Hiển thị các bài đăng có nhãn Những ngày đầu quân ngũ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Những ngày đầu quân ngũ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, tháng 11 23, 2024

Bài 14: Những trải nghiệm và học hỏi

 

Từ 15-12-1980 nhập ngũ tại sân đình làng Mông Phụ đến 15-3-1981 rời khỏi bãi đất đầu làng Mông Phụ về Hà Nội để 17-3-1981 lên tàu đi Nam, chúng tôi có 3 tháng bên nhau. Trừ mấy ngày được về quê nghỉ Tết Tân Dậu, chúng tôi có hơn 80 ngày đầu quân ngũ trên vùng đất linh thiêng vượng khí thuộc phiên hiệu đơn vị C4, D354, E826.  

Tôi muốn kết thúc những chuyện “Những ngày đầu quân ngũ” mục Thời cuộc và duyên phận bằng vài tổng kết dưới đây coi như là những trải nghiệm và học hỏi. Chúng tôi khi ở trường đại học chỉ có được mảnh ghép cuộc sống khá chật hẹp, khép kín. Mặc dù có được những ngày đi lao động thực tế hay đi thực tập giáo trình, thực tập tốt nghiệp thì cũng chỉ là các quan sát cuộc sống với những gì mình học để đối chiếu so sánh, nhưng chưa từng được chủ động vì luôn có thầy, có bạn, có những quy định phải làm. Nay chúng tôi đã được nhiều tự do để nhận thấy cuộc sống một cách độc lập nên có những trải nghiệm thú vị để có thể nhận ra một chút giá trị mà chúng tôi có được trong mỗi con người.

Lần đầu tiên chúng tôi được tiếp xúc với cả gần trung đoàn những trí thức trẻ bên nhau. Họ đến từ nhiều ngành nghề bậc đại học vừa tốt nghiệp, lại có cả anh em từ nước ngoài. Tập hợp nhau lại đã thành cả “cả núi” tương tác, chia sẻ, trải nghiệm quý. Chúng tôi có dịp nhận ra mình so với “thiên hạ” ở nhiều điểm dưới đây:

Bài 13: Chuyện “tếu táo” bên những quán nước chè

 

Ngồi quán uống chè là chuyện hàng ngày của bộ đội khi ấy. Chúng tôi được tự do đi lại, hơn nữa do đơn vị không đủ nước uống nên cứ ăn xong là ra quán ngồi uống nước, nói chuyện gẫu, ăn kẹo…

Quán sá ở đây đều tạm bợ, chủ yếu là những người dân thôn Văn Minh ra đồi cây gần doanh trại che tạm các lán sơ sài để bán nước chè xanh, chè chén, mấy lọ kẹo dồi, chè lam… Trước khi chúng tôi doanh trại thì chưa có, gần Tết thấy mọc lên vài quán, sau đó qua Giêng thì bắt đầu có thêm khoảng gần chục quán. Có lẽ trước đó người ta không cho dân bán hàng cạnh doanh trại hoặc doanh trại cấm tân binh ra quán chăng? Nhưng từ khi chúng tôi đến thì không cấm được nên người dân mở quán kiếm thêm chút thu nhập.

Thứ Sáu, tháng 11 22, 2024

Bài 12: Bác chăn bò và tài dân vận của Trần Hữu Giang


Việc cải thiện bữa canh rau nấu trai diễn ra được khoảng chục ngày thì chúng tôi dừng, một phần vì ăn nhiều trai cũng chán, phần khác do một số người dân biết phát hiện của chúng tôi nên đã “khai thác” thường xuyên hơn và sự khan hiếm tất nhiên xảy ra. Trời có cho ai mãi được đâu, thế cũng đủ. Chúng tôi được thiên nhiên ban tặng sản vật để hưởng thụ trong hoàn cảnh ấy đủ vui, đủ khoái lạc rồi.

Một hôm trên đường đi quán uống chè về, cả bọn gặp bác nông dân đang dắt 1 con bò vàng nhỏ gặm cỏ ven đường. Giang lên tiếng chào, bác nông dân cười chào lại. Nói chuyện linh tinh một hồi, Giang hỏi bác có con gái ở cùng bác không rồi gạ bác cho chúng tôi vào chơi. Bác nông dân đồng ý và dắt bò về, chúng tôi cùng đi nói chuyện với bác.

Bác chắc khoảng gần 60 tuổi, người nhỏ, hom hem kiểu đói ăn hay ốm bệnh gì đó. Chiếc áo cũ màu vàng đất đồi gần như lông con bò có lẽ không đủ ấm với bác. Con bò gầy còm và bác cũng gầy đến độ hom hem nhưng lại như rất ăn ý và hợp cảnh. Bác nói chuyện chậm rãi, cười rất hiền lành chân thật. Trên đường đi, Giang là người nói chuyện chính, chúng tôi đi theo nghe và phụ họa đôi câu.

Thứ Năm, tháng 11 21, 2024

Bài 11: Phát hiện nguồn thực phẩm quý và uống rượu Rằm Tháng Giêng trên đồi cây


Sau khi được nghỉ Tết về đơn vị, chúng tôi ngồi chờ phân công trong tình trạng tự do rong chơi hàng ngày. Nhóm chúng tôi bắt đầu khám phá cảnh quan hồ đầm quanh doanh trại.

Đi chừng gần 500m là đến 1 đầm lớn mà ở sân trên đồi doanh trại cũng nhìn thấy về phía đông. Nay ở Google Map thấy có tên đầm Dương. Cả nhóm ăn sáng xong đi dạo ra phía đầm. Năm ấy sau Tết không rét lắm, sang Giêng lại có nắng ấm. Cả bọn đến đầm lớn, nước trong, gió thổi gợn sóng vào bờ phía chúng tôi đứng ngồi ngắm hồ. Anh Mo Lan nói đầm này thông đến tận hồ Suối Hai và anh bảo: ở đây có thể có rất nhiều hến, để tôi thử lội xem. Xin nói thêm là anh Lan lúc này đã có vợ, anh cưới vợ vào ngày 29 Tết, nhà anh cách nhà tôi chưa đầy 10km nên tôi đã được vào dự đám cưới anh chị. Mấy ngày sau, anh chị đến chơi và ăn Tết với gia đình tôi.

Thứ Ba, tháng 11 19, 2024

Bài 10: Đi thăm các điểm quanh doanh trại

 

Sau “sự cố Khoa mục AK”, chúng tôi không phải tập trung huấn luyện gì nữa. Hàng ngày đi dạo chơi quanh vùng, trưa về ăn ngủ rồi chiều lại đi đâu đó… Dưới đây là 2 mẩu chuyện tôi còn giữ được nhiều ấn tượng nhất.

