Thứ Hai, tháng 6 15, 2026

Chuyến đi thực tế KT20 về Hải Hậu, Hà Nam Ninh

 

a/ Một phát sinh chương trình “đột xuất”

Trong khóa 20, đây là một kế hoạch phát sinh trong chương trình đào tạo. Nếu đi lao động công ích (như hồi năm thứ 3) thì cơ bản cũng đã có kế hoạch trong toàn khóa, nhưng đi chuyến này của chúng tôi là một phát sinh “đột xuất” vì việc thực tập giáo trình theo chương trình đã hoàn thành và chúng tôi đang học những tuần cuối kỳ 2 năm thứ 4 để nghỉ hè lên là đi thực tập tốt nghiệp.

Phải nói thêm về công việc chuyến đi này: sau ĐH IV (1976), Đảng ta có chương trình cơ giới hóa nông nghiệp toàn quốc (theo mô hình Lê Duẩn). Năm 1977, Đảng ta chọn tỉnh Hà Nam Ninh làm thí điểm cơ giới hóa nông nghiệp, trong đó trọng tâm là huyện Nam Ninh. Có người gọi huyện Nam Ninh là nơi “thử trái bom” cơ giới hóa nông nghiệp. Tuy nhiên các huyện khác của Hà Nam Ninh đều là những trọng điểm đầu tư cơ giới hóa. Sau Nam Ninh là Hải Hậu và nhiều huyện khác…

Giai đoạn này thầy Lê Duy Thước, Hiệu trưởng ĐHNNI đang có nội dung nghiên cứu khoa học rất lớn là Chương trình điều tra kinh tế xã hội Tây Nguyên. Trường đã huy động nhiều giáo viên và sinh viên toàn trường tham gia. Khóa 17 được huy động hầu hết tham gia nhiệm vụ điều tra Tây Nguyên, thậm chí công nhận đặc cách tốt nghiệp cho những sinh viên học xong chương trình năm thứ 4 mà không phải thi tốt nghiệp. Khóa 18 và 19 cũng có nhiều người còn tham gia chương trình. Trong ngành Kinh tế nông nghiệp, các lớp KT17 có rất người người được cử vào chương trình Tây Nguyên, được công nhận ngay là “kĩ sư đặc cách”. Đến khóa 20 thì chương trình Tây Nguyên kết thúc nên không huy động sinh viên nữa. Nhưng chúng tôi lại có cơ hội được huy động vào việc tìm hiểu cơ giới hóa nông nghiệp ở Hải Hậu.

b/ Những thay đổi kế hoạch học kì và chuẩn bị đi Hải Hậu

Vào giữa tháng 5/1979, chúng tôi được thông báo có công việc đi thực tế 1 tháng (chứ không phải đi thực tập). Các môn học phải chỉnh lại thời khóa biểu. Riêng môn Lịch sử Đảng thì được đẩy dồn lên thi trước cho cả khóa 20 (thi ngày 28-5-1979 như tôi đã đề cập ở ghi chép trước). Các môn còn lại là Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệpTài chính tín dụng xí nghiệp nông nghiệp sẽ học tiếp và thi sau khi đi thực tế về. Ngay sau khi thi xong môn Lịch sử Đảng thì chuẩn bị ngày vào kế hoạch đi Hải Hậu.

Chúng tôi được nghe một số báo cáo ngắn trong 1 buổi sáng. Hôm đó 2 lớp KT20AB tập trung ở Giảng đường 8 CLB cán bộ. Khoảng gần 9am, chúng tôi thấy có một đoàn cán bộ đến. Mọi người đã hàng ghế trên phải nhường chỗ cho đại biểu. Tiếp đó chúng tôi được nghe PTS Nguyễn Lâm Toán, Viện trưởng Viện Kinh tế nông nghiệp báo cáo.

Đây là lần đầu tiên tôi được nghe thầy Nguyễn Lâm Toán nói chuyện. Từ 1977 thầy đã thôi Trưởng Khoa Kinh tế Nông nghiệp để sang Bộ Nông nghiệp làm Viện trưởng Viện Kinh tế nông nghiệp. Thầy ăn mặc cũng tương đối giản dị, giọng sang sảng đặc âm xứ Nghệ. Bài nói khúc chiết rõ ràng, không cần giấy tờ chuẩn bị gì, đại loại về tầm vóc của Chương trình cơ giới hóa nông nghiệp của Đảng. Mọi người nghe im lặng nhưng thực tế chẳng hiểu gì mấy.

Tiếp đến là báo cáo của PTS Diễn, Viện Kinh tế Nông nghiệp. Chúng tôi được giới thiệu là PTS Diễn mới từ Liên Xô về. Một cán bộ rất chuẩn về ăn mặc, đĩnh đạc lên bục trình bày. Ông có chuẩn bị rất kĩ về bài nói, có mở một tập giấy ra trước để đôi khi nhìn vào. Bài nói của ông có nhiều con số liên quan đến cơ giới hóa nông nghiệp ở Liên Xô. Không ai trong chúng tôi ghi chép được gì vì thầy nói nhiều về tỷ lệ cơ giới hóa nông nghiệp trong từng khâu canh tác rất cụ thể ở Liên Xô.

