Hiển thị các bài đăng có nhãn Hồn quê lưu kí ức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hồn quê lưu kí ức. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, tháng 6 24, 2025

Được vào đại học - may mắn thay đổi định mệnh


Vào ngày 19 tháng 12, tôi nhận được giấy báo nhập học của Trường Đại học Nông nghiệp I. Giấy báo yêu cầu có mặt tại trường ngày 15-12 để làm thủ tục nhập học. Tôi rất hoang mang vì khi nhận được giấy báo thì đã quá thời hạn nhập trường, nếu xong thủ tục thì ra nhập học cũng đã chậm cả tuần. Tuy vậy vẫn kiên quyết làm thủ tục để được ra trường sớm nhất, những thứ còn thiếu thì xin bổ sung sau. Tôi lên xã xin xác nhận Giấy báo nhập học về muộn và làm gấp một số thủ tục để chiều Chủ nhật ngày 21-12 ra tàu đi Hà Nội.

Khi đó tôi cũng quen nhiều lần lên xã vì một năm qua được xã gọi đi khám tuyển nghĩa vụ quân sự mấy lần, lại được theo các bạn lên xã liên hoan nhập ngũ mấy lần nên các ông lãnh đạo xã đều biết tôi. Khi tôi đưa giấy báo nhập học để làm thủ tục thì các ông khen tôi giỏi, thi đỗ đại học. Cả xã năm ấy chỉ có 2 người đỗ đại học đều ở làng tôi. Ông Phó Chủ tịch Lê Đình Tụng (phụ trách công an) làm giấy cắt chuyển hộ khẩu cho tôi xong thì nói: “Anh năm ngoái cũng đã có giấy báo đi học Đại học Xây dựng hệ dự bị, nhưng xã quyết định không cử đi vì gia đình anh chưa có người đi nghĩa vụ quân sự. Nay anh đỗ Đại học Nông nghiệp I, xã đồng ý cử đi ngay”. Rồi ông Chủ tịch xã Lê Đình Hử ngồi cạnh đó nói thêm: “Học nông nghiệp đang rất cần cho quê hương, khi học xong có điều kiện phục vụ quê hương thì rất tốt”. Tôi giật mình biết mình đã mất đi một cơ hội thoát li năm trước để nay có được cơ hội này. Nhưng khi đó, quyết tâm là được thoát li, ngành nào cũng được – chứ đâu kịp nghĩ đến thua thiệt gì. Vả lại năm ngoái là đủ điểm học dự bị chứ chưa phải là điểm đỗ chính thức Đại học Xây dựng nên năm nay cũng không thể dùng giấy ấy để ra nhập học được! Một người trong phòng nói thêm ái ngại: “Bé nhỏ như trẻ chăn trâu mà đỗ đại học”! Đó lại là một nỗi lo khác: tôi chắc mới chỉ nặng 30kg, cao chừng 1m50. Ngày mai ra trường đại học mà trong lòng mang theo 2 nỗi lo lớn: một là, hôm nay ngày 20-12 mới chuyển khẩu khi Giấy báo nhập học hết hạn ngày 15-12; hai là, có đủ tiêu chuẩn sức khỏe để được vào học đại học không!

Chủ Nhật, tháng 6 22, 2025

Có một giấc mơ đại học (kì 2)

Một năm “đóng nhiều vai”

Thế là tôi tốt nghiệp phổ thông, về với địa phương để chờ đợi. Chờ gì: đi học thì ít có hi vọng, nhưng đi bộ đội thì nhiều khả năng lắm.

Hồi đó ở làng thanh niên mới lớn đi bộ đội hết, ai đến tuổi còn ở nhà thì cứ như là một nỗi xấu hổ với lương tâm. Có một đơn vị bộ đội ở gần làng tôi tập hợp toàn các anh đào ngũ lại, mỗi sáng tập thể dục đều phải đồng thanh hô lớn: ai cũng như tôi thì mất nước! Nghe vậy lại càng thấy mình đến tuổi mà vẫn ở nhà thì chẳng ra gì…

Từ giữa năm 1974 tôi ở nhà với gia đình với vai nông dân như một lao động thanh niên mới lớn[1] và liên tục được gọi đi khám tuyển nghĩa vụ quân sự. Mỗi lần lại dăm ba thanh niên trong làng trúng tuyển, chỉ mỗi tôi trật lại – chỉ vì tôi vẫn chưa nặng được 30kg. Mấy lần được mời lên xã liên hoan đưa tiễn các bạn: một đĩa bánh nướng, bánh xốp, một ấm chè, bao thuốc, mấy lời phát biểu của cán bộ địa phương nghe đến quen cả giọng điệu…

Khoảng tháng 9-1974, tôi có gặp Nguyễn Chí Thanh và Nguyễn Duy Thuần lên Phúc Ấm chào gia đình ở trọ để đi học đại học[2]. Biết tôi không đỗ đại học, các bạn có vẻ buồn tiếc cho tôi. Tôi chia tay chúc các bạn may mắn học hành, các bạn thì mong tôi có cơ hội được học vì điều kiện học lực của tôi có thể làm được điều đó.