Thứ Hai, tháng 11 18, 2024

Bài 9: Đi tải gạo – phát hiện năng khiếu mới

 

Vào những ngày đầu chúng tôi mới vào doanh trại, khi chưa được trả quân hàm sĩ quan, chúng tôi bị “coi như tân binh” nên được huấn luyện và thực thi các quy định rất vô lí như tôi đã nói ở các phần trước. Dưới đây là một chuyện trong số đó, nhưng đối với nhóm chúng tôi thì lại là một kỉ niệm đáng nhớ.

Một buổi sáng cuối trước ngày 20-1-1981[1], chúng tôi được yêu cầu mang theo balô (ba lô rỗng) đi bộ xuống Sơn Tây tải gạo cho Trung đoàn. Cho đến nay tôi cũng không rõ đây có phải là yêu cầu huấn luyện hay chỉ là tình huống cho việc đơn vị thiếu phương tiện vận chuyển. Nếu cả tiểu đoàn đi lấy gạo thì cũng giải quyết được khẩu phần ăn cho đơn vị được cả tháng.

Thứ Sáu, tháng 11 15, 2024

Bài 8: Đi chợ Mía và thăm chùa Mía

 

Mấy ngày đầu tiên ở làng Mông Phụ chúng tôi đi dạo quanh làng, nơi đầu tiên đến là chợ Mía và thăm chùa Mía.

Chợ là nơi thể hiện văn hóa địa phương tổng hợp nhất, khách quan, toàn diện, hiện thực. Chỉ cần thăm chợ địa phương ở bất kì nơi nào mình đến sẽ thấy ở đó hồn quê hiện về: ta nhớ mẹ ta, chị ta khi gặp các bà, các chị ở chợ quê xa lạ ấy. Hình ảnh chợ quê nơi xa nào đấy sao vẫn rất giống quê ta thuở tuổi thơ mỗi người. Còn sản vật địa phương và những món ăn dân dã nơi ấy là cái để ta so sánh với quê nhà, rồi chúng ta mắc bệnh làm ồn ào lên giọng “ở quê tớ ấy à”[1] như là tiếng khoe tự hào nơi mình xuất thân.

Thứ Năm, tháng 11 14, 2024

Bài 7: Những trải nghiệm “tếu táo” đầu tiên của những chàng sĩ quan-kĩ sư kinh tế nông nghiệp

  

Tôi nói rõ thêm là nhóm 7 người cùng lớp đi bộ đội ở Trung đoàn 826, nhưng Âu Dương Đức là kĩ sư-lính nên tập trung ở tiểu đoàn khác và không có tên trong những trải nghiệm “tếu táo” tôi viết ở đây. Trong số 6 chàng thì có Nguyễn Hữu Đào khi học đại học là ở Tổ 2, còn lại đều ở Tổ 1 (riêng Cao Ngọc Đức sau năm thứ 3 chuyển sang Tổ 3). Cùng tổ học tập tức là cùng ngủ chung phòng trong kí túc xá. Sự cố kết của chúng tôi một thuở có nền tảng lâu dài. Sau đó cả 6 chúng tôi đều đi Nam trên 1 chuyến tàu, Lê Ngọc Lan đi QK5, Cao Ngọc Đức đi QK7, Bính - Giang - Đào - Ảnh vào QK9. Tiếp đó Âu Dương Đức cũng vào QK9 nhưng đi bằng tàu biển Thống nhất không đi tàu hỏa như nhóm chúng tôi.

Thứ Tư, tháng 11 13, 2024

Bài 6: Một số chuyện khó quên khác

  

Chuyện quanh bếp ăn tiểu đoàn

Từ sau khi bỏ huấn luyện, bộ độ hàng ngày đi chơi loanh quanh trong vùng rồi chờ đến giờ thì đi ăn. Vì tự do đi lại không ai quản được nên nhiều người bỏ cơm, đến giờ ăn chỉ có số có mặt vào lấy hết những phần cơm đã chia ở bếp tiểu đoàn. Đại loại nhóm nào có người đi vắng thì lấy cơm của họ, nhưng có nhóm đi vắng nhiều người thì cuối cùng là ai cùng vào lấy, mạnh ai lấy đó, nhưng vì thừa nhiều nên không có ai mất cơm cả. Chuyện lao vội vào lấy cơm, lấy tất cả mọi thứ rất nhốn nháo đáng xấu hổ. Tụi “anh nuôi” thấy thế cũng chẳng nói gì. Anh nào đến chậm thì chắc chắn biết không còn cơm để dành cho mình nên không đến nữa hoặc tìm nhóm quen của mình mà ăn chung.

Cơm bộ đội thì nếu ăn mỗi người 1 suất cũng đủ, không đói. Tiêu chuẩn lương thực cao 21kg/tháng, nhưng thức ăn thì có rất ít. Khi ăn không hết cơm, bộ đội cho cơm vào mũ cối đem ra các quán ven đồi đổi lấy nước chè xanh, kẹo dồi, thuốc lá… Các quán dạo này mọc quanh lán trại ngày càng nhiều, ngồi tếu táo uống chè tán gẫu vui đáo để, nhất là một số quán có mấy cô gái thôn nữ xinh xắn bán chè xanh…

Những ngày này bộ đội được chia khẩu phần bị ăn bớt rất tệ. Một số anh em phản ứng kêu gọi yêu cầu kiểm tra bếp ăn. Có người thấy cán bộ khung lấy cơm về có suất cơm với rất nhiều thức ăn ngon trong khi cùng tiêu chuẩn như nhau. Anh nuôi quân nói một câu tôi còn nhớ đến tận bây giờ: “miếng ăn là miếng nhục nhưng miếng nhục là cục thịt nạc”. Nghĩ đến mà não lòng!

Bài 5: Khoa mục bắn súng AK-47 và Báo động di chuyển đêm mưa gió

Khoa mục bắn súng AK-47

 

Buổi sáng ấy, tiểu đoàn tập trung 2 đại đội nghe Khoa mục bắn súng AK-47. Phụ trách tập hợp anh em ngồi trong sân doanh trại. Một trung úy hướng dẫn, có cái bàn kê và khẩu AK[1] với Khoa mục được giới thiệu 4 phần: Cấu tạo - Tính năng - Sử dụng - Tháo lắp và Bảo quản.

Phụ trách khoa mục giới thiệu phần cấu tạo nhanh, có vẻ tự tin kiểu thuộc bài. Thấy bộ đội yên lặng không nói gì, anh ta có vẻ hưng phấn. Phần tính năng, giáo viên nhấn mạnh tính liên thanh và điểm xạ của AK. Đang cao hứng thì một bộ đội giơ tay xin hỏi: Thưa đồng chí giáo viên AK là gì ạ? Anh giáo viên im lặng, lúng túng 1 hồi. Bên dưới bộ đội ồn ào, cười và nhốn nháo. Có tiếng huyết sáo trêu chọc. Giáo viên đỏ mặt trả lời: Các đồng chí đừng nghĩ là tôi không biết nhé. Tôi có ghi AK trong sổ tay để  ở nhà. Đừng tưởng tốt nghiệp đại học và tốt nghiệp đại học nước ngoài về mà coi thường chúng tôi nhé. Đừng tưởng chúng tôi không biết AK là gì. Tôi sẽ về lấy sổ ra đây để các đồng chí thấy.