Tôi chú ý rất kĩ đến cách ăn mặc của ông Diễn: sơ mi trắng tinh, cổ cồn có cà vạt, quần âu sơ-vin cẩn thận, đi đôi giày da vàng đỏ đánh xi bóng loáng. Cái lần đầu tiên tôi được thấy là 2 cúc tay áo rất lạ: vừa to vừa màu mè. Sau này tôi hỏi các anh trong lớp mới biết đấy là 2 cái măng-sét[1] đeo vào cho sang trọng (gây giờ thì đeo măng-sét chỉ còn cơ bản ở những người của công chúng, giới nghệ sĩ). Một cán bộ ngành nông nghiệp mà ăn mặc sang trọng như nhà ngoại giao trong buổi lễ tân quốc tế? Nói chung đối với tôi, bài nói của ông cũng chẳng có ấn tượng gì.

Tiếp đến là một ông cao to, da ngăm đen báo cáo về yêu cầu cụ thể của chuyến đi lần này. Người ta giới thiệu ông tên Long, cán bộ của Tổng cục Trang bị kĩ thuật Bộ Nông nghiệp. Đây là báo cáo tôi tập trung lắng nghe vì nghĩ sẽ liên quan đến công việc của chúng tôi. Ông Long là kĩ sư cơ khí, ông nói khá cụ thể về những công việc cần thu thập tại các xã chúng tôi đến và cơ bản là các bảng biểu thống kê đã lập sẵn thành các biểu mẫu để chúng tôi thu thập số liệu, điền vào. Các số liệu yêu cầu khá nhiều, lần đầu tiên tôi nghe về cơ khí nhỏ, về công cụ cải tiến trong các HTX. Một số quy định về cơ khí nhỏ, về công cụ cải tiến cần được nắm vững để khi cần thiết thì phải kiểm đếm từ thực tế, tránh nhầm lẫn. Ông Long ví dụ: cái lưỡi cuốc của cơ khí Trần Hưng Đạo là công cụ cải tiến, nhưng cái lưỡi cuốc mà nông dân sử dụng từ các lò rèn địa phương không phải là công cụ cải tiến (!)

Sáng hôm sau, xe đưa đoàn chúng tôi đi từ sáng sớm để kip đến Hải Hậu vào giờ ăn trưa. Đến huyện, chúng tôi được đưa đi ăn ngay, chiều hôm đó có xe đưa sinh viên rải đến các xã trong huyện, mỗi xã chừng 3-5 sinh viên. Nhiều xã gần Ủy ban huyện có người đến đón rất cẩn thận. Tôi thuộc nhóm sinh viên được ở huyện nên ăn xong thì họ đưa đến chỗ nghỉ tại Nhà Văn hóa huyện, đối diện với khu công sở của huyện Hải Hậu. Nhóm ở lại huyện có khoảng 5-6 người, tôi nhớ lớp KT20A có Lê Hữu Ảnh, Trần Hữu Giang, lớp KT20B có anh Hà Kim Doanh, Nguyễn Văn Thuỷ… Thầy Nguyễn Văn Quý đi theo đoàn nói là Khoa chọn những sinh viên khá để giúp đoàn tổng hợp tình hình chung của huyện.

Tôi không rõ các khoa khác có đi như chúng tôi không, chỉ biết là 2 lớp KT20A và B được đến huyện Hải Hậu. Sau này tôi biết có thêm một số sinh viên khoa QLRĐ cũng có mặt cùng một số giáo viên, nhưng họ chỉ làm việc ở Phòng Nông nghiệp, không thấy đến các xã.

c/ Bố trí ăn nghỉ của nhóm sinh viên ở huyện

Tôi còn nhớ những ngày đầu nhóm sinh viên ở huyện được đi ăn cơm ở nhà ăn tập thể của cán bộ huyện. Nhưng sau đó thì người ta bố trí người nấu cơm cho chúng tôi ở ngay khu Nhà Văn hóa tức là ăn ngay tại khu nghỉ, không phải đi bộ mấy trăm m đến nhà ăn của cán bộ huyện. Thời gian ở đây tôi còn nhớ khá nhiều kí ức đẹp về một tháng ở huyện.

Có một hôm ăn chiều ở bếp ăn tập thể của cán bộ huyện, chúng tôi gặp ông Nguyễn Đức Triều[2] cũng ăn cơm ở đấy. Ông chắc mới họp về, ăn muộn nên ngồi một mình. Tiêu chuẩn ăn ở bếp thì mọi người đều như nhau, những món ông ăn cũng giống như những món người ta dọn cho chúng tôi. Ông Triều đang rất có uy tín và khá nổi tiếng ở huyện cũng như ở tỉnh lúc bấy giờ.