Thứ Sáu, tháng 6 20, 2025

Có một giấc mơ đại học (kì 1)

Còn đó món “nợ đời” chưa trả được

Có một câu hỏi tưởng chừng dễ nhưng lại rất khó trả lời: “Ta chia tay tuổi thơ ở đâu, khi nào?” Tôi cũng đã nghĩ nhiều lần chuyện này và đến nay đành tạm cho là tôi có nhiều lần chia tay tuổi thơ. Chuyện dưới đây là một trong những lần chia tay ấy – chỉ là “một trong” vì có thể còn cái gì đó khác nữa – nhất là về khía cạnh ý nghĩ, tâm thức… Nhưng điều chắc chắn là về mặt hành động thì tôi chia tay với tuổi thơ tôi xảy ra ở LÀNG TÔI – Làng Phúc Ấm[1].

Những năm 1971-1972, chiến tranh ở Việt Nam vô cùng ác liệt. Mỹ đánh phá dự dội miền Bắc bằng B52 hủy diệt. Nhân lực ưu tiên cho cuộc chiến những năm đánh Mỹ lấy đi gần như tất cả sức trẻ các chàng trai mới lớn quê tôi – đi bộ đội là con đường duy nhất cho lũ “trai ngơ” và vào Thanh niên xung phong như một ưu tiên cho bọn “gái cớm”. Ôi cái tuổi 17-18 đẹp như trăng đang tròn, trong trắng thơ ngây bị cuộc chiến hút hết vào chốn đạn bom khói lửa!

Nói thật, đi bộ đội không hẳn là một mơ ước của tôi – cũng như rất nhiều người khác – nhưng với những gì tôi nhận thức được lúc bấy giờ thì đi bộ đội như một tất yếu trách nhiệm. Quê Thanh Hóa của tôi khi ấy động viên từ 17 tuổi cho nên có hàng nghìn học sinh chưa tốt nghiệp cấp III xếp sách vở lên đường đi chiến trường.

Thứ Bảy, tháng 2 22, 2025

Chuyện ngày sinh nhật của tôi

Viết nhân ngày bước vào tuổi mới

Đến tuổi “đầu 6 đít vô cùng” ngoái nhìn lại mới thấy cuộc đời rất tuyệt diệu và có nhiều điều đáng chiêm nghiệm và suy ngẫm: cái đúng có cần đúng? Giá dẫu đúng thì có tác dụng gì? Tôi xin đi từ câu chuyện của đời tôi.

Chủ Nhật, tháng 12 29, 2024

“Hiệu ứng bùm”


Hồi tôi 10 tuổi (đang học lớp 3) được gia đình giao cho việc đi lấy rau lợn. Mùa đông, bèo tây (lục bình) cứng ngắc, lợn không muốn ăn nên tốn cám đành phải đi lấy rong “đuôi chó” tức là những bụi rong mọc dưới nước như đuôi con chó ở những ao sâu. Có những cây rong dài 40-50cm, lấy được rong đó về, non xanh lắm, lợn ăn mạnh, đỡ cám, bớt kêu. Ai mà nuôi lợn những năm người đói, lợn đói mới thấy thương những con vật này: chúng rét, lại đói nên réo suốt ngày, nhất là khi thấy bóng người. Người còn đói thì sao lợn no được, chúng chỉ có mỗi ngày vài nắm cám “càng” (cám giã trấu là chính), cám mịn thì đã dành cho người - nấu cháo cám ăn thay cơm.

Mà nhân đây cũng muốn nói thêm một chút về cái đói. Đói làm người ta thành bần tiện. Đói kéo theo rét thì càng dữ dội lắm. Đói-rét cộng hưởng, rét cái rét từ bên trong cộng với cái rét của không khí và gió tạo ra những cơn run rung lắc hết cỡ các cơ gân trên mặt, trên hàm, trên các khớp xương thớ thịt… Trong làng có một người hay ăn trộm vặt tên Th. Ông hàng xóm nhà tôi nói: “Ăn trộm là ai? Ăn trộm là ta, đói rét thì ta thành Th. cả thôi”. Người ta hay nói về cái đói thanh tao (hay thanh cao gì đó), nhưng có lẽ chắc gì người đó đã thực sự biết về cái đói. Đối diện với cái đói là đối diện với sự sinh tồn, đối diện với cái chết. Bản năng sống thức dậy tất cả các giác quan, tất cả những nỗ lực còn sót lại để tìm kiếm thức ăn: vì sự sống sót thì còn nghĩ đến đạo đức hay nhân phẩm khi trước mắt là cái chết?

Ấy thế mà tôi cũng thấy tiếc cho ai trên đời chưa từng biết đói là gì (!)