Bộ đội càng cười to, nhốn nháo còn giáo viên lúng túng không biết xử lí thế nào. Bộ đội bỏ hàng ngũ cười ngả nghiêng và tự giải tán buổi khoa mục. Anh hướng dẫn khoa mục tức tối nhìn theo mà không làm gì được. Cũng từ đó phát sinh các vấn đề giữa cán bộ quản lý đơn vị và bộ đội.

Thứ Năm, tháng 11 07, 2024

Bài 4: Doanh trại trên đồi bạch đàn thôn Văn Minh

 

Những ngày đầu chúng tôi vào doanh trại đơn vị huấn luyện tân binh thuộc Tiểu đoàn 354, Trung đoàn 826 (có lẽ thuộc Quân khu Thủ đô). Doanh trại đóng trên những quả đồi trồng cây bạch đàn thưa thớt thuộc địa phận thôn Văn Minh, xã Cam Thượng, Ba Vì[1], Hà Nội. Khu đồi xa dân cư thôn Văn Minh chừng 1km, cạnh các đồi có một đầm tự nhiên lớn. Có khoảng hơn chục lán trại dành cho 4 đại đội (mỗi đại đội 3 lán). Chúng tôi ở Đại đội 4, các bạn chưa qua sĩ quan dự bị ở Đại đội 3.

 


Google map cho thấy từ đình Mông Phụ đến chỗ đóng quân là 4km. 
Đầm tự nhiên cạnh nơi đóng quân tên là Đầm Dương thôn Văn Minh có nhiều trai hến.

Thứ Ba, tháng 11 05, 2024

Bài 3: Nhập ngũ nơi đất thiêng vượng khí


Chúng tôi chỉ biết là xe đưa đến Sơn Tây – khi đó Sơn Tây được mệnh danh là “Thủ đô của lính” vì có rất nhiều trường quân sự, nhiều đơn vị bộ đội đóng quân ở đây.

Xe đưa chúng tôi đến cổng một sân đình lớn, rộng rãi. Hỏi mới biết là đình làng Mông Phụ xã Đường Lâm, Sơn Tây. Đội đưa tiễn Đoàn Thanh niên chào suông mấy câu rồi vội vã cuốn cờ ra về không tỏ cảm xúc gì ngoài biểu thị việc “tống tiễn” đã xong. Mấy cán bộ nhận quân tập hợp chúng tôi thành hàng lối, điểm danh, phổ biến ngắn và phát quân trang tân binh. Quân trang gồm quần áo lính, bộ lót, ba lô, chăn chiên, chiếu, bát sắt tráng men, mũ cối có sao, giày vải có tất, thắt lưng, mỗi thứ 1 cái (nghĩa là khi giặt thì phải chờ khô mới có cái thay). Sau đó là phân theo từng nhóm về nhà dân ở và hướng dẫn nơi ăn tạm tại sân kho HTX gần đó. Mọi người tranh thủ thay quân phục mới rồi đi ăn trưa. Nhìn đội ngũ đeo ba lô có cái chiếu vòng quanh sau lưng đi thành hàng cũng vui mắt, không còn lốm đốm mỗi đứa 1 màu như khi mới xuống xe.

 

Đình làng Mông phụ (ảnh trên Google)

Thứ Hai, tháng 11 04, 2024

Bài 2: Tạm biệt Đại học Nông nghiệp I – Chúng tôi lên đường


Sau “lễ tốt nghiệp” khóa 2 Sĩ quan dự bị, ngày 9-10-1980 chúng tôi trả quân trang, nhận các giấy tờ rồi về quê chờ công tác. Tôi băn khoăn một chút về việc trả lại quân trang (một bộ quần áo dài, một mũ, một giày, một thắt lưng, chỉ có đôi tất chân là không thu lại) sau 3 tháng luyện tập mà thu về thì còn dùng sao được nhỉ, ai sẽ là người dùng lại?

Chỉ 1 tháng sau, UBND xã tôi gọi tên lên giao cho tôi giấy báo tuyển quân sự đợt 2-1980. Giấy được gửi từ Đại học Nông nghiệp I qua UBND xã Đồng Tiến (Số 1/ĐH1/TC do Hiệu phó Nguyễn Đức Bình kí ngày 6-11-1980) yêu cầu địa phương và cá nhân chấp hành gấp theo lối vừa động viên lại vừa như “uy hiếp”.

Thứ Sáu, tháng 11 01, 2024

Bài 1 – Huấn luyện sĩ quan dự bị - duyên phận sĩ quan chính thức

 

Sau tốt nghiệp đại học, chúng tôi có những ngày nhàn tản cuối tháng 5/1980. Một số người thạo tin nghe ngóng, bàn luận chỉ tiêu phân công công tác. Đa số nằm khàn chờ ‘số phận’ ban xuống. Tưởng đã an bài theo kiểu cán bộ nhà nước hưởng lương để các chàng trai ‘ngờ nghệch’ như chúng tôi sẽ vào cơ quan địa phương (tỉnh, huyện) hay cục, vụ, viện, nông lâm trường, trạm, trại… gì đó để nhận công tác suốt đời thì cuộc sống lại ‘bẻ ghi’ để chúng tôi sang hướng khác.

Tôi về nhà được mấy ngày thì nhận được quyết định của Hiệu trưởng (kí 4-6) yêu cầu phải có mặt vào 26-6 để tham gia huấn luyện sĩ quan dự bị.

Thứ Bảy, tháng 10 12, 2024

Đến Cần Thơ


Sáng 23-3-1981, chúng tôi ra bến xe miền Tây đi Cần Thơ. Đoàn đi Quân khu 9 khá đông, lại có nhiều anh em cùng trường đại học nên trên xe dễ bắt chuyện. Tôi thấy vùng đất lạ thì chỉ thích ngắm nghía. Xe chạy ra khỏi thành phố là thấy ngay những cánh đồng rộng lớn xen lẫn những khu dân cư xanh mướt cây cối miệt vườn.

Đến bắc[1] Mĩ Thuận, mọi người xuống xe đi bộ lên phà. Người bán hàng nhao nhao rao bán đồ ăn, quà bánh, hoa quả. Rất nhiều loại hoa quả được cắt gọt sẵn chọc vào que hay bọc trong bao nilon cùng vô số loại bánh gói lá chuối, lá dừa tôi chưa từng thấy ở miền Bắc. Tôi bỗng cảm thấy như đang ở nước khác vì nghe không được mấy tiếng rao, tiếng trao đổi, mặc cả của người bán người mua. Giọng Nam bộ lần đầu tiếp xúc trực tiếp quả thật chúng tôi chưa thể thẩm kịp âm điệu của người dân vùng này. Tôi hơi hoang mang vì không lẽ nào mình lại không nghe nổi tiếng dân mình.