Vì lúc đó nhà ăn vắng người nên ông Triều hỏi chúng tôi về công việc và sau bữa ăn ông mời chúng tôi về phòng ông uống nước. Gian nhà cấp 4 ông ở có cái bàn nhỏ bên ngoài, bên trong có ri-đô vải kéo hờ nhìn thấy một giường đơn (rộng chừng 1m) có những cái cọc màn. Phía trong có cái bàn con, trên có cái đèn bàn và một giá sách nhỏ - chắc bàn làm việc đêm của ông. Ông Triều khi đó đang là nhân vật quan trọng của huyện vì ông là cán bộ được Bộ Nông nghiệp cử về địa phương công tác. Buổi uống trà chiều ngắn ngủi với ông chủ yếu là anh Hà Kim Doanh tiếp chuyện vì anh Doanh lớn tuổi nhất, từng đi bộ đội và khi đi học anh đã là cán bộ. Chúng tôi chỉ nghe và quan sát thấy ông nói chuyện nhẹ nhàng điềm đạm, phong cách giản dị, phòng ở đơn sơ… Có một chuyện tôi còn nhớ, ông chỉ vào bao gạo để ở cạnh bàn và bảo: “Tớ vừa đi công tác ở xã về được HTX biếu 5kg gạo tám ngon, mai tớ gửi vào bếp để mọi người cùng thưởng thức”. Chỉ riêng chi tiết đó, chúng tôi đánh giá cán bộ lãnh đạo thời đó không hề có tư lợi gì và sống vô tư, trong sạch, chan hòa tình cảm với mọi người. Sau này ông là Chủ tịch huyện, Bí thư huyện, Ủy viên Trung ương Đảng nhiều  khóa và là vị Chủ tịch Hội nông dân Việt Nam. Tôi nghe nói quê ông ở Thái Bình. Sau này có dịp về Thái Bình công tác, tôi được gặp em trai ông là Nguyễn Xuân Lai, từng là Bí thư huyện Tiền Hải và được nghe dân chúng ca ngợi 2 anh em ruột làm lãnh đạo 2 huyện “biển trước”“biển sau” (ý từ tên huyện Tiền Hải và Hải Hậu).

d/ Công việc của nhóm sinh viên ở huyện

Nhóm ở huyện được giao những công việc rất chung chung: nắm tình hình chung của huyện và đến các xã thu thập thông tin. Nhóm do anh Hà Kim Doanh làm nhóm trưởng. Trong khoảng tuần đầu ở huyện, chúng tôi đến Phòng Nông nghiệp và Phòng Thống kê huyện nắm tình hình và được cho mượn nhiều báo cáo về tình hình chung của huyện, số liệu của hơn 40 HTX toàn xã trong huyện. Có nhiều bảng biểu số liệu thống kê về đất đai, lao động, sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, thủy nông, trang bị công cụ lao động,… được chúng tôi mượn về và sao chép lại, cơ bản tập hợp gần như nguyên xi các số liệu của huyện chứ không phân tích gì trên cơ sở số liệu đó. Tuy nhiên đây là tài liệu quan trọng đối với tôi vì sau đó tôi đã sử dụng khá nhiều cho việc làm đề tại tốt nghiệp.

Làm việc với các cán bộ huyện: chúng tôi có dịp làm việc với các ông cán bộ Phòng Nông nghiệp, Phòng Thống kê huyện Hải Hậu. Tôi còn nhớ gặp ông Tiển, Trưởng phòng Nông nghiệp, ông Oanh, Phó phòng nông nghiệp và các anh bên Phòng Thống kê xin số liệu. Nhìn chung họ đều biết sinh viên đang tham gia một nội dung công việc của Bộ Nông nghiệp nên giúp đỡ nhiệt tình, hỏi số liệu nào thì cho số liệu ấy, đôi khi con gợi ý những số liệu mà chúng tôi không hỏi.

Ông Tiển khi đó chắc hơn 50, cao to và hiền hòa, Ông dân biển mà da trắng, hơi phốp pháp, tóc hói nhiều, dễ tính, giao những công việc mà chúng tôi cần cho ông Oanh trực tiếp giúp đỡ. Tuy nhiên chúng tôi cũng chẳng biết nhờ vả gì mà chủ yếu mượn số liệu về ghi chép lại.

