Thứ Sáu, tháng 10 24, 2025

Một chuyến thực tập giáo trình nhiều kỉ niệm

Cùng nhau nhớ lại kỉ niệm về Mộc Châu 1978-1979 


Từ giữa tháng 12/1978 đến giữa tháng 1/1979, theo chương trình học kì 1 năm thứ 4, chúng tôi có chuyến đi thực tập giáo trình khu vực kinh tế quốc doanh, thời gian 8 tuần. (Lần thứ nhất đi thực tập khu vực kinh tế HTX 4 tuần tại Gia Lâm). Khoa Kinh tế nông nghiệp của ĐHNNI có địa bàn thực tập chiến lược là Nông trường quốc doanh (NTQD) Mộc Châu, Sơn La, cách Hà Nội 185km đi theo đường số 6 cũ[1]. Tất cả sinh viên Khoa Kinh tế nông nghiệp của ĐHNNI ngay từ khi mới vào trường đều biết sẽ được đến thực tập giáo trình tại NTQD Mộc Châu.

 1. Các chuẩn bị và tinh thần háo hức đi thực tập

Nội dung thực tập trực tiếp lần này là các môn Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp, Kế toán nông nghiệp, Kế hoạch nông nghiệp. Khi đó chúng tôi đã thi xong môn Kế toán nông nghiệp, đang học môn Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp Kế hoạch nông nghiệp. Phần Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp đã được các thầy cho học xong nội dung tổ chức ngành chăn nuôi để kịp đi thực tập lần này (vì Nông trường Mộc Châu có chăn nuôi bò sữa).

Trước khi đi, Khoa tổ chức tập huấn nghiêm túc. Ban chỉ đạo gồm nhóm 5 giáo viên do Thầy Nguyễn Liễm phụ trách. Việc tập huấn khá kĩ về công tác xây dựng kế hoạch sản xuất cấp đội (trồng trọt, chăn nuôi, chế biến). Lúc này chúng tôi cũng đã học xong các môn về trồng trọt như Trồng trọt đại cương, Trồng trọt chuyên khoa (gồm cây lương thực, cây công nghiệp, rau quả…). Riêng cây chè cũng đã được học 30 tiết do thầy Nguyễn Ngọc Kính dạy nên cũng đã biết sơ sơ về sản xuất-chế biến chè. Về chăn nuôi thì đang học môn Chăn nuôi cơ bản (trâu bò, lợn, gia cầm) do cô Nhàn dạy. Chúng tôi được yêu cầu mang theo sách vở chuyên môn để có thể hỗ trợ công việc trong quá trình thực tập.

Trong các buổi tập huấn, chúng tôi được nghe về một mô hình xí nghiệp công – nông nghiệp sản xuất lớn ở Mộc Châu. Có 2 ngành sản xuất chủ lực là chè và bò sữa. Đàn bò lang trắng đen là giống quý do Cu Ba tặng Việt Nam cho năng suất sữa cao, chất lượng sữa tốt… Đồi chè ở đây trồng từ những năm 1960 cho năng suất cao và ổn định. NTQD Mộc Châu còn có nhiều ngành hỗ trợ như nhà máy điện, xưởng cơ khí, đội máy kéo, đội sản xuất thức ăn gia súc, những đồng cỏ chăn thả tự động, trại chăm sóc bê… Rồi được nghe nói về lịch sử NTQD Mộc Châu thành lập năm 1958, đến năm 1979 đã là 21 năm. Họ vừa kỉ niệm 20 năm thành lập NTQD, ban đầu từ 1 trung đoàn bộ đội giải ngũ xây dựng kinh tế miền núi… Các thầy hướng dẫn tập huấn luôn nói đây là địa bàn kết nghĩa của Khoa Kinh tế nông nghiệp và yêu cầu chúng tôi phải giữ uy tín của Khoa, phải làm tốt công việc và tuyệt đối không được vi phạm kỉ luật khi về thực tập ở địa bàn này.

Cũng phải nói thêm về bối cảnh đất nước lúc này: nền kinh tế suy sụp, sinh viên đói dài vì phải ăn mì hạt là chính, chỉ có một phần bánh mỳ rất nhỏ và rất ít cơm. Một mâm cơm 6 người chỉ có gần 2 cái bánh mỳ, cả mâm chỉ có chừng một bát cơm đầy và còn lại là mì hạt. Thật là khó chia nhau khi ăn, mỗi người chỉ được vài thìa cơm. Về chính trị thì chuyện “nạn kiều” phá phách và người Hoa đòi về nước gây nhiều rối loạn. Phía Nam thì biên giới bị Khmer Đỏ đánh phá. Đồng bào Ba Chúc[2] bị quân Pol-Pot tràn qua tàn sát giết mấy nghìn dân thường.

Chúng tôi rất háo hức đi lần này vì được đi đến NTQD lớn, đã nghe thông tin từ các khóa KT18 và KT19 nói ở đây rất hấp dẫn: nào là đồi chè mênh mông, nào là bò sữa vắt máy tự động, nào là cảnh quan núi đồi Mộc Châu đẹp, sản vật địa phương ngon… Khi đi thực tập về họ còn lấy được nhiều hoa phong lan rừng. Tụi trẻ háo hức còn vì được đi xa, đến miền núi xa xôi, sẽ được thấy bao điều mới lạ… Tôi thì nghĩ sẽ được đến Tây Bắc như những gì được đọc trong tác phẩm của nhà văn Tô Hoài[3].