Đó là nói con người khi đói, trong cảnh nghèo đói mới thấy thương đồng loại và cũng mới thấy thương loài gia súc (trâu, bò, gà, vịt, chó, lợn, mèo) nuôi trong nhà. Tôi thấy sướng nhất là con vịt: khi mới ấp ra, vịt được cho ăn cơm, lớn lên được cho ăn thóc, ăn ngô và thường khi mùa gặt hái thì chúng được đưa đi chăn ngoài ruộng. Vịt có đời sống ngắn nhưng thường nuôi theo vụ nên chúng dường như không bị đói. Gà thì cơ bản cũng không đến nỗi vì nghèo cũng có cái chuồng che khi rét, nếu ít được cho ăn thì chúng cũng dễ kiếm những giun dế, côn trùng trong vườn. Trâu bò thì ăn cỏ nên chỉ cần có người đi chăn là được, mùa đông ít cỏ thì thêm chút rơm rạ hay khi đưa ra cồn bãi chúng gặm cả xương rồng hoặc nhổ cả rễ cỏ. Mèo thì ăn ít và chúng cũng tự kiếm được chuột. Khổ nhất là chó và lợn. Chó có nhiều bữa không được ăn gì, hoặc chỉ được ăn vỏ khoai, đầu sắn hay mẩu xương, liếm bát – những thứ trong bữa ăn con người không sử dụng được. Có nhiều con chó cả đời không có bữa no cho đến khi bị thịt. Lợn thì nuôi nhốt trong chuồng phụ thuộc hoàn toàn vào người. Cây chuối, bèo tây, rong rêu… băm nhỏ là thức ăn chính, nhưng cũng cần có cám chứ. Khỗ nỗi đói người thì có thóc đâu mà xay giã. Cám mịn thì người nấu cháo, còn “cám càng” thì dành cho chúng ăn. Kêu réo suốt ngày khi thấy bóng người đi qua. Tiếng réo rít của chúng não lắm, nhưng cuối buổi cũng chỉ được một rổ bèo các loại đổ vào máng và một nắm cám bốc trong tay xoa vào thức ăn làm mồi. Nó ngửi và chộp ăn chỗ nào có mùi cám rất nhanh, còn chỗ bèo thì lấy mũi ẩy ra tìm cám, vãi tung tóe ra chuồng. Sau thấy chẳng còn gì đành phải nhai cả bèo không cám, nhìn cám cảnh vô cùng.  

Lấy bèo nuôi lợn là công việc nhẹ nhất, mỗi ngày chỉ cần vài giờ là xong. Sau đó có thời gian rỗi đọc sách hoặc làm việc khác như câu tôm, đánh cù... Tôi ra bờ ao, nhìn rõ đám rong dưới nước nhưng trời rét quá, nếu lấy cái que sào dài để móc lên thì vừa lâu, lại vừa khó vì lấy được 1 mẻ rong lên thì nước đã đục ngầu không nhìn thấy nữa, các mẻ tiếp chỉ vu vơ có khi chẳng được mấy, mất công lắm. Cách nhanh nhất là cởi quần áo rồi lội xuống, nhổ ào ào một lúc là đủ cho “con réo” ở nhà ăn 1-2 ngày.

Tôi rón rén ngâm dần từng bộ phận xuống nước, ban đầu 2 chân, rồi lên đến đầu gối,… Trời thì gió rét, quần áo thì đã cởi bỏ hết, hoặc dò dẫm cho quen lạnh, hoặc “bùm” một cái, ào ào ra chỗ có rong để mò. Cái cảm giác tay phải quơ ngang đám rong, giũ bùn rồi chuyển rong sang tay trái để vơ tiếp, người ngập trong nước giá lạnh đến tận cổ, mồm mím chặt mà vẫn cầm cập 2 hàm răng đánh vào nhau. Chừng 15 phút thì đã được một đống ôm vào bờ, vơ vội quần áo mặc vào rồi gánh 2 rổ rong về bờ ao nhà rửa lại. Cái lạnh đã bớt đi vì sự vận động mạnh và vội vàng, nhưng sau thì cái rét từ bên trong mới sầm sập tạo ra cơn run rẩy, có khi phải vào ngay bếp đốt 1 nắm rơm hơ lửa cho đỡ cóng.

Sau nhiều lần thử, tôi thấy cách “bùm” là tốt nhất. Cởi thật nhanh quần áo, “bùm” ra thật nhanh chỗ rong, vơ lấy vơ để lôi vào bờ… “Bùm” thì nói dễ nhưng làm thì kinh hãi lắm: gan dạ mới dám, lạnh cứng người, tê đến các đốt xương, cóng tay cóng chân. Nhưng thà “bùm” cho xong vì đằng nào mà chả cóng?

Sau này tôi tự gọi đó là “hiệu ứng bùm” và mỗi khi có tình huống phải làm thì cứ “bùm” mà áp dụng thôi. Chống cái sợ nhanh nhất là “bùm”. Chẳng hạn khi học đại học, lớp chọn người vào thi vấn đáp trước, tôi vần A, thế là hay được gọi vào “bùm”. Khi phải phát biểu trước đám đông, thế là tôi xung phong “bùm”. Khi phải đi công tác đến chỗ vất vả, tôi “bùm”…

“Bùm” có cái hay là nhanh hết sợ, nhưng đôi khi thiệt thòi lắm: thi vấn đáp lúc đầu không bao giờ được điểm cao nhất, các thầy giáo hỏi kĩ những người mới, các vị thi sau sướng nhất (hoặc cũng khổ nhất) vì về sau các thầy chán rồi nên hỏi nhanh, nhưng họ lại cũng khổ nhất thì phải chờ đợi nỗi sợ đến nhiều nhất. Khi phát biểu trước thì không được tổng hợp các ý kiến của người khác (hay không dựa theo được) nên chỉ nói được những gì mình có. Khi xung phong đi công việc có thể là những việc khó làm nhất... Tôi “bùm” một cái, xong hết sợ để còn nhìn thiên hạ “chết và chờ chết”, cũng sướng lắm thay!