e/ Đến các xã “công tác” nắm tình hình

·     Đến xã Hải Vân

Nhóm ở huyện được phân công đi xuống các xã nắm tình hình. Vì đến các xã phải có xe đạp nên mỗi người cũng chỉ đi được vài ba xã. Tôi đầu tiên được đi đến xã Hải Vân – xã nằm ở phía Bắc huyện Hải Hậu, cách thị trấn Yên Định chừng 5km. Tại xã Hải Vân, nhóm sinh viên do anh Nguyễn Đăng Hợp làm nhóm trưởng và tôi nhớ còn có anh Trần Duy Học. Tôi thấy các anh sinh viên ở đây sống vui vẻ, được HTX cấp thêm cho một số tiêu chuẩn về lương thực, rau xanh. Anh Hợp dẫn tôi lên gặp các đồng chí Ban Quản trị HTX nông nghiệp (toàn xã) Hải Vân được các đồng chí đón tiếp khá thân thiện. Điều quan trọng nhất là tôi thấy anh Hợp cũng anh em sinh viên khác trong nhóm rất giỏi xã giao nên được cán bộ địa phương quý mến. Anh Chủ nhiệm cũng còn trẻ lại rất vui tính nói với tôi: “Tình hình ở HTX có gì chú cứ hỏi anh Hợp, anh Hợp mới đến mà nắm hết tình hình trong xã như một Ủy viên Ban quản trị HTX chúng tôi rồi”. Tôi ngủ lại 1 đêm ở Hải Vân với các anh. Chiều tối hôm ấy được các anh đưa tôi sang xã Hải Phúc thăm nhà bạn Trần Thị Quế cùng lớp.

Gần đây tôi gặp anh Hợp được anh bổ sung thêm một số thông tin: trong nhóm ở Hải Vân còn có chị Trần Thị Đức. Các anh trong BQT HTX rất quý anh em trong nhóm thực tập. Sau này một số anh cán bộ xã đã lên Hà Nội và đến nhà anh Hợp. Có lẽ anh Hợp đã xây dựng được quan hệ tình cảm rất tốt với cán bộ HTX trong một tháng đến địa phương.

·     Đến xã Hải Phương

Tôi có đến xã Hải Phương, cách huyện chừng hơn 2km. Tôi không rõ là đi “công tác” hay đi chơi vì ở đây có nhóm sinh viên của anh Nguyễn Văn Ngọc và Lê Cao Bính. Từ huyện xuống đi qua một Nhà thờ lớn, qua trường cấp 3 là có con đường rẽ trái thẳng tắp tới xã Hải Phương. Con đường có 2 hàng cây tươi tốt, bên phải là một kênh nước và những ruộng lúa bờ vùng bờ thửa rất ngay thẳng. Có nhiều cầu xây qua kênh để đi vào ruộng. Người ta chở vật tư, sản phẩm thu hoạch bằng đường thủy về sân kho HTX rất tiện lợi.

Nhà các anh em ở trọ là một gia đình gồm một bà cụ già và một cô vợ trẻ (đang có con nhỏ), anh chồng đi làm việc xa nhà. Căn nhà ở gần khu làm việc của HTX. Nhà có 5 gian, giữa nhà có bàn thờ chúa, 2 gian bên trái và phải kê 2 giường anh em sinh viên ở. Phía gian 2 đầu là buồng của cô vợ và các con, bên kia là gian cho bà cụ già. Một sân rộng có bể nước, bếp, ao… rất sạch sẽ. Sau này anh Nguyễn Văn Tường về Hải Phương thực tập tốt nghiệp cũng được xã gửi về đây ở 6 tháng (nay Lê Cao Bính có lẽ còn nhớ tên bà chủ nhà).

HTX Hải Phương bố trí ở khu đất rất đẹp, trên bến dưới thuyền, cạnh đó là Nhà thờ Hải Phương uy nghi. Toàn xã là công giáo toàn tòng nên rất nề nếp và bình yên. Về đây cũng nghe nói xã có hỗ trợ anh em sinh viên tiêu chuẩn lương thực và rau xanh.

·     Đi các xã phía đông của huyện

Tôi có chuyến đi mấy ngày đến 3 xã: Hải Phú, Hải Cường và Hải An. Đây là 3 xã phía đông, gần biển. Tôi không nhớ đi bằng cách nào xuống đó vì 3 xã này cách huyện phải cỡ chục km. Từ huyện đi theo đường lộ chính xuống đến Thị trần Cồn rồi mới rẽ phải, qua Hải Cường đến Hải Phú, nhưng tôi đến Hải Phú trước vì ở đó nhóm sinh viên có anh Chu Văn Khang, chị Nguyễn Thị Liên, Lê Thị Cương. Tôi ăn ở với các anh chị nhóm Hải Phú mấy đêm liền, có ngày qua Hải Cường và qua Hải An nhưng tối vẫn về ăn ngủ ở Hải Phú.

Nói chung đến các xã này vào khoảng tuần 3 của chuyến đi 4 tuần nên anh em sinh viên ở đây cơ bản đã nắm được hết tình hình, nên tôi không phải gặp ai trong ban quản trị các HTX. Vì thế chủ yếu là có dịp quan sát địa phương qua tình hình ăn ở cúa nhóm sinh viên.