Mấy anh KT18 và KT19 còn kể nhiều chuyện hay: nào là thực tập cũng nhàn nên được đi chơi nhiều, lại được ăn no vì công nhân rất quý sinh viên, họ sẵn lòng mời sinh viên ăn khoai sọ, ngô, lạc… là thứ họ tăng gia được. Lại chuyện các nữ công nhân trẻ mới tuyển lên đây rất khó lấy chồng vì nữ nhiều hơn nam. Phần lớn các nữ công nhân mới tuyển từ Thái Bình, Hà Nam Ninh, Hải Hưng… cũng quý anh em sinh viên. Hàng năm mọi người đợi sinh viên lên thực tập như một dịp đón người đi xa về. Các anh ấy còn nói là ai cũng có kỉ niệm về những gia đình công nhân hay về những cô gái trẻ. Nhiều người thư từ qua lại cho nhau mấy năm trời (khi đó KT18 và KT19 không có ai cưới cô công nhân nào từ Mộc Châu, nhưng sau đó thì có[4]).

Rồi ngày đi cũng đến, bọn trai trẻ chúng tôi thì quá dễ dàng nhưng khi thấy chị Lục, chị Noãn phải gửi con nhỏ trước khi đi mới biết vất vả riêng của các chị. Cả 2 lớp KT20 có 4 xe ca chở đi. Xe đi rất sớm, từ lúc trời mới sáng. Thời tiết đã vào đông se lạnh… Dọc đường còn vui vẻ nói cười, xe qua Hà Nội vào đường 6 hướng Hà Đông lên Xuân Mai, Hòa Bình. Anh Hoàng Việt Cường quê Hòa Bình nói về địa danh Dốc Cun, Cao Phong… Chúng tôi nghỉ trưa tại Mãn Đức, Hòa Bình. Khi xuống xe, tôi thấy nhiều người say xe quá vất vả: Chị Lục nằm dài ra bãi cỏ ven đường, bạn Nhung ôm bụng mặt xanh nhớt, lảo đảo…

Lên đến Mộc Châu trời đã tối. Nhìn ra ngoài thấy đen sì, không rõ cây cối nhà cửa, lại nhiều sương mù. Xe vào khu Nhà khách NTQD Mộc Châu. Người ta đã chuẩn bị sẵn bữa ăn tối. Chúng tôi được đưa đi ăn và được phân chỗ ngủ. Phần lớn ngủ tại khu nhà khách tập thể đơn giản, nhưng vẫn có mỗi người 1 giường. Trời se lạnh, rét ngọt, áo quần sinh viên không đủ ấm. Sáng dậy thấy trời mù sương…

2. Nghe các báo cáo tại nông trường bộ - Những cảm nhận đầu tiên

Chúng tôi được ở nhà khách khoảng 4 ngày trước khi về các đội. Ngay sau khi đến, chúng tôi được tập trung tại Hội trường để nghe các báo cáo. Đây là một Hội trường lớn mới xây kỉ niệm 20 năm thành lập NTQD Mộc Châu. Phía trước Hội trường có 20 bậc thang tượng trưng cho 20 năm xây dựng và phát triển. Hội trường có đủ chỗ cho mấy trăm chỗ ngồi, có sân khấu, bục nói có micro. Mỗi buổi được nghe vài báo cáo. Nhớ nhất là buổi nói chuyện của Giám đốc Tài Anh về quá trình xây dựng và triển vọng phát triển NTQD. Ông Lạng, Phó Giám đốc nói về mô hình nông – công nghiệp.  Ông Yên - Trưởng phòng chăn nuôi, nói về ngành bò sữa, ông Thợn - Trưởng phòng kế hoạch, nói về kế hoạch sản xuất hàng năm. Một ông khác (nay không còn nhớ tên) nói về sản xuất và chế biến chè… Trong Ban lãnh đạo NTQD Mộc Châu, qua nói chuyện biết nhiều người đã được đi thăm Liên Xô, Bulgaria… Rồi chúng tôi có các buổi tham quan Nhà máy điện, Xưởng chế biến sữa, Nhà máy chế biến chè đen, Đội bò sữa 19-5, Đội chè 66.

Qua các buổi nói chuyện và tham quan, chúng tôi được biết NTQD Mộc Châu có tới hơn 30 đội sản xuất. Có 2 đơn vị chăn nuôi là nuôi bò thịt ở NTQD Cờ Đỏ và bò sữa ở NTQD Mộc Châu. Cả chục đội sản xuất chè, nhiều trại nuôi bò sữa theo kiểu chăn thả tự động, có đội máy kéo, xưởng cơ khí, nhà máy điện, có đội sản xuất cây ngắn ngày, đội nuôi bê, trại bò giống (đội 77)… Lại có mấy đội công nhân nhiều người dân tộc như Bản Ôn, Bản Bun, Chiềng Đi…

Tôi rất ấn tượng về một trung đoàn quân đội đã được “hạ sao” để trở thành công nhân nông trường[5]. Ông Tài Anh kể hồi 1958, Mộc Châu còn đầy lau lách, còn cả cọp beo. Những người công nhân đã rất gian khổ tự tăng gia sản xuất và xây dựng thành cơ ngơi như ngày nay – một giấc mơ ở Tây Bắc đang có nhiều khát vọng ATP[6] của Bulgari. Chắc ông đã được đến thăm các Nông trang và NTQD ở Liên Xô, được thăm ATP ở Bulgari nên trong phát biểu của ông tôi thấy cả những nét ông coi thường kiểu sản xuất ở Liên Xô hay Bulgari hồi đó, nhất là ông nói họ không dựa vào sức lực con người như Việt Nam mà chỉ dựa vào máy móc.