Lên phà là đã cảm nhận được không khí và gió mát của sông Tiền. Đầu tiên là sự mát mẻ, hào phóng của gió đồng bằng, rồi làn nước đục mờ đầy phù sa chảy nhẹ. Chiếc phà T200 chở được rất nhiều xe và người cũng là lần đầu tiên được thấy. Đây là sông Tiền Giang, một nhánh của sông Mê Kông vĩ đại khi chảy vào đất Việt. Tôi thấy vui vì mình đã đến được vùng miền Tây sông nước.

Bỗng tôi thấy anh Thiện trong nhóm kĩ sư nông nghiệp cùng đi Quân khu 9 đang nói chuyện với 1 anh bộ đội người Nam trên phà. Anh người Nam này nói nhỏ, chậm hơn những người rao bán hàng nên tôi nghe được nhiều hơn. Thiện hỏi: - Ở trong này bộ đội có bị đói không? Tôi nghe được anh ta hỏi lại: - Đói là gì? Thiện hỏi nhiều chuyện với anh ta cho đến khi phà cập bến. Tôi không còn nhớ các anh nói với nhau những gì nhưng câu hỏi về cái đói làm tôi suy nghĩ. Giá là tôi thì tôi không dám hỏi như Thiện vì với người lạ hỏi thế cũng hơi kì. Mấy anh xứ Bắc bị nhiều lần ám ảnh bởi cái đói, cái rét nên chợt lo cho mình có bị chuyện đói không khi đã đi đến tận vùng này. Về sau, chúng tôi đi xem phim Làng Vũ Đại ngày ấy[2] chiếu rạp ở Cần Thơ (năm 1982). Lúc này chúng tôi đã nghe được tiếng Nam, khi chiếu cảnh anh Dậu gầy gò ốm yếu cùng các cảnh làng quê miền Bắc những năm thuộc Pháp, tôi nghĩ khán giả miền Nam không hiểu được mấy. Có một anh người Nam ngồi sau tôi nói với bạn: không biết ngoài Bắc người ta thuê ở đâu mà nhiều người gầy gò như thế? Tôi giật mình: ngay lúc này ở Bắc thiếu gì người gầy gò, cái đói đầu những năm 80s còn kinh khủng lắm mà. Loại người gầy gò đó ở đâu chẳng có, ngay cả diễn viên, văn nghệ sĩ cũng là tầng lớp đại diện của nghèo đói, gầy gò. Nhưng ở xứ miền Tây này lấy đâu là người đói, người gầy…

Xe đi tiếp đến bắc Cần Thơ. Lúc này cuối giờ chiều, cảnh sông nước mênh mông hơn bắc Mĩ Thuận, nhưng cơ bản tôi đã được thấy ở Mĩ Thuận nên có cảm giác không quá mới lạ nữa. Cũng có thể mệt mỏi một chút nên kém háo hức hơn buổi sáng chăng? Cái nhánh sông Hậu này mới thực sự là sức mạnh của Cửu Long Giang… Buổi chiều gió mát nhiều hơn, thật khoan khoái với không gian nắng gió đồng bằng mênh mông sông nước.

Đầu bên kia là thành phố Cần Thơ. Khi phà gần cập bến, tôi thấy có rất nhiều xe lôi đón khách. Tôi lại được biết thêm 1 hình thức đưa đón khách bằng xe đạp, xe honda lôi kéo theo cái thùng tự chế rất sáng tạo có 2 bánh lăn theo có thể ngồi được 4-6 người tùy loại.

Thế là đã được đến Cần Thơ, đã qua 2 dòng sông lớn, qua 2 chuyến ‘phà khủng’ T200. Cần Thơ là trung tâm của miền Tây còn được gọi là Tây Đô. Tôi cảm thấy rất tự hào mình có được dịp đến với miền đất này.

Chúng tôi được đưa tới Trạm khách T82 của Quân khu 9 ở Trà Nóc để nghỉ ngơi và chờ công tác. Coi như đã hết những mẩu chuyện của hành trình. Chuyện ở T82 sẽ thuộc về nhóm nội dung: chúng tôi bên nhau trong duyên phận của thời cuộc những ngày ở Cục Kinh tế Quân khu 9.



[1] Phà nói theo phương ngữ Nam bộ gọi là bắc (lấy từ gốc tiếng Pháp: bac).

[2] Làng Vũ Đại ngày ấy là bộ phim nổi tiếng được xếp vào hàng những tác phẩm kinh điển của nền điện ảnh Việt Nam thế kỷ XX. Phim được sản xuất năm 1982 bởi đạo diễn Phạm Văn Khoa.

Thứ Năm, tháng 10 10, 2024

Đến Sài Gòn lần đầu tiên


Tàu đến ga Nha Trang vào đêm. Tôi không nhớ giờ, chỉ xuống chia tay với các bạn đi QK5 gồm anh Lê Ngọc Lan (trong nhóm 7 người cùng lớp) và các kĩ sư nông nghiệp cùng trường như Dũng (Quắt), Phương, Bùi Văn Sỹ, Quang (Xoăn), Thuấn, Văn Hồng Thanh (Ngang)[1]…

Khoảng 2.00pm ngày 20-3-1981, tàu vào ga Bình Triệu. Chúng tôi chia tay các bạn Cao Ngọc Đức (cùng lớp), Tô Văn Đào (KT20B) đi QK7. Anh trung úy tên Dánh là người dẫn đoàn đi QK9 đưa chúng tôi đến nghỉ ở 1 đơn vị quân đội (chắc đã liên hệ trước). Số đi QK9 khá đông, khoảng 30 anh em của nhiều trường đại học, trong đó kĩ sư nông nghiệp đông nhất. Tôi nhận ra nhiều anh em xuống ga Bình Triệu còn có cả bao tải tỏi mang theo. Nghe nói trong này tỏi bán được giá nên đã kịp mang theo kiếm chút lời lãi, thật là có tư duy buôn bán. Chúng tôi được thông báo sẽ đi Cần Thơ vào sáng 23-3-1981. Thế là chúng tôi có mấy hôm được nghỉ ở Sài Gòn.

Phố phường Sài Gòn ồn ào hơn Hà Nội. Tiếng người, tiếng xe ầm ĩ náo nhiệt lẫn tiếng rao bán hàng, đón khách với âm giọng hơi cao là cảm giác khá lạ với tôi. Chúng tôi tự hào đã được đến Sài Gòn - hòn ngọc Viễn Đông một thời.