 

Chủ Nhật, tháng 9 22, 2024

Chuyện những que kem

 

Hồi còn bé tẹo (khoảng những năm 1966-1968), chúng tôi đã biết kiếm cá, đánh lươn. Ăn không hết nên bố mẹ bán lấy tiền, đôi khi cho chúng tôi mấy hào (1 hào là 10 xu) để ngày Quốc Khánh 2-9 rủ nhau đi Thị xã Thanh Hóa ăn kem. Những đêm hè nghe kể chuyện ăn kem thật vô cùng thú vị. Mấy anh lớn hơn đã được nếm tả cái ‘bánh lạnh’ này hấp dẫn đến mức chảy nước miếng cả lũ và thế là mỗi dịp 2-9 đều có một ‘thế hệ mới’ phải xuống ga Thanh Hóa để mua cho được que kem như trải nghiệm tất yếu của sự trưởng thành.

Rồi mùa hè 1969, sau đình chiến ném bom miền Bắc[1], chúng tôi được chuyến đi dịp 2-9 đến Thị xã. Mục tiêu chính là được thưởng thức món kem của những thằng chưa từng được nếm. Đi từ 4-5g sáng, mỗi bọn 7-8 đứa thành từng nhóm đi bộ, đến được ga để xếp hàng chờ mẻ kem mới (ở đó toàn trẻ con vì mọi đứa trẻ các làng khác chắc cũng như thế). Khoảng sau 9am thì may ra đến lượt. Có đứa mua được có đứa không, nhưng chẳng đứa nào không được nếm vì ăn đều chung: cùng mút, cùng chia. Cái cảm giác lạnh buốt kẽ răng trong cái nắng sớm ở những khuôn mặt đen nhẻm toát mồ hôi vì chạy bộ, xếp hàng từ sáng sớm đến giờ thật mãn nguyện. Coi như chỉ là được nếm vì vừa khó mua, vừa ít tiền nhưng vài ba lần mút cũng là đời đã biết mùi kem để về còn khoác với đàn em – cái lũ chưa từng biết mùi, còn phải chờ cơ hội sau này. Có mấy bác đi qua chê tụi nhà quê mút kem chung mất vệ sinh, nhưng chúng tôi chả đứa nào quan tâm, cứ chia nhau mút cho đến trơ que, ngon thì cũng chẳng kịp cảm nhận, nhưng lạ và lạnh là cái thằng nào cũng biết.

Đến năm 1973, lần đầu tiên được xem phim Ông già Khottabych (Khốt Ta Bít) lại thấy cảnh ông già phù thủy ấy được mời ăn kem thì ông ấy ăn rất nhiều và nói với bọn trẻ rằng kem là món bánh ngon nhất đời mà ông ấy từng được thưởng thức. Khi đó bọn tôi cười vì đều biết kem khi tuổi còn ít hơn ông.

Sau này lớn lên ít còn cảm xúc với kem như thuở ban đầu nhưng kem dường như vẫn mê hoặc  mọi lũ trẻ choai. Khi tôi đi bộ đội về phép được ra Thủ đô chơi, có lần đưa đứa cháu đi ăn kem. Cháu ăn một lúc hết hơn chục que kem Tràng Tiền. Lại có lần đưa một bé đi ăn kem Tràng Tiền, tôi vô tâm không nhớ nhiều nhưng bé vẫn còn nhắc rất lâu sau đó rằng thấy tôi đạp xe lấm tấm mồ hôi trong gió thu và rất có thể người ăn kem Tràng Tiền cũng chưa quên vị kem hôm ấy.

Ngày nay, kem Tràng Tiền vẫn còn đông người thưởng thức kiểu cầm que ăn thản nhiên giữa phố. Chắc ai cũng muốn thêm một lần tận hưởng món kem nổi tiếng với những cảm giác thuở ban đầu.

 




[1] Chiến dịch Sấm Rền (Operation Rolling Thunder) hay Chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất kéo dài từ ngày 2/3/1965 đến 1/11/1968.

 

Thứ Sáu, tháng 9 06, 2024

Cảm giác ba lần cận tử (lần thứ 3)

 

Cận tử là cảm giác rất khủng khiếp, nhất là khi còn trẻ con. Trước 6 tuổi tôi đã cảm nhận được cái chết rất gần, chỉ một chút xíu nữa thôi là qua phía bên kia… Nay ghi lại để thấy mình may mắn còn có được những thú vui tận hưởng cuộc đời. Dù đã trải nhiều vui buồn trong cuộc sống nhưng phút giây cận tử mới thực sự không thể nào quên được.


Lần thứ ba

Lại vẫn con sông ấy nhưng là lần ngớ ngẩn xảy ra khi tôi 6 tuổi và đã biết bơi. Gần trưa hôm ấy mới thằng nhóc đi tắm sớm, giờ đó chưa đông người tắm nên còn nghịch đủ thứ. Một đứa phát hiện chỗ gầm cầu có những hòn đá trong có nhiều tôm cá dựa vào nên cùng nhau rủ mò tôm.