Mấy ngày ở khu nông trường bộ, chúng tôi thấy ở đây công nhân kỉ luật, cán bộ làm việc nghiêm túc, chuẩn mực tác phong (như người lính). Nhiều cán bộ ăn mặc đồ Âu - chắc là đã được đi nước ngoài. Nói chung ăn mặc sang trọng hơn giảng viên trường ĐHNNI nhiều.

Các buổi đi tham quan tôi khoái nhất là được “thấy và sờ tận tay” các đồi chè được trồng thành các luống theo kiểu đồng mức chống xói mòn đẹp như tranh vẽ[7]. Các trại bò sạch sẽ, đàn bò đi rất thong dong, ăn cỏ tự do trên đồng theo kiểu chăn thả tự động.

Lại được biết ở đây luôn luôn có các phong trào thi đua của các tổ chức thanh niên, phụ nữ, của các đội sản xuất trong công việc. Một số cán bộ trao đổi với sinh viên được giới thiệu là kiện tướng hái chè, kiện tướng cắt cỏ… những danh hiệu từ các phong trào thi đua XHCN rất lành mạnh và xứng danh năng lực cống hiến của người lao động.

Quanh khu vực nông trường bộ, công nhân lâu năm đều có nhà riêng, có đất vườn. Họ tăng gia được lợn, gà, rau xanh, lại có cả ao nuôi cá, có nương trên núi trồng được ngô, khoai, sắn… Nhà công nhân đều khá khang trang, loa đài, điện sáng… rất sung túc. Bọn trẻ em, nhất là con gái mới lớn khá xinh đẹp, da trắng hồng, trời càng rét càng hồng hào, khỏe mạnh…

Thật là một tương lai đầy hứa hẹn cho vùng kinh tế Tây Bắc!

 3. Đến các đơn vị sản xuất và các công việc của các nhóm

Tiếp đến là chúng tôi được đưa xuống các đơn vị sản xuất. Cả 2 lớp KT20 có khoảng 120 sinh viên được chia đến hơn 20 đội, xưởng sản xuất. Nhóm tôi được phân công về Xưởng chế biến sữa, gồm anh Chu Văn Khang (Nhóm trưởng), chị Nguyễn Thị Liên, các anh Trần Gia Lộc, Hoàng Hữu Đài, Hoàng Nam, Phạm Trọng Lỳ và tôi (nghe anh Khang nói đã tranh thủ ý kiến anh Nguyễn Đình Chình – lớp trưởng để được phân về đây). Anh Nguyễn Đăng Hợp là Nhóm trưởng đến Đội chăn nuôi bò sữa Vườn Đào.

Khi chúng tôi đến Xưởng chế biến sữa, chị Liên được phân ở chung phòng với các công nhân nữ. Các anh em nam được phân ngủ 2 phòng. Có lẽ người ta đã chuyển tạm công nhân ở đây đi chỗ khác để nhường cho chúng tôi ở trong thời gian chúng tôi đến thực tập.

Buổi đầu tiên, anh Thích - Xưởng phó gặp gỡ nhóm và trao đổi công việc. Chị Trưởng xưởng chỉ qua chào xã giao và nói giao toàn bộ công việc cho anh Thích hướng dẫn, giúp đỡ. Chúng tôi được thâm nhập sản xuất, đến thăm khu sản xuất lon làm sữa hộp, khu sơ chế sữa tươi, khu làm casein[8], khu tách bơ, làm bánh sữa, sữa hộp… Chỉ vài ngày là tôi đã nắm rõ các việc trong Xưởng, đã hỏi được các định mức sản xuất – gồm định mức vật tư, nguyên liệu và định mức công lao động. Công việc liên quan đến lập kế hoạch chế biến, tiêu thụ… qua các năm trước đều được anh Thích cho mượn tài liệu. Như vậy công việc làm kế hoạch quá đơn giản, chỉ cần biết lượng sữa tươi hàng tháng và cả năm, từ đó theo các định mức sẽ tính ra được các hao phí sản xuất và sản lượng sản phẩm làm ra. Tuy nhiên, cái khó là kế hoạch xưởng chế biến chỉ có thể được làm sau khi các đội chăn nuôi bò sữa có kế hoạch sản xuất sữa hàng tháng. Như vậy chúng tôi phải đợi công việc từ các nhóm sinh viên thực tập ở các đội chăn nuôi bò sữa, nghĩa là chúng tôi chỉ xong công việc khi kế hoạch các đội chăn nuôi bò sữa xây dựng xong.