Ở Hải Phú anh em sinh viên sống rất sôi nổi. Các sinh viên được HTX bố trí nghỉ ở một căn nhà thoáng mát gần khu trại chăn nuôi. Ở đây tha hồ rau xanh, chỉ cần lội ra ruộng hái về ăn. Nhà ở ngay cạnh kênh nước có nhiều cây cối xanh mát, chỉ tội là nước kênh rất đục. Các anh chị em phải múc nước vào mấy cái chum to và phải đánh phèn chua mới ăn uống được. Tôi thấy anh Khang ra kênh múc nước vào chum, sau đó cho một vốc phèn chua vào và lấy cái gậy tre xoay tròn trong chum. Nước có phèn tạo thành nhiều chất như phù du lắng kết lại và lắng dần xuống, phía trên chum là nước trong sử dụng ăn uống. Còn tắm giặt thì các anh ào ngay ra các kênh nước cạnh nhà (không biết chị em thì tắm bằng cách nào). Ở Hải Phú, HTX cũng hỗ trợ sinh viên nhiều về tiêu chuẩn ăn. Tuy nhiên mấy anh em đều có cách cải thiện thêm vì các kênh nước quanh nhà đều có thể kiếm được tôm hay cáy.

Xã Hải An cũng gần Hải Phú, là nơi có anh Trác và anh Học lớp KT20B thực tập. Tôi đến xã Hải An và được trải nghiệm buổi đi câu cáy. Anh Trác, anh Học rủ tôi ra bờ kênh. Trưa rất nắng, nước kênh chảy lờ đờ. Sát bờ kênh là nơi dân trồng nhiều cây khoai nước. Đi câu cáy phải ngồi xa và phải rất lặng, cái cần câu dài có mồi là con sâu, con tép gì đó rồi chờ xem nơi nào cáy bò ra. Mà “nhát như cáy” nên bọn cáy chỉ nghe tiếng động hoặc phát hiện có người là chúng thụt vào hốc. Phải im lặng chừng 10-15p chúng mới bò ra. Khi đó lặng lẽ rê cái mồi câu đến, cáy thấy mồi cắp đưa lên miệng ăn. Nhưng người câu phải chờ cho đến khi chúng ăn vào thật sâu trong miệng mới nhấc lên vì nhấc vội nó nhả mồi là cáy lại rơi xuống thoát thân. Anh Học quê Bắc Kạn nhưng câu giỏi nhất, tôi chỉ được vài con. Ngồi một buổi trưa là có món cáy kho mặn cải thiện bữa ăn chiều rồi.

Xã Hải Cường sát ngay Thị trấn Cồn và Hải Phú. Ở Hải Cường cũng có nhóm sinh viên thực tập nhưng tôi không nhớ là những ai. Chuyện nhớ nhất ở đây là được đi thăm đồng muối. Thị trấn Cồn và xã Hải Cường có rất nhiều ruộng muối, có nhiều kênh dẫn nước mặn từ biển vào khu ruộng làm muối. Các sân phơi muối nhỏ bé được múc nước lên phơi (nước đã tích độ mặn cao từ ruộng phơi muối). Trời nắng nên nước bốc hơi còn lại một lớp muối mỏng và được thu gom thành từng đống trắng tinh. Sau này tôi có dịp thấy cách làm muối ở phía nam hồi bộ đội đi công tác ở Nông trường quân đội 414. Muối ở phía nam người ta phơi cả ruộng chứ không có sân phơi như ở phía bắc nên muối lần nhiều tạp chất, màu xám nâu chứ không trắng tinh như các sân muối ở vùng Hải Hậu.

g/ Những kí ức khác về Hải Hậu

·     Khung cảnh nên thơ của không gian khu cơ quan huyện Hải Hậu

Một khu đất chừng hơn 1ha được thiết kế ngay ngắn, đơn giản nhưng rất đẹp. Ngay sau khi đi qua cầu sông đào ở Thị trấn Yên Định (một kiểu sông nước từ thời Nguyễn Công Trứ) là thấy ngay bên phải một khu đất đẹp nhiều cây xanh và hồ nước. Con đường từ lộ chính vào khu “huyện đường” đi giữa 2 hồ nước vuông vắn. Bờ hồ đều có những cây dừa đẹp. Phía trong là một cổng gác đơn giản, dãy nhà cấp 4 bên phải là Đảng ủy và bên trái là Ủy ban. Mỗi bên trước đều có sân, vườn hoa, non bộ nhỏ được thiết kế không cầu kì lắm nhưng chăm sóc khá cẩn thận. Phía sau là bếp ăn tập thể và những phòng ở cho cán bộ huyện. Cạnh nhà ăn có một khu đất có ao cá và vườn rau.

Sát bờ sông cạnh hồ nước bên phải khu cơ quan huyện có Thư viện 3 tầng sơn màu xanh rất nên thơ. Đối diện với huyện bên kia lộ chính là khu Nhà văn hóa (chúng tôi được bố trí ở đó), có một quảng trường để mít tinh, có sân khấu đắp đất cao chừng gần 1m. Cạnh nhà văn hóa quay là mặt lộ chính là Bảo tàng huyện Hải Hậu sơn màu hồng nhạt, có nhiều hoa trông rất xinh xắn.