Tôi sờ tay thấy bọn tôm cá nhỏ chạy ào ào qua kẽ tay giữa các khe đá. Tiện tay móc vào trong có nhiều con to hơn trơn tuột. Hết cỡ tay mà chưa vào hết các ngách trong những khe đá. Bọn tôi ngụp đầu xuống mò đến các khe sâu hơn. Thế là lặn một hơi và mò vào, con tôm tanh tách vào sâu mãi và tôi đã túm được nó. Tôi bắt đầu rút tay ra để ngoi lên thở thì tay bị kẹt cứng trong đá. Càng rút càng kẹt, hơi thở thì đã hết. Vùng vẫy một lúc tôi vẫn không rút được. Lại thấy hoa mắt, màu vàng sáng đục, miệng uống nước liên tục, nghẹt thở và lịm dần.

Khi tỉnh dậy tôi thấy tụi trẻ kêu ầm ĩ quanh tôi. Tôi hoàn hồn nghe được chúng nói là đã xúm vào lôi tôi ra. Khi ra được thì tôi đã mềm nhũn, may có mấy người lớn đi ngang qua thấy vậy làm hô hấp nhân tạo một lúc thì tôi ộc được nước ra và tỉnh lại.

Tôi nhìn thấy tay mình trầy xước chảy máu vì tụi trẻ đã xúm vào lôi tôi ra khi tay mắc vào kẽ đá. Hú vía, thoát chết vì mấy con tôm nhỏ. Nhưng có lẽ đau nhất là con trai mà chết trên con sông quê bé tẹo cạnh nhà thì còn ra cái nỗi gì.

Cảm giác ba lần cận tử (lần thứ hai)


Cận tử là cảm giác rất khủng khiếp, nhất là khi còn trẻ con. Trước 6 tuổi tôi đã cảm nhận được cái chết rất gần, chỉ một chút xíu nữa thôi là qua phía bên kia… Nay ghi lại để thấy mình may mắn còn có được những thú vui tận hưởng cuộc đời. Dù đã trải nhiều vui buồn trong cuộc sống nhưng phút giây cận tử mới thực sự không thể nào quên được. 

Lần thứ hai

Tôi chỉ là một đứa trẻ 5 tuổi được cha mẹ cho theo những đứa trẻ khác trong xóm ra sông trước làng tắm trưa hè. Tôi và bọn chúng mon men sát bờ nghịch nước, một vài đứa biết bơi, tôi khi đó chưa biết bơi đang ở những ngày đầu được đi nghịch nước như các bạn cùng tuổi.

Bỗng tôi thấy ai đó kéo chân tôi ra giữa sông và bỏ tôi giữa dòng nước sâu quá đầu tôi. Tôi chới với trong dòng nước mở mắt thấy một màu vàng đục. Tôi cố vùng vẫy, uống rất nhiều nước, bất lực chìm dần. Màu ánh sáng vàng đục trước mắt đó cứ mờ dần, mờ dần... Tôi được ai đó lôi vào bờ và vẫn còn sặc nước, mở mắt thấy sáng chói mắt. Nước mắt nước mũi giàn giụa nghẹn ngào mãi không nói được. Ngồi một lúc rất lâu mới leo run rẩy leo được lên bờ đi về nhà.

Thì ra các anh lớn nghịch ngợm đã lôi tôi ra chỗ nước sâu. Lũ biết bơi thì chới với bơi vào được còn tôi thì các anh nghĩ cũng thế. Nước đục thế lại rất đông trẻ náo loạn cả khúc sông nên không ai để ý đến ai. Họ bỏ mặc tôi vùng vẫy. May sao lúc ánh vàng trước mắt mờ dần, chắc tôi đã đụng phải ai đó và bọn họ đã lôi tôi vào bờ.

Cái ánh vàng đục là tôi nhớ rõ nhất: ánh vàng chấp chới, ánh vàng nhấp nháy, ánh vàng đờ đẫn, ánh vàng khô cứng, ánh vàng đục dần, mờ dần…

Đó chắc chắn là sự cận tử. Chắc chỉ vài mươi giây nữa là ánh vàng đục vĩnh viễn đông đặc mãi: đứa trẻ 5 tuổi sau đó sẽ chìm dần trôi theo dòng nước.

Cảm giác ba lần cận tử (lần thứ nhất)


Cận tử là cảm giác rất khủng khiếp, nhất là khi còn trẻ con. Trước 6 tuổi tôi đã cảm nhận được cái chết rất gần, chỉ một chút xíu nữa thôi là qua phía bên kia… Nay ghi lại để thấy mình may mắn còn có được những thú vui tận hưởng cuộc đời. Dù đã trải nhiều vui buồn trong cuộc sống nhưng phút giây cận tử mới thực sự không thể nào quên được.

Lần thứ nhất

Hồi đó tôi khoảng 3-4 tuổi…

Tôi còn nhớ cha đưa tôi ra nằm võng cói, cha ngồi sàng gạo cạnh võng. Chỉ có cây đèn dầu leo lét trong đêm hè nóng nực. Tôi sốt cao, rất đau ở 2 đầu gối như có những con dòi đục khoét bên trong, hình như tôi ti tỉ khóc và lịm dần.

Tôi bỗng thấy trong vùng trời tối đen kịt, tôi đang ở bên này con sông. Hai bờ sông có 2 người khuôn mặt vuông đen sì to lớn, hai người này cứ đổi nhau nhảy từ bờ này sang bờ kia, tay chống vào đầu gối, miệng gào thét dữ dội, gầm ghè giận dữ.