Thực ra cũng chẳng biết làm gì nhiều. Nếu có đến Xưởng hàng ngày thì cũng tìm hiểu về kỹ thuật quy trình sản xuất bánh sữa, bơ tách sữa, sữa hộp… mà không liên quan đến công việc thực tập. Chỉ xem qua bản kế hoạch cũ của Xưởng là biết cách lập kế hoạch năm mới. Nhưng để công việc kế hoạch chế biến sữa năm 1979 xong sớm thì chúng tôi phải đến các đội nuôi bò sữa lấy số liệu chứ không đành ngồi đợi các đội chăn nuôi bò sữa báo cáo (vì lúc này đã gần hết tháng 12/1979).

Đến các đội chăn nuôi bò sữa lấy số liệu

Đầu tiên là đến Đội Vườn Đào, nhóm của anh Hợp. Chúng tôi đến không chỉ để lấy số liệu mà khi phân công xuống các đơn vị sản xuất, thầy Liễm còn giao cho các nhóm phải có giao lưu để tìm hiểu công việc ở một đội gần để học hỏi. Nếu thực tập ở đội chè thì phải đến học ở đội bò sữa và ngược lại. Việc này phải viết trong báo cáo của nhóm trước khi tập trung về nông trường bộ. Ngay từ đầu anh Khang đã chọn đăng kí đến đội chăn nuôi bò sữa. Một hôm cả nhóm chúng tôi đến đội Vườn Đào, cách Xưởng sữa chừng 6-7km, đi bộ phải mất hơn 1 giờ. Tôi còn nhớ khi đi có nhìn thấy Đội cơ khí, thấy đường vào Đội 70. Ở đội Vườn Đào ngoài anh Hợp (hình như) còn có anh Trần Duy Học (và những ai nữa thì tôi không nhớ). Khi đó anh Chiêu là đội trưởng ở đây. Anh Chiêu học đại học ngành chăn nuôi bò từ Cuba về. Anh Chiêu vừa tiếp chúng tôi một lát thì bỗng thấy thầy Liễm đi từ phía sau đồng cỏ vào. Thầy đi một mình, kiểu đi tắt vì thầy chắc đã thuộc địa hình ở Mộc Châu. Khi thấy chúng tôi, thầy hỏi ở nhóm nào đến mà đông vậy, đến từ khi nào, đã tìm hiểu được gì… Sợ quá, ai cũng khiếp. Tôi không nhớ lắm chuyện trả lời thầy nhưng có một lí do là vừa đi “học chéo” lại vừa hỏi kế hoạch sữa của đội Vườn Đào để về xây dựng kế hoạch cho Xưởng sữa. Anh Hợp có vẻ cũng rất sợ thầy với những câu hỏi về việc đã học được gì. May có anh Đội trưởng Chiêu tỏ ra thông cảm vì anh biết chúng tôi đến nhưng không thể nắm sâu ngay được các công việc của một đội chăn nuôi bò sữa.

Cuối buổi chiều chúng tôi được ra thăm trại vắt sữa bằng máy. Trại được xây ở chỗ khá rộng rãi và sạch sẽ. Hình như có 6 máy vắt sữa. Người ta làm một đường cho bò đi lên chỗ máy vắt. Khi bò đã lên đủ thì công nhân làm vệ sinh vú và đặt máy hút vào vú bò. Máy hút sữa theo nhịp, khi hút sữa thì bò được ăn thức ăn tinh trong cái máng phía trước. Chừng mươi phút là hút xong sữa 1 đợt. Máy nhả vú bò ra, chuồng được mở để bò đi xuống theo đường khác. Tiếp đến công nhân lại làm thủ tục cho đợt hút sữa tiếp: lấy thức ăn vào máng, dồn sữa vào các bình lớn và gọi tiếp lũ bò mới. Tụi bò lác đác tự đi về trại vắt sữa từ phía đồng cỏ và đứng tụ lại trước trại. Mỗi con bò đều có một số đeo ở tai. Chị công nhân gọi số nào thì con bò đeo số đó đi lên vắt, số còn lại đứng rất trật tự chờ đến lượt gọi. Tôi thấy rất thú vị về chi tiết này. Đây là một nơi xếp hàng văn minh bậc nhất, không chen lấn, xô đẩy hay gây rối như kiểu xếp hàng mua đủ thứ của dân Hà Nội… Thì ra phản xạ vắt sữa là khi các bầu vú đã căng đầy sữa, bò sẽ tự động từ đồng có về trại mà không cần người đuổi về. Hơn nữa ở đó có thức ăn tinh nên khi vắt chúng được ăn ngon, nghe nói khi ăn sẽ tiết ra nhiều sữa hơn (?)

Hôm đến xin kế hoạch sữa của Đội 19-5, tôi thấy có anh Hảo KT19 (quê Thanh Hóa) thực tập tốt nghiệp ở đây. Anh Hảo thì rất quen với anh Khang và tôi. Khi ở trường, vì nhóm đồng hương Thanh Hóa nên đôi khi qua anh Hảo qua nói chuyện tào lao với nhau. Thế là anh Hảo giúp tôi lấy số liệu kế hoạch sữa vì ông Chinh đội trưởng Đội 19-5 hơi khó tính. Mấy anh em nhóm thực tập ở đây cũng chưa làm được gì.