Có thế nói đây là một bố trí không gian rất đẹp và nên thơ. Tuy không có công trình kiến trúc gì đáng kể nhưng các dãy nhà cấp 4 rất ngay ngắn giữa những lối đi nhiều cây cảnh, hoa tươi được chăm sóc cẩn thận. Một cơ quan rất nên thơ yên tĩnh chứ không ra vẻ oai nghiêm công đường dọa nạt dân chúng.

·     Thăm Thư viện, bảo tàng

Thư viện 3 tầng màu xanh đẹp nhìn ra hồ nước rất hấp dẫn. Chỉ vài ngày sau khi đến là tôi rủ Giang đến thăm và hỏi thủ tục đọc sách. Cô thủ thư biết chúng tôi là sinh viên nông nghiệp, cô vui vẻ đón, dẫn đi xem. Tầng 1 có treo nhiều cờ thi đua, giấy khen, bằng khen hoạt động của Thư viện. Có cái bàn rộng kê ở giữa phòng để có thể đọc báo. Lên tầng 2 tôi thấy có một kho sách được phân loại và có tủ để thư mục tra cứu. Sách không nhiều lắm, nhiều sách chính trị, ít sách văn học, nhưng tôi cũng rất thèm muốn được đọc. Tầng 3 là nơi làm việc của nhân viên. Tôi được biết chúng tôi là khách của huyện nên không thể mượn được sách về đọc nhưng có thể đến đọc báo hàng ngày.

Bảo tàng Hải Hậu rất gần nới chúng tôi nghỉ. Phía trước nhìn ra đường cũng có hòn non bộ, nhiều cây cảnh. Bên trong có nghèo nàn tiêu bản, vài cái bản đồ vẽ sự hình thành vùng đất mấy trăm năm qua. Các hình ảnh mô tả kênh đào lấn biển. Đặc biệt phía sau nhà có mô hình rất đáng chú ý: một bộ xương con cá gì đó rất to được bọc bằng trấu đã bị rách lộ ra khung xương sắt gắn các xương sườn. Cả mô hình dài khoảng 5m, kê dọc hành lang. Một cô gái rất nhỏ bé trông coi, thấy chúng tôi vào thì e lệ chào hỏi và giới thiệu nhỏ nhẹ khi chúng tôi quan tâm đến hiện vật bảo tàng. Tôi nghĩ không có gì ấn tương về những trưng bày trong bảo tàng nhưng ý thức một huyện có nhà Bảo tàng có lẽ rất hiếm thời bấy giờ.

·     Thăm phố Đông Biên, nhà thờ Đông Biên

Ở Hải Hậu có một phố cổ rất Pháp: phố Đông Biên. Ngày sát cơ quan huyện có một phố dài chừng gần vài trăm mét có rất nhiều ngôi nhà kiểu Pháp rất đẹp. Không rõ họ buôn bán gì, không thấy trưng bày gì nhưng cư dân có vẻ là những người giàu có sinh sống. Mỗi lần đi ngang phố đều nghe tiếng chuông đồng hồ cổ lên dây cót treo trên tường (loại ODO của Pháp). Mà hình như nhà nào cũng có, có những nhà treo tới mấy cái.

Tôi còn gặp ở đây một hình ảnh lạ: một ông trung niên chừng hơn 50 tuổi, da hồng hào, râu ngắn, khỏe mạnh đi chiếc xe đạp màu cá vàng – Giang bảo tôi đó là xe đạp Peugeot (pơ-giô) của Pháp. Nhiều người dân dừng lại kính trọng chào ông. Tôi thấy ông rẽ vào nhà thờ to lớn gần đó. Chắc ông là một vị chức sắc trong nhà thờ Chúa.

·     Thăm cô gái Bảo tàng

Buổi chiều rỗi rãi nên chúng tôi rủ nhau đi thăm thú quanh thị trấn Yên Định. Một hôm tôi và Giang đến thăm cô gái đã gặp hôm trước gặp ở Bảo tàng. Cô tên Kiệm, mới tốt nghiệp Khoa sử Đại học Tổng hợp, tầm tuổi chúng tôi. Cô Kiệm ở phòng một tập thể ngay phía sau khu nhà văn hóa. Kiệm là một cô gái nhỏ nhắn, gầy gò trông như một em bé thôn quê. Phòng của cô vô cùng giản dị: cái ri-đô ngắn che ngang bên trong một giường cá nhân, cuối giường có cái hòm gỗ nhỏ. Một góc phòng phía trước thấy có cái bếp dầu, một xô nước, 2 cái xoong nhỏ và mấy cái bát. Một cái bàn bé tẹo kê góc chỉ có 1 ghế ngồi. Tôi và Giang vào không nhưng không có chỗ ngồi nên ra hiên đứng nói chuyện với cô Kiệm một lúc. Kiệm không có nước để mời khách và khi khách về không có lời mời đến lại lần sau.