Khi đó tôi không quen biết ai ở Sài Gòn. Giang biết địa chỉ của bà dì nên ngày hôm sau chúng tôi cùng đến thăm. Có lẽ dì là người Bắc đã di cư vào Nam từ lâu. Dì có căn nhà bình dị trong phố nhỏ. Tôi không nhớ lắm chuyện ở nhà dì nhưng gặp được anh Trần Hữu Long là tôi còn nhớ rất kĩ. Anh Long là anh trai ruột của Giang đi bộ đội vào Nam đã lâu. Anh xuống thăm dì từ Thủ Dầu Một và bất ngờ gặp chúng tôi ở đây chứ không hẹn nhau trước. Giang mừng ra mặt vì được gặp anh ở nhà dì. Anh Long hiền lành, hay nói chuyện, giọng nhỏ nhẹ dễ mến. Anh Long giới thiệu chúng tôi với dì: nào là các kĩ sư tốt nghiệp đại học rồi mới đi bộ đội, nào là ở ngoài Bắc các kĩ sư có tiền đồ tốt nay vào bộ đội bảo vệ Tổ quốc, nào là các trí thức miền Bắc nhưng giản dị và khiêm tốn… Thái độ anh Long rất chân thành, lộ rõ sự tôn trọng trí thức, tôn trọng kiểu ngưỡng mộ và tự hào.

Chúng tôi nói chuyện với anh rất cởi mở. Tôi có dịp hỏi anh trong này sách báo có dễ tiếp xúc không? Anh nói rằng sách báo cũ thì cơ bản khó tìm ở các thư viện nhưng sách báo đưa vào từ miền Bắc thì các đơn vị nào cũng có thể đọc hoặc mượn về đọc. Anh nói anh cũng thích đọc sách nhưng là bộ đội lâu năm nên chủ yếu chỉ đọc Văn nghệ quân đội, còn sách truyện, tiểu thuyết chưa đọc được mấy. Anh cười nói rằng các truyện ngắn trong Văn nghệ quân đội viết dễ hiểu, mình dễ ‘tiêu hóa’ (nguyên từ anh Long nói). Ý anh có thể là anh không phải dân trí thức như chúng tôi nên anh khiêm tốn, không đi sâu vào chuyện sách vở so với đám kĩ sư miền Bắc lắm ‘mọt sách’. Anh có phần hơi ngưỡng mộ chúng tôi quá chăng? (Chợt nghĩ về mấy hôm trước bọn này người đầy chấy rận !!!)

Anh nói với chúng tôi rằng các em là lính lại là kĩ sư vào đây có thể được tôn trọng hơn lính chiến. Ở Sài Gòn người dân quý trọng anh bộ đội lúc mới giải phóng do tính kỉ luật, nghiêm túc, rất khác với những hình ảnh cộng sản được tuyên truyền hồi chế độ cũ. Tuy nhiên, nhiều chuyện cũng làm mất uy tín bộ đội khi có những vi phạm kỉ luật của một số cá nhân bộ đội sau này. Nói chung đồng bào Sài Gòn nói riêng, miền Nam nói chung vẫn quý trọng bộ đội. Mình là người trong cuộc mới biết tấm lòng của đồng bào đối với bộ đội cộng sản và đồng bào hiểu bộ đội miền Bắc cũng đều là dân Việt Nam. Người Việt Nam có truyền thống thương người, đùm bọc nhau. Càng sống càng thấy người Sài gòn thương yêu bộ đội.

Nói chuyện với anh Long là kỉ niệm tôi còn nhớ rất kĩ lần đầu tiên tôi tới Sài Gòn. Sau này có nhiều dịp công tác, tôi hiểu thêm nhiều về Sài Gòn và cũng chiêm nghiệm được nhiều hơn về người dân Sài Gòn. Hồi 2009-2011, tôi là Trưởng Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh của Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã dám đi tiên phong tuyển 2 lớp cao học Quản trị kinh doanh trong này[2] (1 lớp học ở Học viện Hàng không và 1 lớp học ở Đại học Bà Rịa- Vũng Tàu), có dịp tiếp xúc với nhiều giảng viên đại học các trường phía Nam cùng tham gia hợp tác giảng dạy, tôi càng rõ hơn học viên phía Nam thích đổi mới, ham học hỏi kiến thức một cách cầu thị nên họ đòi hỏi sự nghiêm cẩn và tử tế trong môi trường giáo dục. Tôi có nhiều kỉ niệm với học viên cao học phía Nam cho đến nay vẫn còn thường xuyên nhắc đến trong những dịp gặp nhau.

Sài gòn ngày nay (cũng như Hà Nội) là tụ điểm lớn của cư dân cả nước. Mỗi lần đến Sài Gòn tôi vẫn có cảm giác gặp được đồng bào Sài Gòn qua những câu chuyện của anh Long hồi ấy khi bất chợt thấy những cử chỉ, hành động khiêm cẩn, tôn trọng nhau của người dân trên đường phố.



[1] Sau này chỉ Dũng (Quắt) và Quang (xoăn) là tôi chưa gặp lại. Phương trước khi nghỉ hưu từng là Bí thư huyện Lâm Hà (Lâm Đồng). Bùi Văn Sỹ ra quân về Viện Nghiên cứu cà phê Tây Nguyên, sau ra Hà Nội. Thuấn về Công ty bông Hà Nội, Văn Hồng Thanh trước khi mất là Giám đốc Sở Nội vụ Hòa Bình

[2] Từ năm 2010, đó Bộ Giáo dục và Đào tạo không cho phép các trường ở phía Bắc mở cao học ở phía Nam.

Thứ Tư, tháng 10 09, 2024

Nhớ lại 3 trò tếu táo trong hành trình

 

Hành trình từ Hới vào chỉ còn mấy chuyện gọi là vui tếu táo của lính. Vả lại, hành trình 4 ngày 3 đêm cũng đủ dài cho mấy trăm lính ngồi bên nhau nên chuyện rồi cũng cạn, những tếu táo bước vào pha ‘phá cách’ trêu nhau.