Hôm vào Đội 8-4 thì cũng có thú vị khác là được nếm sữa đầu. Sữa đầu dành cho bê mới sinh những ngày đầu, không được dùng chế biến. Được nếm chút xíu sữa đầu ở đây không phải do người ta đãi chúng tôi mà chắc có sự kiện gì đó (bê bú không hết, bò mẹ có vấn đề đau ốm…). Chỉ một chút thôi nhưng thấy lạ và cũng không cảm thấy ngon gì. Người ta hấp sữa đầu thành một tấm như cái bánh đúc, cắt ra mỗi người một ít, ăn không thấy vị ngọt, chỉ có cảm giác nhiều bơ ngậy – đó là thức ăn rất quý giá của những con bê mới sinh vì sữa đầu rất nhiều dinh dưỡng quý. Sữa này cấm không được chế biến vì phải bảo đảm trước khi tách bê về trại nuôi bê, chúng sẽ được bú sữa đầu. Còn bò mẹ thì sau khi đẻ ít ngày sẽ được thụ tinh trở lại và việc vắt sữa diễn ra cho đến khi bò mẹ sinh lứa tiếp theo (chỗ này tôi nhớ không được có bao nhiêu ngày vắt trong năm/bò sữa).

Còn các đội khác thì tôi quả thật không nhớ ai đã đi lấy số liệu, nhưng cuối cùng thì kế hoạch cũng đã xong ngay khi chúng tôi có số liệu từ các đội. Điều đó chẳng khó gì vì đã nắm được các định mức.

Chia tay Xưởng sữa

Rồi công việc của chúng tôi ở Xưởng chế biến sữa cũng hoàn tất. Buổi chia tay tôi nhớ anh Thích có vài lời khen ngợi trước buổi giao ban toàn xưởng và bữa chia tay có chút ăn tươi. Anh Khang phát biểu cảm ơn và chúng tôi đi bộ về nhà khách. Không có nhiều tình cảm lắm với lần chia tay này. Mấy cô công nhân trẻ ở phòng bên cũng chia tay xã giao, chỉ lơ mơ chào và nghĩ chắc không hẹn gặp lại…

Có thêm một chuyện còn nhớ khi thực tập ở Xưởng chế biến sữa: vào ngày 7-1-1979, qua loa phát thanh của Xưởng, chúng tôi được biết Nhà nước Campuchia của Hunsen đã được thành lập. Chuyện thời sự này rất đáng chú ý vì chúng tôi đều biết nhiều lính Việt Nam đã giúp Hunsen giành chính quyền. Năm 1983, tôi là sĩ quan ở QK9 đã được đến Campuchia - lúc đó vẫn chưa yên tiếng súng - tôi đã hiểu thêm nhiều về cuộc giúp đỡ này[9].

Tôi đã rất nhớ sự kiện này vì trước khi đi thực tập Mộc Châu, chúng tôi đã nghe tin người ta sẽ tuyển sinh viên vào bộ đội. Tôi liên tưởng đến khi thực tập về có lẽ tôi sẽ được gọi tuyển quân. Cũng may là nhờ đi thực tập nên chúng tôi đã thoát đợt tuyển sinh viên vào bộ đội lần đó. Trong thời gian chúng tôi đi thực tập thì một số anh em nam các lớp KT21 đã phải đi bộ đội, chuẩn bị cho cuộc chiến phía Bắc…

4. Trở lại nông trường bộ - Công việc tổng kết chuyến đi

Tại nông trường bộ, chúng tôi còn một tuần để hoàn thành báo cáo thực tập và phải trình bày báo cáo trước các thầy. Các buổi báo cáo cơ bản chỉ là một đại diện nhóm trình bày trước các thầy, các thầy nghe và góp ý. Thầy Nguyễn Liễm có những nhận xét sâu và hỏi nhiều câu khó nên ai cũng ngại. Nhóm nào cũng có bản kế hoạch nộp lại cho đoàn, không biết đoàn có gửi lại cho nông trường không?

Quan trọng nhất là buổi đánh giá kết quả của đoàn thực tập do Thầy Liễm đọc với đông đủ các cán bộ phòng ban tham gia. Nhiều cán bộ phòng ban phát biểu xã giao. Trong buổi đó có một số sinh viên được phân công phát biểu cảm tưởng. Giám đốc Nguyễn Tài Anh dự và phát biểu đánh giá cao sự giúp đỡ của Khoa Kinh tế với NTQD Mộc Châu. Ông là Giám đốc sắc sảo nắm từng chi tiết rất cụ thể, ăn to nói lớn không sợ mất lòng ai. Cái giọng khàn khàn đầy thổ âm Thanh Hóa của ông (quê ông ở Đông Hòa gần Đồng Tiến quê tôi) rất ấn tượng về tính oai vệ của người chỉ huy quân sự. Kiểu quản lý quân đội nhiều người sợ khiếp vía vì ông biết rất rõ bản chất công việc, khó có thể lừa dối được ông. Ông còn trách sinh viên chưa biết gì về Mộc Châu thì đừng có những nhận xét vô tâm. Một câu hỏi của ông: “Các anh chị đã yêu gì từ đất này?” Rồi chính ông trả lời: có thể các anh chị chỉ yêu Mộc Châu ở củ khoai, củ lạc, chứ làm sao biết được con người ở đây đã đổ máu xương xây dựng từ những ngày còn đầy cọp beo thú dữ…