Đó là cuộc sống của cán bộ mới ra trường như mọi người khác mới đi làm. Tuy nhiên tôi thấy công việc của Kiệm ở đây quá giản dị – giản dị vì sự nghèo nàn của vật chất, về sự chập nhận công việc… Cô Kiệm như một người sự lặng lẽ hi sinh vì sự phân công của tổ chức. Tôi không hề thấy tương lai hay triển vọng gì từ nơi công tác (một bảo tàng nghèo nàn vật chất) mà cô đang làm. Nếu cứ vì tổ chức để công tác thì rất có thể tuổi trẻ của cô sẽ phải mòn mỏi nếu cô cứ gắn với cái nhiệm vụ bảo tàng này (?).

Tôi còn gặp đôi lần nữa, nhưng câu chuyện cũng không có gì đáng kể, đến nay chỉ là còn lại sự băn khoăn về nỗi cô đơn lặng lẽ của cô gái trẻ học đại học mới ra trường, về cái nghèo nàn của bảo tàng sơ sài cấp huyện…

·     Lần đầu học đánh bóng bàn

Ngay cạnh chỗ chúng tôi nghỉ có một nơi kê 2 bàn bóng bàn của bộ phận thể thao trong Phòng Văn hóa. Chúng tôi đến xem các anh thanh niên chơi bóng, chắc họ là cán bộ trẻ trong huyện. Khi họ nghỉ, chúng tôi vào chơi thử. Tôi lần đầu tiên cầm vợt chơi để biết cảm giác trải nghiệm trò chơi, cơ bản là biết đưa bóng qua lại và chơi thì ít còn đi lượm bóng rơi thì nhiều. Tuy nhiên cũng nhờ có cảm giác này mà khi chúng tôi vào bộ đội ở QK9 đã chơi khá hơn.

Một hôm Giang chơi bóng với một cậu bé con cán bộ huyện ở tập thể gần Nhà Văn hóa. Nó cũng tập tọe chơi như chúng tôi thôi, nhưng dạn dĩ, dễ bắt chuyện. Giang hỏi: Em học lớp mấy rồi? Nó bảo: “Em nó đang học lớp 3. Mà lớp 3 khó lắm mấy anh có biết không?” Giang bảo: “Đúng, học lớp 3 rất khó nên ngày xưa anh đi học anh thấy khó nên bỏ luôn lớp 3 mà vào học thẳng lớp 4 cho dễ. Em về bảo bố mẹ xin thẳng lên lớp 4 đi”. Giờ hỏi lại Giang không còn nhớ, nhưng tôi thì lại rất nhớ chuyện cười tếu vô tư kiểu “rất Giang” này.

·     Chuyện anh Hà Kim Doanh viết thư cho bố vợ

Trong cuộc sống, chúng ta gặp nhiều chuyện hay, có lí, trong lòng hiểu thấu, cứ tưởng rồi mình cũng sẽ học và áp dụng được khi có điều kiện. Nhưng sao lại không thể thực hiện được: vì ta chưa gặp được những điều tương tự hay quan trọng hơn là ta là ta, ta không phải là họ?

Nhóm ở huyện chúng tôi do anh Hà Kim Doanh làm nhóm trưởng. Anh Doanh hơn tôi gần chục tuổi, là bộ đội, cán bộ về trường học nên có chế độ phụ cấp đủ sống. Anh đã có vợ con ở quê ở Phú Thọ. Một hôm buổi sáng, anh Doanh vệ sinh cá nhân xong thì chải đầu, mặc bộ gabardine bộ đội áo bỏ gọn trong quần (sơ-vin) và ngồi vào bàn và viết gì đó. Tôi thấy anh rất nghiêm túc nên cũng làm công việc của mình, tránh không phiền để anh tập trung viết lách. Chừng gần 1 giờ, có lúc thấy anh vui, có lúc thấy anh trầm tư rồi nghe anh nói một mình: “xong”. Tôi hỏi xong gì thì anh đáp vui vẻ: “xong lá thư tớ gửi cho bố vợ tớ mà tớ đã nghĩ mấy ngày nay”. Anh đứng lên, cởi bộ gabardine ra để mặc bộ đồ đơn giản cho mát (không “đóng thùng” nữa) phù hợp với thời tiết mùa hè.

Tôi hỏi: “Lúc nãy thấy anh ăn mặc chỉnh tề thế, tưởng anh đi vào huyện gặp ai?”. Anh trả lời đại ý như sau: Tớ có thói quen một khi viết thư cho ai đó mà mình cảm thấy tôn trọng thì nhất thiết mình phải chỉnh tề, kể cả khi tớ viết thư cho vợ tớ. Khi mình chải tóc cẩn thận, ăn mặc chỉnh tề nghĩa là mình giữ thái độ tôn trọng họ, mặt khác khi mình chỉnh tề thì những suy nghĩ của mình cũng trở nên nghiêm túc và mình sẽ viết được đúng tình cảm dành cho người mình tôn trọng. Anh dắt xe đạp, đội mũ cầm lá thư ra bưu điện để gửi về cho ông bố vợ đáng kính của anh.