Tôi chết lặng đi chỉ còn nghe thấy tiếng gào thét của 2 người đó như chực chờ sẵn đưa tôi qua bên kia sông tối đen trong tiếng gào rú và tiếng gió vùn vụt khi 2 người tay chống gối nhảy qua nhảy lại giữa 2 bờ sông.

Có lẽ vào giữa buổi sáng hôm sau tôi nhìn thấy cha mẹ tôi đang đứng cạnh với tấm vải ướt trên trán và tôi nghe được cha nói: nó tỉnh lại rồi, chắc không ra đi như mấy anh chị nó…

Sau này tôi mới biết rõ hơn rằng trước tôi nhà đã có 8 anh chị ra đi ở độ tuổi của tôi (1-3 tuổi) và đều do căn bệnh sốt cao rồi chết rất nhanh. Sốt cao là nguyên nhân của vô số bệnh tôi không rõ đó thực sự là loại bệnh gì. Một người anh sinh ra trên tôi và 7 anh chị khác trước đó cũng đều mất khi đã biết đi, biết nói… Chắc ông bà linh thiêng và các anh chị đã phù hộ để tôi không bị 2 vị mặt đen đó đưa đi.

Hình ảnh cứ mỗi khi tôi ốm, nhất là khi sốt cao sau này tôi vẫn thường thấy rất rõ 2 vị đàn ông mặt vuông đen kịt lần đó.

Chủ Nhật, tháng 7 28, 2024

Tình người xa lạ 2 (chuyện chưa từng kể với bất kì ai)

Hồi ấy, tôi 9 tuổi, là mùa hè năm 1966, sắp bước vào lớp 2 (trong chương trình 10 năm phổ thông[1]). Tình tôi nhút nhát, lại gầy-đen-còi cọc, yếu hơn các bạn cùng tuổi nên nhìn bé như 5-6 tuổi. Tôi hay mặc cảm với mình và rất sợ gặp người lạ, chỉ thích chơi một mình quanh nhà.

Hôm ấy trưa hè nắng nóng, tôi mang cái gáo dừa ra cầu ao cạnh nhà tắm. Cả làng như đang ngủ say, rất vắng lặng. Tắm chỉ là ngồi múc nước dội lên người cho mát rồi ngắm con chim trên cây, con cá dưới ao bèo chứ không có kì cọ gì. Tôi đang ngơ ngẩn nhìn mấy con bọ nhảy trên mặt nước, bên dưới có mấy con cá tí tẹo lấp lánh màu rất đẹp bơi qua lại thì bỗng giật mình nghe tiếng bước chân người. Tôi vội thu dọn để chạy về nhà. Khi đứng lên và… không kịp nữa rồi: một chị học sinh K8[2] đang trọ trong làng đã đứng trước mặt tôi. Thấy tôi vội vã bỏ đi thì chị nhẹ nhàng bảo tôi dừng lại và bảo tôi ngồi xuống cầu ao để chị tắm cho tôi.

Chị tắm rất kĩ, kì cọ các ghét bẩn trên người đen gầy của tôi, vừa tắm vừa nói chuyện về phải giữ gìn vệ sinh cơ thể, tự chăm lo cơ thể để khỏe mạnh, từ đó biết tự lập làm nhiều việc của bản thân. Tôi rất xấu hổ không dám nhìn và nói chuyện với chị, chỉ để cho chị kì cọ và lắng nghe. Khoảng mươi phút, chị bảo xong rồi, mặc áo quần vào rồi về. Chị thì đi tiếp lối mòn ngõ nhỏ về phía giữa làng.

Tôi không biết chị ấy là ai, đang trọ ở nhà nào trong làng, chỉ thoáng thấy khoảng độ tuổi 14-15, da trắng, bàn tay rất mềm mại, kì cọ cho tôi và nói chuyện nhỏ nhẹ giọng Quảng Bình, hình như có mái tóc dài khi tóc chạm vào lưng tôi. Chị đến và đi rất nhanh nhưng đã kịp tắm cho tôi sạch sẽ. Cảm giác vừa lạ vừa sợ là những gì tôi còn nhớ được rõ nhất lúc ấy về chị.

Tại sao chị ấy lại dành sự chăm sóc chu đáo cho một đứa trẻ như tôi trong làng này. Nhà tôi khi đó đang có các nữ sinh sư phạm ở trọ nên không được phân công nhận học sinh K8, nhưng vì sao chị lại không ngại ngần để tắm cho tôi. Rõ ràng chúng tôi không hề quen nhau. Hay vì chị ấy thấy tôi bẩn quá, hay vì chị ấy siêng năng quen làm việc giúp người, hay vì chị ấy đang nghĩ tôi như đứa em trai của chị cũng đang được đưa ra sơ tán theo K8 ở một làng nào đó?

Ít lâu sau, lớp K8 của chị ở làng tôi được chuyển lên các huyện vùng núi an toàn hơn (làng tôi gần vùng bom đạn của máy bay Mỹ) nên tôi không bao giờ được biết gì về chị ấy nữa. Cho đến nay mỗi khi tắm tôi vẫn thường nhớ cảm giác bàn tay mềm mại của một cô gái đang tuổi dậy thì kì cọ trên vai, trên lưng mình. Một cảm giác đầy lòng thành kính và biết ơn trong tình người xa lạ.