Chuyện thứ nhất

Cuối buổi sáng ngày thứ 2, mọi người thấy mệt mỏi ngứa ngáy, ai cũng nghĩ vào miền Trung bắt đầu nóng hơn, lại mấy ngày không được tắm. Bỗng một thằng phát hiện ra ‘sự kiện khủng khiếp’: những con rận béo núc trong áo quân phục nhàu nát. Thế là cả bọn cởi áo, vạch quần tìm rận trên tàu. Mấy chục chàng cởi áo tìm rận tạo ra những trận cười ran: tao lại thấy thêm 1 con, tao thấy một hàng trứng rận trắng phau, chỗ này tao tìm được 2 vợ chồng rận ôm nhau… Đôi kẻ còn như anh AQ trong truyện Lỗ Tấn thấy mình bắt được ít rận hơn thằng bạn bỗng nổi ghen. Ha ha ha, đoàn tàu của năm 1981 chở toàn kĩ sư, bác sĩ-sĩ quan được đào tạo bài bản từ miền Bắc XHCN và nước ngoài về đều bị bọn kí sinh trùng nguy hiểm bẩn thỉu tấn công. Bọn chúng ‘được hưởng’ từ dòng máu trí thức vô số những tư tưởng mới, kiến thức mới. Khi chấy rận tấn công trí thức thì trí thức làm mồi cho chấy rận còn trí thức chung sống với chấy rận thì trí thức có bị nhiễm bản năng chấy rận để ‘kí sinh’ vào chế độ, ‘kí sinh’ vào niềm tin XHCN? Ôi, Trí thức – Chấy rận!!!

Đúng là con người cao quý lúc này, bần tiện lúc kia, mà lại bần tiện cả đoàn luôn. Cao quý và bần tiện gần nhau quá, gần như một cái trở tay.

Có thể nói đoàn tàu chở chấy rận di cư từ Bắc vào Nam theo lính hay cả đoàn lính mang theo tàu cả một binh đoàn chấy rận nhập cư trái phép vào Nam? Chúng rất ghê tởm nhưng được ngụy trang trong hình hài của những chàng kĩ sư, bác sĩ-sĩ quan danh giá. May quá, bọn này vô tình bị nóng miền Trung phát hiện và nhanh chóng bị tiêu diệt trong những giờ nhàn hạ trên hành trình dài. Suýt nữa bọn chấy rận này thắng trong cuộc đổ bộ vào Nam đầy mưu lược ‘kiểu chấy rận’.

Chuyện thứ hai

Khi tàu qua các hầm ở đèo Hải Vân, cả bọn ngơ ngác thấy bỗng nhiên tàu tối đen giữa ban ngày. Khi ánh sáng trở lại mọi người phát hiện ra tàu vừa qua hầm xuyên núi. Sau những hầm đầu tiên, khi bộ đội nhìn thấy hầm thì kêu to: tàu sắp vào hầm. Mọi người ngồi chờ toa tàu sáng lại để đoán hầm dài ngắn bao nhiêu.

Thế rồi 1 lần tàu vào hầm, trong bóng tối bỗng có chàng kêu oai oái. Tiếng kêu thất thanh: đừng đánh, đừng đánh, mẹ thằng nào đánh tao… Khi tàu qua hầm, mọi người thấy chàng tên Khanh mặt đỏ gay, đau đớn chảy nước mắt. Mấy đứa ngồi bên mặt tỉnh queo. Thì ra Khanh bị ‘đánh hội đồng’ khi tàu vào hầm, chẳng biết kẻ nào, chẳng biết vì sao từ cái lũ mặt tỉnh queo ấy. Có kẻ cũng hơi quá tay một chút nên Khanh bị đau thật.

Khanh là kĩ sư Trồng trọt học trường Đại học Nông nghiệp I. Hồi cùng học sĩ quan dự bị, chúng tôi đã biết Khanh thường xuyên bị trêu chọc. Khanh quê Thái Bình, người thấp nhỏ, da trắng, mắt hơi lé, nụ cười rất “đĩ’ nhưng lại dễ tin người, không hiểu được các bạn trêu thật hay đùa vì thế bị ‘hành hạ’ đủ kiểu chỉ để cười. Khi ở Sơn Tây có bạn gọi Khanh ra nói rằng Khanh có bạn gái đến chơi đang đợi trên phòng đại đội. Thế là Khanh lao đến hỏi, không thấy bạn mới biết bị lừa. Lại có lần bọn thích trêu nói có người hỏi thăm Khanh đang ở mé đồi gần làng, hình như ở quê lên. Khanh vội tìm đến thì gặp một lũ bộ đội bảo Khanh vào quán ăn kẹo dồi, uống nước chè rồi đợi. Sau đó bắt Khanh trả tiền cho cả lũ rồi mới dẫn đi. Khanh trả tiền xong thì cả lũ bỏ chạy, Khanh lại ăn quả lừa.

Sau đó, mỗi khi tàu vào hầm là Khanh bỏ chạy ra xa đám ‘mặt tỉnh queo’ để tránh bị tra tấn kiểu ‘hội đồng’. Có lúc chẳng có hầm nhưng có chàng kêu tàu sắp vào hầm để Khanh chạy rồi cười với nhau. Vui được một chặng đường dài.

Chuyện của Khanh có dịp tôi còn nhắc thêm (Khanh cũng được phân công về Cục Kinh tế Quân khu 9 cùng chúng tôi) với những pha ‘dở khóc dở cười’ kiểu đó.

 Chuyện thứ ba

Còn một chuyện nữa cũng đáng nói là khi tàu dừng khá lâu ở 1 điểm ngoài ga cung đèo Hải Vân. Bộ đội thấy ngay bên dưới có một suối nước trong xanh. Trời về chiều nắng nóng nên ai thấy cũng muốn được tắm. Bỗng một đoàn 7-8 lính lao ra khỏi tàu đi xuống suối tắm. Nhìn họ tắm mà thèm quá, bơi lội trong làn nước trong xanh giữa cảnh núi non xanh ngắt hữu tình. Nhiều kẻ định lao theo thì tàu hú còi và xịch xịch chạy nhanh dần. Đám tắm dưới suối vội lao lên nhưng không kịp nữa rồi. Bộ đội nhìn xuống áy náy cho bọn tắm cởi trần vẫy vẫy áo cho tàu dừng lại, vừa vẫy vừa chạy theo tàu…

Nghe nói bọn này sau bắt xe kịp trở lại tàu ở ga Đà Nẵng. Chắc mấy chàng gan góc này không bao giờ quên được cảm giác suối mát lành và cảm giác giật mình khi tàu chạy bỏ rơi chúng.

Từ đây vào Nam chúng tôi chỉ còn thấy những hình ảnh mới lạ khi tàu vào các ga chứ không còn gì đáng nhớ. Nào là từ ga Đà Nẵng vào Nam bọn lính cãi nhau sao tàu lại lôi ngược ra Bắc, nào là ga gà, ga đường phèn, ga xoài, ga mực khô… trong hành trình khi thấy những cư dân địa phương bán những sản vật trước các cửa toa tàu. Càng vào sâu, bộ đội đều mỏi mệt nên không có trò tếu táo gì hay ho nữa.

Thứ Sáu, tháng 10 04, 2024

Hai chuyện đáng nhớ trên đất Hới


Tàu qua ga Vinh lúc đêm nên tôi không có cảm nhận gì và khi đó tôi cũng chưa từng đến xứ Nghệ. Trong tàu có rất nhiều anh em quê Nghệ An, Hà Tĩnh nhưng tôi không để ý các bạn chia tay Vinh thế nào.