Tôi cứ nghĩ mãi về chuyện này. Riêng tôi thì tôi không làm được vì đối với tôi, tôi có thể viết bất cứ cái gì trong điều kiện viết tốt là được: yên tĩnh, có bàn ghế hoặc có tư thế, miễn là ghi kịp những suy nghĩ của mình mà không bao giờ nghĩ đến tư trang hay trang điểm thế nào. Làm được như anh thì đúng là chuyện khó học.

Sau này một số lần tôi gặp anh Hà Kim Doanh ở Phú Thọ. Trước khi nghỉ hưu anh là Phó Giám đốc một Sở nào đó (tôi không nhớ rõ Lao động hay Tài nguyên-Môi trường?). Có một ấn tượng dễ thấy là anh luôn giản dị, nhưng đặc biệt luôn nghiêm chỉnh tư trang.

h/ Thu hoạch được gì từ chuyến đi thực tế này

Một chuyến đi phát sinh “đột xuất” của chương trình đào tạo khi đó không hiếm lắm, khóa nào cũng có do yêu cầu nhiệm vụ mà nhà trường nhận được từ các cơ quan nhà nước. Tuy không được đi Tây Nguyên nhưng KT20AB có chương trình điều tra cơ khí hóa nông nghiệp… Tôi thấy đó là sự may mắn vì được đi quan sát thực tế mà không gắn với nội dung môn học nào - đó là bước đệm giúp chúng tôi đi thực tập tốt nghiệp 6 tháng tiếp theo sau đó.

Tôi nghĩ thu hoạch chính của chuyến đi này là những học hỏi thực tế và những trải nghiệm của người sinh viên năm cuối của chúng tôi. Các công việc được giao không cụ thể lắm nên mức độ hoàn thành không rõ ràng, không được đánh giá theo nhóm hay cá nhân. Tôi không rõ các báo cáo nộp cho các thầy có được ai quan tâm không vì ngay sau khi về trường là chúng tôi bước vào ôn thi 2 môn học thi và 2 môn kiểm tra cuối cùng của năm thứ 4.

Nhìn từ thực tế sử dụng và quản lý sinh viên, tôi nghĩ kiểu như chúng tôi được huy động đi tìm hiểu thực tế thì không hiệu quả lắm vì sinh viên đến các HTX trong huyện chỉ năm những số liệu cơ bản từ các bảng biểu thống kê tổng hợp sẵn. Đi hơn trăm người đến các xã thu thập số liệu rồi về nộp là xong thì dễ quá, không ai hướng dẫn phải tổng hợp hay phân tích gì. Ngay cả chúng tôi – nhóm ở huyện cũng gần như chỉ thu thập số liệu của huyện mà không phải làm báo cáo phân tích gì cả.

Một chuyện không thể không nói: các HTX đều giúp đỡ sinh viên rất nhiệt tình vì họ được đón tiếp sinh viên – khi đó trí thức trẻ là khách quý lắm – và chắc cũng được chỉ thị của huyện nên xã nào cũng hỗ trợ ăn ở, lương thực, rau xanh. Khi về xã lại còn cử người nấu cơm, chăm lo chỗ ở. Sinh viên đôi khi kiếm cá, cua cáy cải thiện thì gửi họ nấu giúp.

Đối với tôi, chuyến đi này rất quan trọng vì sau đó tôi lại được cử đi thực tập tốt nghiệp tại huyện Hải Hậu. Nhờ có nhiều trải nghiệm và số liệu đã thu thập được nên tôi có nhiều thuận lợi trong triển khai công việc TTTN. Tôi chắc chắn sẽ có những ghi chép cụ thể hơn về chuyến đi TTTN này vì có nhiều người trong lớp cùng đến Hải Hậu với tôi trong 6 tháng thực tập.

Tôi gửi ghi chép này lên blog của tôi để các anh chị em trong lớp cùng đọc và góp ý bổ sung thêm nhé. Trân trọng!

     



[1] Khuy măng sét (gốc tiếng phápmanchette) là một loại trang trí, được dùng để giữ cố định ở cổ tay áo sơ mi, có chức năng như cúc tay áo, nhưng không đơm liền vào mà tháo rời ra.

[2] Ông Nguyễn Đức Triều có quá trình công tác sau: 1961-1964: Học Trường trung cấp Nông lâm Trung ương, 1964-1971: Công tác ở Viện Khoa học Nông nghiệp Trung ương. Từ 1965-1971: Chỉ đạo sản xuất ở Kiến Xương, Thái Bình và Hải Hậu, Nam Hà. Năm 1974-1976: Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nông nghiệp huyện Hải Hậu. Năm 1986 - 1991: Bí thư huyện ủy Hải Hậu, Ủy viên dự khuyết Đảng Khóa VI (12/1986). Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX được bầu Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Từ 1/1997 - 11/2003: Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam khóa II, III

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét