sài Gòn, rồi may mắn có được chuyến đi ngắn ngày lên Trại rắn Đồng Tâm. Có dịp tôi sẽ kể lại sau.

Khoảng cuối năm 1983, tôi có chuyến đi công tác rất đáng nhớ ở Phnom Penh. Một buổi sáng tôi được ông Chước báo mai Ảnh đi công tác với ông Ba Kì Vân. Hôm sau ra xe anh Cứng lái đã thấy có anh Thượng úy Quang. Xe đến khu gia binh sĩ quan đón ông Ba Kì Vân rồi đi lên Sài Gòn. Chiều đến khu vực Thủ Đức, xe đi vào nhà Đại úy Thủy. Chị Thủy năm trước là quân nhu Cục Kinh tế, hồi này chuyển đi đâu tôi không rõ. Chiều đó ăn nghỉ tại nhà chị Thủy. Chị Thủy có lẽ sống trong gia đình giàu có - một biệt thự sang trọng có vườn rất rộng. Buổi cơm chiều tôi còn nhớ gia đình thết mọi người ăn ngoài vườn, bên cạnh có nhiều cây xoài thấp và quả thì ríu rít quanh chỗ tôi ngồi, giơ tay ra là với được cả chùm…

Thứ Tư, tháng 4 09, 2025

Các chuyến đi Minh Hải (kì 2)

 

b/ Chuyến đi U Minh hạ

Một hôm ông Chước đi họp giao ban Cục Kinh tế về nói tại buổi họp Phòng Sản xuất: “- Quân khu giao cho Cục Kinh tế chuẩn bị khảo sát vùng nguyên liệu làm giấy ở U Minh”. Chuyện có vẻ nói cho vui thôi, chẳng ai chú ý gì đến các chi tiết. Thế rồi một hôm, khoảng tháng 11/1982, tôi được ông Ba Kì Vân báo chuẩn bị đi công tác cùng Trung tá Sáu Mẫn. Hôm đi tôi thấy có cả anh Sơn – Sơn là hạ sĩ quan-kĩ sư ngành nông nghiệp ĐH Cần Thơ vào Cục Kinh tế hồi đầu năm 1981, sau chúng tôi vài tháng.

Chủ Nhật, tháng 3 30, 2025

Các chuyến đi Minh Hải (kì 1)

 

Tỉnh Minh Hải sau này được tách ra thành Cà Mau và Bạc Liêu[1]. Tôi có nhiều chuyến đi Minh Hải từ 1981-1983, gồm các chuyến đến Nông trường Muối 416 ở Bạc Liêu, các lần đến Tỉnh đội ở Cà Mau và chuyến đi rừng U Minh hạ.

Các đồng đội cùng đợt vào được phân công về Minh Hải gồm Lê Tiến Dũng (ngành kinh tế nông nghiệp ĐH NNII), Trần Nhật Bính (ngành trồng trọt ĐH NNI) và Nguyễn Văn Tuất (ĐH Tài chính) và một số đồng đội học từ nhiều trường đại học khác được phân về các NTQĐ trực thuộc QK9. Theo ghi chép của tôi, tỉnh Minh Hải gồm 3 NTQĐ là Khánh Hà (diện tích 2100ha), Khánh Hải (2780ha) và Đông Hà (2750ha). Tỉnh còn có 9 nông trại, mỗi nông trại 100ha có tên là U Minh, Trần Văn Thời, Thị đội Minh Hải, Giá Rai, Phú Tân, Hồng Dân, Thới Bình, Cái Nước và Năm Căn. Ở NTQĐ Khánh Hải, cuối năm 1982, các bạn Nguyễn Văn Nên, Hải (Kì Lừa) đã được Cục Kinh tế điều về bổ sung nhân sự, nhưng tôi không có dịp nào đến Khánh Hải nên chỉ gặp được các bạn khi họ có dịp lên Cần Thơ công tác.

 

a/ Các chuyến đi NTQĐ làm muối phiên hiệu 416

Tôi có tất cả 4 lần đi 416. Chuyến đi cùng Cục phó Trung tá Trần Kì Vân[2] đã ghi chép là chuyến đi thứ 2.

Chủ Nhật, tháng 3 23, 2025

Các chuyến đi công tác tại Kiên Giang (kì 2)

 

b/ Chuyến đi NTQĐ Vĩnh Điều

NTQĐ Vĩnh Điều có diện tích tự nhiên 4000ha nằm sát kênh Vĩnh tế thuộc huyện Hà Tiên[1] nay là huyện Giang Thành, Kiên Giang.[2]

NTQĐ Vĩnh Điều khi đó chỉ có bộ khung gần chục người được bố trí trong mấy lán trại lợp tôn đóng gần bờ kênh Vĩnh Tế, trên đất ấp Mẹt Lung, cách Rạch Giá khoảng 80km. Lần tôi đến Vĩnh Điều được Tỉnh đội Kiên Giang cho một chuyến ghe máy đi từ sáng đến gần tối mới tới nơi. Tôi đi một mình, chỉ có một binh sĩ lái ghe mặc đồ dân sự màu đen, da đen nhẻm im lặng ngồi điều khiển ghe. Ghe có máy nổ lớn nên đi khá nhanh.

Thứ Năm, tháng 3 20, 2025

Các chuyến đi công tác tại Kiên Giang (kì 1)

 

Trong sổ tay của tôi còn ghi chép: Kiên Giang có 3 NTQĐ (Vĩnh Điều: 3000ha; Bình Sơn I: 4000ha; Vĩnh Thuận: 4000ha) và 7 nông trại (Giồng Riềng, Vĩnh Thuận, Hòn Đất, Gò Quao, An Biên, Châu Thành), mỗi nông trại 50ha.

Trừ chuyến đi Kiên Giang cùng anh Nguyễn Kim Quất (như đã viết ở bài trước) thì tôi chỉ đi một mình với tư cách là cán bộ trợ lí Cục Kinh tế QK9 đến các đơn vị của Quân khu và Tỉnh đội để nắm tình hình theo yêu cầu công tác từng chuyến đi. Tuy nhiên lần nào tôi cũng qua Tỉnh đội để báo cáo và yêu cầu được giúp đỡ. Mỗi khi đến đều được bố trí nghỉ tại nhà khách Tỉnh đội Kiên Giang ở Rạch Giá rất chu đáo. Một số lần đi Vĩnh Điều, Bình Sơn I thì còn được di chuyển đến nơi bằng ghe máy của Tỉnh đội nhưng lúc về thì tự lo. Có lần từ Tỉnh đội về Cần Thơ tôi còn được bố trí đi cùng xe trạm khách chở bộ đội lên Trạm Vĩnh Long đi phép ra Bắc. Ở nhà khách Tỉnh đội mỗi lần đến tôi đều có dịp tranh thủ nấn ná để đi thăm các danh thắng quanh Rạch Giá, có khi ra tận Rạch Sỏi. Tôi đã đến Chùa Tam Bảo và đền thờ Nguyễn Trung Trực tới mấy lần.