Khi tôi đã là giảng viên đưa sinh viên lên thực tập, tôi mới biết ông Nguyễn Tài Anh rất coi trọng công tác kế hoạch. Có những khóa chính ông là người ngồi duyệt kế hoạch các đội sản xuất. Ông yêu cầu sinh viên báo cáo, cán bộ các đội chỉ ngồi dự. Những buổi báo cáo đó rất nghiêm túc và sinh viên học được rất nhiều từ thực tế. Còn nhớ Khóa KT29 còn có một nữ sinh viên đã tức tưởi khóc khi bảo vệ kế hoạch vì em cho rằng các em đã làm chính xác hơn, làm hay hơn cách làm theo nề nếp cũ!

Hôm tổng kết còn có phát biểu của anh Lê Viết Phán khá vui. Anh lên nói vo mấy lời và rút giấy ra đọc bài thơ tự sáng tác về cảm tưởng đối với NTQD Mộc Châu. Tôi còn nhớ câu anh viết về một thảo nguyên ở độ cao 1050m

Có buổi tối văn nghệ chia tay phối hợp cả bên thanh niên nông trường và đoàn sinh viên thực tập. Thực ra 2 lớp cũng đã tập nhiều buổi văn nghệ trước đó. Tối đó có rất nhiều người dân đến xem văn nghệ. Hội trường chật kín chỗ, một số bạn trẻ còn trèo lên đứng ở bậu cửa sổ. Một số bài hát của sinh viên, đa số là nhóm đồng ca. Phía Nông trường có nhiều tiết mục hay, tôi nhớ nhất là một anh cán bộ ở nông trường hát bài về bản Mèo[10]. Có mấy câu rất dễ nhớ là: “Bản Mèo xa vời lưng núi, chỉ thấy mây bay theo bước chân người, trâu với người đi chung một lối…” Sau này tôi được biết bài hát đó của tác giả Vương Đình Nguyên - khi đó anh đang ở tổ phát thanh của Nông trường.

Có một tiết mục khác là tốp múa của các nữ sinh lớp KT20A. Tôi không rõ tiết mục được dàn dựng ra sao nhưng các nữ sinh lớp tôi ra sân khấu có mặc trang phục áo dân tộc nhiều màu. Khi nhạc nổi lên, các chị từng người vừa đi vừa múa xuất hiện từ phía cánh gà. Sau khi ra đủ (6 hay 8 chị gì đó), các chị bắt đầu quay lại xếp thành hàng theo nhịp điệu múa thì phía hội trường mấy thanh niên gào hú hò hét không hiểu vì lí do gì[11]. Tiếng hú hét và tiếng cười to dần lên, nhất là của bọn bám trên bậu cửa sổ. Thế là các nữ sinh KT20A mất tinh thần. Khi đến cánh gà thì bạn Quế đã chạy thẳng vào, mọi người ào theo. Tiếng vỗ tay, hoan hô cũng rất nhiều âm thanh náo nhiệt. Tiết mục đứt rụp, mất công tập mấy tuần! Nay nói chuyện này chắc mấy chị còn nhớ nhiều hơn tôi.

Sát ngày về, tôi lại thấy rất nhiều nhóm có nhiều quen từ các đội lên chơi. Thì ra nhiều người là đồng hương, là những người có tình cảm sinh viên đến chia tay, gửi quà cáp… Nhiều sinh viên nói đã được các bác yêu quý đùm bọc, mời lên nương, mời ăn lạc, ăn khoai cùng gia đình… Thì ra thực tập ở phía các đội hình như nhiều tình cảm hơn ở phòng tập thể như chúng tôi về Xưởng sữa.

Chỉ có gần 2 tháng ở Mộc Châu mà ai cũng thấy có thay đổi. Hình như được ăn no hơn, được đi lại và nhàn hạ hơn chăng? Riêng chị em thì khác rất nhiều: chị nào cũng trắng ra, hồng hào lên nhiều – sinh viên cũng xinh như công nhân trẻ của nông trường!

Vài chi tiết khác: khi về qua trạm kiểm soát 4 bên[12], mọi người phải xuống xe để các anh công an, bộ đội… lên kiểm tra rất kĩ. May là đoàn đã quán triệt không được mang thớt gỗ, trà khô, lương thực về nên khám xét một hồi mà không bị thu giữ gì. Hồi đó bao cấp, mọi thứ vận chuyển được kiểm soát khá nghiêm ngặt!