Trời đã sáng rõ, chúng tôi được thông báo sắp vào ga Đồng Hới, Quảng Bình (ngày 18-3-1981). Lúc này trên tàu, lính đã được phát bánh mì ăn sáng. Chúng tôi ăn ể oải món vừa dai vừa cứng kiểu lương khô cho lính và không ai hứng thú gì với bữa ăn sáng đầu tiên trên tàu.

Dưới ga có một số người đưa tiễn lính – thì ra cũng có nhiều anh em Quảng Bình đã xin về nhà nay ra đón tàu. Một anh lính bịn rịn chia tay người vợ trẻ bụng căng lè sắp sinh. Anh băn khoăn nhìn vợ trẻ, chắc có nhiều tâm tư chưa nói hết trong buổi chia tay. Chị vợ sẽ phải chịu đựng cảnh đẻ đứa con đầu lòng mà không có anh ở cùng. Bọn tôi chưa có người yêu chưa thể nghĩ đến điều này. Đám lính mới ngủ dậy ăn sáng xong nên hô hoán ầm ĩ trêu chọc: Em ơi, đẻ cho anh thằng cu nhé; Ở nhà em  nhé, anh đi hết giặc lại về; Chịu khó một mình em nhé, anh sẽ nhớ em rất nhiều… Anh lính chia tay vợ trong cảnh náo nhiệt ầm ĩ đó, chắc người vợ trẻ hiểu được tình cảnh bọn lính chúng tôi trên tàu.

Bỗng nhiên có một “anh khùng” đi dọc theo các toa tàu nói rất to: “chúc các thủ trưởng đi Nam sức khỏe bình thường, tình yêu lộn xộn”. Hay quá, anh ta đi dọc theo các toa và xin bánh mì. Trong toa ai còn mẩu bánh nào thì tung ra cho anh và khuyến khích anh hô to. Anh cười rất tươi, tay nhặt bánh mì, miệng nhắc lời chúc nhiều lần. Vui ghê, cười rũ rượi. Sức khỏe thì chỉ cần bình thường là được rồi, nhưng tình yêu lộn xộn thì nghĩa là gì nhỉ? Tôi nhớ mãi nụ cười trên khuôn mặt đen gầy của ‘anh khùng’ và cái áo bẩn đang mặc giăng ra để đựng những mẩu bánh mì lính tung cho anh một khi anh hét lên lời chúc ‘để đời’. Tàu qua, chúng tôi chia tay Hới với 2 cảnh tượng đó, nhưng thú thiệt cảnh anh khùng làm vui mọi người và át đi sự chia li giữa người vợ trẻ sắp sinh và anh lính lên tàu năm ấy.

Sau này tôi được biết đấy là anh Lê Văn Tiệc chia tay vợ. Chuyện anh Tiệc và người vợ - Chị Ngô Thị Bình có thể sẽ còn trong nhiều bài viết của tôi trên blog này bởi cho đến nay chúng tôi vẫn thường xuyên gặp nhau. Khi đến Quân khu 9, anh Tiệc được quyết định công tác ở Campuchia, chúng tôi cũng được gặp anh Tiệc mấy lần ở Cần Thơ. Khi tôi đi qua Phnom Pênh tôi cũng có những kỉ niệm với anh, hi vọng rồi tôi sẽ có dịp nói thêm sau này.

Qua ga Thanh Hóa – cảm nhận Vọng Phu


Vào khoảng 2.00pm ngày 17-3-1981, tàu vào ga Thanh Hóa. Tại đây tàu thường dừng lâu vì có thể thay đầu máy hoặc bổ sung gì đó cho ca kíp công việc. Lúc này tàu đã đi được hơn 10 giờ nên câu chuyện ở các toa cũng ít dần, không còn huyên náo như hồi sáng.

Tôi xuống ga đi dạo một lúc cho đỡ chồn chân. Ga Thanh Hóa là nơi lần đầu tiên (hồi lớp 5) được ăn que kem ga. Đây là ga lần đầu tiên tôi ra Hà Nội học vào chiều tối ngày 17-12-1975. Lần này tôi rời ga Thanh Hóa để đi Nam coi như kỉ niệm chuyến đi dài cả nghìn km, lại một dịp đầu tiên trong đời.

Khoảng 30 phút sau, tàu xuất phát về phía Nam. Tôi tạm biệt ga và nhìn qua cửa sổ phía Tây thấy ngay hình ảnh hòn Vọng Phu ở núi Nhồi. Thấy hòn Vọng Phu qua cửa toa tàu chỉ một thoáng mà gợi cho tôi bao nhiều điều. Hòn Vọng Phu và một khối đá tự nhiên ở núi Nhồi, Đông Hưng, Đông Sơn (nay thuộc thành phố Thanh Hóa). Hình dáng Vọng Phu là bức tượng người đàn bà bế con nhìn về phương Nam, có cả con chó đứng dưới chân. Vọng Phu trong các câu chuyện văn học là người đàn bà chờ ngóng chồng đi Nam đánh giặc. Tôi nghe về chuyện những chàng trai xứ Thanh ngày xưa từng đi lính vào Nam, về hàng vạn người con Thanh Hóa từng đi Nam trong cuộc chiến vừa qua. Hòn Vọng Phu có lẽ đã in dấu trong bao chàng trai xứ Thanh đi lính phía Nam như tôi trong hàng trăm năm mở cõi và giữ nước.

Nhìn hòn Vọng Phu, sau này tôi có dịp quan sát kĩ hơn tình cảnh người đàn bà Thanh Hóa và văn hóa làng xứ Thanh.

Xuyên suốt chiều dài miền Trung, có biết bao nhiêu làng xã là người xứ Thanh định cư khi mở cõi ở Huế, ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa… Họ ban đầu là lính, sau khi quân dịch hoàn thành, vùng đất mới được giao canh giữ để canh tác và bảo vệ. Rồi chúa Nguyễn quê xứ Thanh, rồi cuộc chiến Trịnh - Nguyễn phân tranh… Ngày nay trên dải đất miền Trung không khó tìm những vùng có cư dân Thanh Nghệ cư trú mấy trăm năm qua. Vọng Phu hóa đá là khi người đàn bà chờ không thấy chồng về. Chồng của họ đã chết trong các cuộc chiến hay đã lấy vợ mới khi định cư nơi xa ngái không về…

Hòn Vọng Phu còn liên quan đến tục đa thê phổ biến ở xứ Thanh cho đến trước 1945. Đa thê ở đây là cảnh người đàn ông lấy nhiều vợ và chung sống ‘êm thấm’ trong gia đình nhiều vợ nhiều con. Đây là một trong những đặc điểm khác miền Bắc. Người đàn bà xứ Thanh quen với cảnh “sản xuất nhân lực” cho các cuộc chinh phạt mở cõi mấy trăm năm nên bản lĩnh nuôi chồng, nuôi con đi đánh giặc vốn đã in hằn trong tình cảnh những người đàn bà cam phận đẻ cho chồng thật nhiều con trai. Bản năng ấy không chỉ có giá trị gia đình mà còn có giá trị cho đất nước. Họ sẵn sàng chung sống hòa thuận để ‘sản xuất’ được nhiều chàng trai mạnh mẽ cho các cuộc chinh phạt phía Nam. Việc chung sống hòa thuận của 2 bà, thậm chí 3-4 bà không thành vấn đề bởi lợi ích quan trọng hơn là có nhiều chiến sĩ ra mặt trận cho sự nghiệp mở cõi của dân tộc Việt.