[1] Trong chương trình 10 năm học phổ thông, hồi ấy chúng tôi đủ 7 tuổi vào lớp Vỡ lòng, 8 tuổi lớp 1,… và hết 17 tuổi thì xong lớp 10.

[2] Chiến dịch K8 hay Kế hoạch 8 là một chiến dịch trong cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài từ tháng 8 năm 1966 đến cuối năm 1967. Đây là cuộc trường chinh sơ tán bằng đường bộ hơn 30.000 học sinh từ 5 đến 15 tuổi ở Quảng Bình, Quảng Trị (các vùng Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ) ra sinh sống và học tập ở các tỉnh phía Bắc là Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Hà, Thái Bình. Chiến dịch này do Bác Hồ chủ trương nhằm di chuyển những người không thể cầm súng ra khỏi vùng hủy diệt của chiến tranh.

 

Chủ Nhật, tháng 7 07, 2024

Tình người xa lạ 1

Năm 1975, tôi đi thi đại học ở 1 điểm trường tại thị xã Thanh Hóa (nay không còn nhớ trường nào). Từ nhà đến điểm thi xa hơn chục km nên tôi đi bộ từ sáng sớm. Khi đến điểm tập trung làm các thủ tục, tôi được bộ phận tiếp đón hướng dẫn phòng thi và giúp các thí sinh có nhu cầu ở trọ. Chắc chắn phải ngủ lại 2 đêm (hôm trước đến nhận phòng thi và nghe hướng dẫn thủ tục, ngày hôm sau thi 2 môn, còn ngày thứ 3 thi môn cuối). Tôi không nhớ lắm về các chi tiết cuộc thi, nhưng lại không quên được chuyện đi trọ thi lần ấy.

Một bác phụ nữ cao gầy đưa tôi đến một gia đình có căn nhà nhỏ và nói nhà này chỉ nhận được 1 người. Hồi ấy sau chiến tranh nên thành phố bị bom phá hết, nhà ai cũng tuềnh toàng, đơn sơ. Chủ nhà là anh thanh niên trẻ (có lẽ không bằng tuổi tôi, tôi không biết tên) cởi trần, dáng nhỏ con, khuôn mặt hiền lành, chất phác. Anh chỉ cho tôi nơi nằm là cái gường nhỏ ở góc phòng chính, còn anh ngủ trong buồng (phòng trong). Đại loại rất đơn giản vì chúng tôi đi thi đã mang theo màn và vài vật dụng cần thiết cùng gạo và vài thực phẩm để tự nấu ăn. Nói chung, tôi cũng không quá lo về chuyện thi vì khi đó không mấy người đỗ đại học, chỉ mong cho chút điểm để có thể được đi học trung cấp hay sơ cấp gì đó, hòng tìm cách thoát ly khỏi quê nghèo kiếm cơm là được.

Buổi chiều hôm đó, tôi tự nấu ăn với gói muối vừng và rau mẹ tôi đã chuẩn bị. Anh cho tôi mượn cái nồi nhỏ nấu cơm. Củi thì anh có một chút trong bếp nên bảo tôi cứ việc dùng.

Sáng đi thi, không nấu ăn gì cả vì khi đó mọi người đều không ăn sáng. Đi thi không lo, không sợ, thi là thi thôi. Anh chủ nhà dậy trước rồi, khi tôi chuẩn bị đi thì anh nói: cứ để gạo đó tôi nấu hộ cho, khi thi về kịp ăn để chiều còn thi tiếp may ra nghỉ được chút thì tốt. Tôi vui vẻ nhờ anh.

Trưa về đã thấy anh chuẩn bị một cái mâm nhỏ cạnh giường, anh bảo tôi ăn để còn tranh thủ nghỉ. Tôi thấy mâm có đĩa rau luộc cùng bát nước chấm và mấy quả cà muối. Cơm anh nấu khéo, sạch sẽ. Tôi lặng lẽ cám ơn anh và ăn. Anh chỉ hỏi có làm được nhiều không và để tôi ngồi ăn một mình.

Chiều anh đợi tôi về và đưa gạo để anh thổi cơm chung, ăn chung. Anh nấu, tôi rửa bát. Trong bữa cơm tối, anh ăn nhỏ nhẹ, ít nói chuyện. Tôi chỉ nhớ anh nói là thanh niên nông thôn mà có chí học hành đi thi đại học là khá lắm, sau này có cơ hội nghề nghiệp đỡ vất vả, điều đó nhiều người ở thị xã có điều kiện hơn mà cũng không làm được.

Sáng hôm sau tôi dọn đồ và chào tạm biệt anh vì thi xong là tôi sẽ đi bộ về nhà ăn cơm cùng gia đình nên không quay lại chào anh nữa. Anh chào lại nhẹ nhàng và chúc tôi may mắn.

Tôi cứ nhớ mãi sự tử tế đầy tình người xa lạ của anh dành cho tôi. Việc anh chủ động giúp tôi nấu ăn dường như có sự ngưỡng mộ nào đó. Anh đã ngưỡng mộ chân thành sự học hành và sự cố gắng của người khác mà bản thân không hề có sự đố kị hay so sánh gì. Rất tiếc sau này tôi không có cơ hội gặp lại anh nhưng những gì anh dành cho tôi thật vô cùng quý giá. Sự giản dị, chân thành của anh là tình cảm biết ơn tôi mang theo suốt đời.

Ghi chép 2012, viết lại 7/7/2024

Thứ Sáu, tháng 7 05, 2024

Hương cốm đầu mùa

 

Sau rằm tháng Tám, trời trong xanh, nắng nhạt dần. Dân trong làng đã vào lần ‘giáp hạt’[1] gần một tháng. Nhiều nhà cơm độn, cháo rau qua ngày...

Ngoài đồng, lúa đã trổ, gió nổi sóng nhấp nhô trôi từ cánh đồng này sang cánh đồng khác, hương lúa thơm ngào ngạt bay theo gió, tràn khắp làng. Đi trên đồng bụng thì đói mà lòng thì thanh thản lạ quá. Qua ruộng lúa nếp, mùi hương như dzoãng ra, đằm nhẹ, bay sâu vào rất sâu trong mũi, vào tận họng, nghe như thấy vị ngòn ngọt thoang thoảng trong cổ, thấy tê tê lâng lâng trong não[2]...

Một hôm nghe lũ trẻ kháo: ‘Vào chắc rồi’. ‘Vào chắc rồi, vào chắc rồi’... thì thào, thì thào, những đôi mắt trẻ sáng long lanh trên khuôn mặt đói xanh xao. Buổi sáng hôm sau đi học, nhìn nhau chỉ thấy những cánh mũi phập phồng, đôi mắt thì xa xăm, xa xăm... Bài học đầu kỳ 1 hôm đó như bay sát xuống rất thấp, lời thầy[3] nông nổi trong não. Trưa về bước đi như lướt trên đường, rất vội vàng.

Buổi chiều, lũ trẻ lớp lang tổ chức rất chặt chẽ: đám chăn trâu là những đứa trẻ ngoan nhất, nhát gan nhất làm nhiệm vụ cảnh báo[4] từ xa. Bạo hơn là bọn con gái cắt cỏ, bọn con trai mò cua, ốc tiếp cận khu đồng lúa nếp của HTX. Nhiều cái đầu đen nhấp nhô cao thấp trong sóng lúa: bọn chúng đang nhanh tay ‘lỏn’[5] những bông nếp to dài, xanh đậm, đã qua kỳ ngậm sữa vào kỳ chắc xanh[6]...

Chỉ một loáng, cả bọn tản ra. Trong giỏ cua, trong gánh cỏ giấu những của quý mỗi năm chỉ có một lần. Chiều về, đứa trẻ trâu nào dưới lớp áo bên trong bụng cũng có một túm to bằng cái bắp chuối nhỏ. Người lớn đi qua, lũ trẻ vờ cúi xuống, nhưng họ biết thừa cái túm trong bụng chúng: mùi thơm của chúng không ai giấu được, hương bùng lên nhưng nhức như tố cáo, như kêu oan vì chúng bị cưỡng bức hành hình để đời lúa của chúng chưa kịp hiến dâng... Đàn trâu hôm đó bị lôi về sớm hơn thường lệ, tối đó nhiều nhà có nồi canh cua, bát dấm ốc ‘bị nhạt hơn’ mọi ngày...

Cơm xong, không cần dạo quanh làng, ai cũng biết tối đó lũ trẻ và cả làng có bữa tiệc hương ‘cốm lúa lỏn’ tươi ngon nhất, rất khó quên trong đời.

 



[1] Giáp hạt: thóc vụ trước đã hết chờ mùa thóc vụ sau. Đói tháng 3 và tháng tám (âm lịch) kinh niên trong những năm tháng HTX, nhưng "tháng tám đói qua, tháng ba đói dài"...

[2] Hương ruộng lúa nếp khó tả được, nó là cảm xúc mỗi người.

[3] Hồi đó sao ít cô giáo thế nhỉ?

[4] Cảnh báo mấy ông bảo vệ đồng ruộng HTX đi kiểm tra.

[5] "Lỏn": cầm cái liềm hay dao, chọn những bông già nhất để cắt. "Lỏn" chỉ cần 1 bàn tay. Nếu nhanh mắt có thể "lỏn" bằng 2 tay sẽ nhanh hơn.

[6] Vào chắc: riêng giai đoạn trổ bông, lúa có các bước: trổ bông, phơi màu, ngậm sữa, vào chắc, chín xanh, chín. Khi vào chắc, hạt lúa bắt đầu phồng ra, căng lên, bên trong vỏ gạo đã cứng bao quanh cái bọc sữa trắng đục.


Đi bán tranh rạ cùng mẹ

Tranh là tấm rạ để lợp nên những mái nhà tranh[i]. Mỗi tấm tranh được đan qua 4 nan nứa (gọi là hom nứa). Do được bện tết lại từ gốc rạ phơi khô nên khi kẹp vào hom, chúng rất chắc chắn, trung bình dài khoảng 150cm, rộng 60cm, dày khoảng 4-5cm. Với rạ khô, giắt kĩ và chắc, mỗi tấm tranh nặng khoảng 0,8-1kg. Lợp 1 mái nhà cần khoảng mấy trăm tấm và càng lợp dày thì càng được lâu, trung bình 2-3 năm mới phải lợp lại.
Những "gồi rạ" phơi khô trên đồng để
mang về đánh thành tấm tranh lợp nhà