5. Một số trải nghiệm từ chuyến đi

Cảm nhận dốc Mộc Châu

Chủ nhật đầu tiên chúng tôi đi loanh quanh lên phía huyện Mộc Châu. Hồi đó qua dốc Mộc Châu quả là rất mệt vì dốc không dài nhưng khá cao. Lên đến đỉnh dốc nhìn xuống mới thấy dốc đứng khủng[13], khi xuống cứ phải đi kiểu ngả người ra sau. Nếu đi xe đạp thì lên dốc tất nhiên phải xuống đẩy xe, nhưng có xuống dốc cũng ít ai dám ngồi vì độ dốc đó khó có thể kiểm soát tốc độ. Chúng tôi vừa đi vừa thở, riêng anh Lộc kêu quá mệt. Hết dốc là phố huyện, chỉ thấy 2 bên có dãy phố lèo tèo không mua bán gì nhiều. Đứng xem một lúc thì trèo về. Trên đường về, đang xuống giữa dốc thì nghe ào ào sau lưng. Thì ra một thanh niên đi xe đạp lao xuống dốc có buộc một cành cây sau xe kéo lê trên đường như kiểu một cái phanh hỗ trợ. Thế mà xe vẫn chạy với tốc độ khá nhanh, rất nguy hiểm.

Chuyện quen các nữ công nhân

Anh Khang làm quen được với một nam công nhân kĩ thuật trong Xưởng sữa. Anh ta từng đi học kĩ thuật từ Bulgari về. Một hôm anh đến chơi có mang theo cái máy quay đĩa, sau đó anh Khang đã mượn luôn để ở phòng. Có cái máy này nghe hát cũng vui, nhưng có lẽ khá ồn ào. Hộp đĩa than có cả 2 đĩa nhạc Tây, nghe không hiểu gì. Tôi còn nhớ một đĩa có bài hát Tiếng hát giữa rừng Pacbó của Nguyễn Tài Tuệ, Rặng trâm bầu của Thái Cơ do ca sĩ Kiều Hưng hát. Nhờ có cái máy này mà mấy em nữ công nhân cũng khoái nghe nên có khi qua phòng chúng tôi nói chuyện và nghe đĩa hát. Nhờ thế là quen được các cô công nhân trẻ từ xuôi mới đến Nông trường.

Có lần các em rủ chúng tôi lên núi lấy phong lan. Hôm đó nắng ấm, hai em nữ công nhân trẻ rủ chúng tôi leo núi lấy phong lan rừng. Núi ngay phía sau Xưởng sữa, không xa lắm nhưng khá cao. Chúng tôi đi thong thả qua mấy đám nương của công nhân cũng không thấy mệt gì. Nhưng vào sát núi thì anh Lộc leo một lúc thì dừng vì mệt và về trước. Hai em nữ trẻ động viên tôi, chị Liên, anh Khang, anh Đài leo cùng. Có một cô em tên Hồng quê Hưng Yên, người thấp, mập trông rất khỏe mạnh, mặt hồng hào, căng tròn hết cỡ chừng khoảng 19-20 tuổi. Em nói mới được tuyển lên làm công nhân năm ngoái. Nhìn mớ tóc cô hơi xoăn dính bết trên mặt hồng hào lấm tấm mồ hôi (mà trời hơi lạnh nhé) cứ hăm hở rủ tôi đến chỗ có nhiều phong lan. Mọi người leo một lúc mệt đứng lại cả, chỉ còn tôi và 2 em tiếp tục leo. Lên cao một chút thì thấy quả có nhiều hoa phong lan thật nhưng rất khó lấy vì chúng bám trên cây quá cao. Em Hồng bảo tôi là em có thể leo lên được nhưng phải có người đỡ chân hoặc em sẽ đỡ để anh leo lên hái. Tôi thì ngượng không dám làm vì tôi đỡ cô hoặc cô đỡ tôi thì đều ngại cả. Sau đó một em đi đâu mất, thế là chỉ còn mình tôi với cô Hồng. Chúng tôi đứng bên nhau nói chuyện và giúp nhau bám víu cũng chỉ gỡ được vài nhành lan nhỏ bám ở những cành cây thấp. Tôi có cảm giác như em rất mạnh dạn đứng gần, có cả những cái chạm vô ý nhưng không dám làm gì cả. Một hồi sau thì 2 đứa xuống núi, chỉ thu hoạch được mấy nhành lan bé tẹo. Sau đó có lần muốn rủ các cô ấy đi leo núi nữa và bàn cách lấy được những nhành lan ở cao nhưng các cô ấy có vẻ không ham lắm. Chắc các cô nghĩ đi với các anh chẳng được tích sự gì! Mà nhóm tôi thì chỉ có mình tôi chưa vợ.

Một hôm khác tôi ở nhà một mình, các cô ấy trên Xưởng về nhưng chắc không biết tôi ở trong phòng nên cứ nói chuyện tự nhiên ở phòng bên. Tôi nghe Hồng nói: “Từ hôm có các anh sinh viên, bọn mình đ… dám nói tục gì, khó chịu quá!” Tôi nghe vậy biết cuộc sống các cô lao động chân tay mạnh mẽ lắm, nhìn các cô khỏe mạnh rắn rỏi chứ không ẻo lả đói ăn như sinh viên nên chúng tôi thì không dám quen thân hơn. Đại loại thế, nếu có quen hơn thì cũng chẳng đi đến đâu.