Có dịp tôi sẽ kể thêm về ‘đặc trưng làng’ của xứ Thanh. Làng của xứ Thanh rất ít có cổng làng. Tên địa danh ‘xá’ như Dương Xá, Đặng Xá, Lê Xá, Nguyễn Xá, Trần Xá,… ở xứ Bắc cũng rất hiếm có. Làng của Bắc bộ có đặc trưng cổng làng, lũy tre và cấu trúc đình-chùa-miếu-giếng-ao… cơ bản như nhau, nhưng làng ở xứ Thanh là kiểu “làng mở’, không có cảnh đóng cổng ban đêm, làng không có ‘xá’ của một dòng họ mà luôn có nhiều dòng họ chung sống, làng hướng ra mọi phía, sẵn sàng ‘ra-vào’ nghĩa là sẵn sàng xuất phát-rút lui. ‘Làng mở’ chứ không phải ‘làng đóng’. Đó là cái rất khác lạ.

Đó cũng là tính cách người xứ Thanh quảng giao khá rộng rãi với mọi người (nhưng không chơi ăn ý lắm với ‘đồng hương’). Có dịp tôi sẽ bàn thêm về chuyện này.

Cục đá buộc phong thư


Sau khi cho lính về quê ăn Tết Tân Dậu (1981) mấy ngày, chúng tôi trở lại đơn vị. Đến ngày 27-2-1981 (tức 23-Giêng-Tân Dậu), mọi người nhận được quyết định đi đến các đơn vị công tác. Số đi các Quân khu 5, Quân khu 7 và Quân khu 9 khá đông, nhất là các anh học ngành nông nghiệp. Chiều 15-3-1981, chúng tôi được lệnh hành quân rời doanh trại đến tập trung ở bãi đất trống ngoài làng Mông Phụ xã Đường Lâm. Bộ đội đều có quân hàm sĩ quan còn mới nhưng các bộ quần áo thì cũ mèm. Việc đóng quân trên đồi rất hiếm nước lại vào mùa đông nên tắm giặt không thường xuyên, quần áo lăn lộn trong khu vực doanh trại thì ‘tiện đâu ngồi đó’ nên đều nhàu nát, bẩn thỉu, có anh còn ‘khoe’ 3 tháng không tắm giặt. Việc tập trung cả mấy trăm người ồn ào trong cảnh thiếu nghiêm túc, rất khó quản lý. Mọi người được nghe phổ biến nhiều thứ nhưng chỉ nhớ là 2 ngày sau thì đến ga Hàng Cỏ đón tàu đi Nam.

Chúng tôi đến ga lúc còn chưa sáng, gặp nhau đầy đủ cả, chắc cũng không có ai muốn trốn hay chậm trễ. Rồi theo các toa, đoàn tàu chở toàn lính rời Hà Nội lúc 6.00am ngày 17-3-1981. Có vài người đưa tiễn (chắc con em người Hà Nội) nhưng không nhiều và cũng không có cảnh rưng rưng như hồi còn chiến tranh, nói chung không tệ lắm về chia li. Tàu qua đường Nam Bộ (nay là Lê Duẩn), tôi nhìn Công viên Thống Nhất, Đại học Bách Khoa, Bệnh viện Bạch Mai, Ngã tư Vọng… như cố nhớ thêm một lần nữa những nơi tôi đã từng đến những năm học Đại học ở Hà Nội.

Qua khỏi Hà Nội, tàu chạy nhanh dần và câu chuyện lính vui vẻ rôm rả là chính, lại trêu đùa, ồn ào. Anh em học cùng trường tụ lại với nhau nói chuyện nên đại loại vui như ngày nay đi du lịch. Có mấy nhóm đánh bài là vui nhất, tiếu lâm râm ran.

Tôi lặng lẽ suy tư về tương lai, không biết sẽ đi đến đâu nhưng cảm giác được đến Sài Gòn, đến miền Nam có phần mới lạ. Tuy chưa biết gì về vùng đất này nhưng vẫn có cái háo hức của tuổi trẻ chưa được đi nhiều trải nhiều.

Tàu qua Nam Định thấy có mấy người lên tàu – nhóm anh em tranh thủ về nhà và xin phép đón ở ga Nam Định. Tàu qua ga Ninh Bình, tôi thấy anh Lê Ngọc Lan len ra gần cửa toa. Tôi nghĩ anh đang chờ vợ ra vẫy tay chào khi tàu chạy qua cổng cơ quan vợ anh. Anh Lan mới cưới vợ được hơn 1 tháng trước khi đi Nam. Tôi ghé mắt qua cửa sổ chờ xem cảnh anh chị chia li thế nào. Bỗng tôi thấy anh Lan ném cái gì đó và nói với người gác đường tàu. Thì ra một cục đá có buộc một phong thư anh gửi cho vợ. Tàu đi nhanh qua không kịp thấy gì nữa. Sau này tôi mới biết anh không kịp báo tin cho vợ ngày đi Nam nên chỉ kịp viết thư buộc một hòn đá để nhờ bác gác đường tàu đưa cho vợ anh. Anh này có vợ sớm nên khôn ghê, thư đó đến được với người vợ trẻ của anh thì thật nhiều ý nghĩa.

Mãi sau này, vào 12-2023 nhóm chúng tôi tổ chức chuyến đi du lịch phía Nam cùng nhau, tôi nhắc lại kỉ niệm này thì chính anh Lan dường như đã không nhớ rõ. Riêng vợ anh – chị Dính – thì nói chị đã nhận được bức thư ấy và chị cũng cho biết nhiều người trong cơ quan của chị cũng từng nhận được thư (kể cả không phải là lính) qua kiểu buộc cục đá nhờ ông “bưu tá” gác đường tàu.

Chuyện anh Lan yêu chị Dính từ trước khi vào Đại học, chúng tôi ở cùng phòng với anh nên biết khá rõ nhiều chuyện, có thể tôi cũng sẽ kể thêm khi có dịp viết về những năm tháng trong kí túc xá Đại học Nông nghiệp I.