Chuyện sinh viên lao động thêm

Ở Xưởng sữa vì không có việc nhiều lắm nên anh Khang đặt vấn đề với anh Thích là anh em sinh viên có thể bốc sữa lên xe để có kinh phí có thể mua một số sản phẩm phế phẩm của Xưởng. Các sản phẩm phế phẩm là sữa hộp bị phồng (do tiêu chuẩn vệ sinh gì đó) hay một số bánh sữa đáy nồi (hơi bị khét cháy)… Mỗi khi ra vác sữa lên xe, tôi cứ nghĩ là mình đã lấy mất công việc của mấy anh em công nhân và sinh viên đi bốc vác cũng có cảm giác ngượng ngượng. Tôi vẫn còn nhớ cái cảm giác sọt nứa đựng sữa nặng cỡ 20 kg. Tuy không quá nặng nhưng cũng hơi ghê tay vì các nan nứa cũng khá sắc, dễ đứt tay (mà không ai có bao tay cả).

Chuyện đi dự một đám cưới công nhân

Hồi ở Xưởng chế biến sữa, chúng tôi được mời đi dự một đám cưới công nhân. Cưới giản dị, không có áo dài hay comple sành điệu gì. Bạn nữ mặc sơ mi trứng có cái áo len khoác. Bạn trai kiểu áo len Lào… Đám cưới có vài phát biểu ngắn rồi hát và hát, đủ kiểu hát. Trên bàn khách có hạt bí rang và mấy điếu thuốc lá để trong cái đĩa, một đĩa kẹo nhỏ - nghe nói thuốc lá và kẹo là tiêu chuẩn được mua khi cưới. Nước chè thì có người đi rót mời từng bàn.

Một đám cưới công nhân nhưng có quá nhiều tặng phẩm hiện vật (hồi đó chưa có kiểu đi mừng cưới bằng phong bì). Sang nhất là cái phích Rạng Đông màu đỏ và rất nhiều tặng phẩm là… những đôi thùng gánh nước. Sao lại cần nhiều thùng gánh nước như thế nhỉ? Khi về chị Liên nói với tôi: đó là những thứ mà công nhân có thể mua được ở cửa hàng của nông trường. Mua được thì có cái đi tặng, còn dùng thế nào thì tùy người nhận. Mà có ai biết đâu người khác cũng tặng giống như mình. Không dùng hết thì bán lại cho người khác cũng coi như có khoản tiền nhỏ để tiêu, mà ngay cả đôi thùng gánh nước cũng đâu dễ có mà mua!

 

6. Một tư liệu quý của Tổ 1

Tổ 1 chúng tôi có kỉ niệm rất quý. Khi đó anh Trần Duy Học và anh Phùng Đức Thoại có mượn được cái máy ảnh đem theo. Một buổi sắp về trường, cả nhóm ra đồi phía sau nhà máy chè đen dàn cảnh chụp. Tôi không nhớ ai là người bấm máy nhưng cả 14 người trong Tổ 1 đều có mặt (chỉ thiếu anh Hợp, anh Lê Xuân Trí). Nay nhìn tấm hình tuy đã mờ nhưng mọi người vẫn còn nhận ra nhau thời ấy. Ai cũng thấy mình dường như không thay đổi nhiều lắm so với cái hồi còn sinh viên ấy. Hồi đó mỗi người đều có ảnh cỡ 6x9, nhưng giữ được cho đến nay thì chỉ anh Lê Ngọc Lan. Các hình này do chính anh Lan cung cấp. Tôi tạm dùng A.I. để sơ bộ chỉnh sửa, chắc có ngày công nghệ A.I. sẽ làm 2 tấm hình này nét hơn. Hôm nay đưa hình lên, rất tiếc anh Trần Duy Học đã ra đi - chúng ta cùng mong anh được thanh thản trong "hành trình hạnh phúc" của anh!

Hình bên phải là bản cũ - bên trái là đã chỉnh sửa cơ bản nhờ công nghệ A.I.

Hình bên phải là bản cũ - bên trái là đã chỉnh sửa cơ bản nhờ công nghệ A.I.





[1] Khi đó chưa có đập Thủy điện Hòa Bình, đường 6 cũ khi có đập đã bị nước dâng nhiều đoạn.

[2] Vào tháng 12/2023, một số anh em trong lớp KT20A đã đến Ba Chúc và thăm quần thể chứng tích tội ác. Từ 18/4/1978 đến 30/4/1978, quân Khmer Đỏ tràn vào Ba Chúc. Trong 12 ngày chiếm đóng chúng đã giết chết 3.157 dân thường vô tội. Tại quần thể chứng tích tội ác có nhà mồ hiện tại chứa đựng sọ của 1.160 nạn nhân. 

[3] Truyện Tây Bắc có 3 truyện ngắn của nhà văn Tô Hoài xuất bản  năm 1953, gồm Mường Giơn; Cứu nước cứu mường; Vợ chồng A Phủ

[4] KT20 có anh Cương (anh Cương học KT19 “đúp” xuống học ở KT20B) lấy một cô công nhân ở đây. Sau này tôi có dịp gặp vợ chồng anh ở Mộc Châu. KT26 cũng có mấy anh lằng nhằng chuyện trai gái, sau đó có một đôi cưới nhau.

[5] Năm 1958, sau khi hoàn thành nghĩa vụ quốc tế trên chiến trường Lào, 1.700 cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 280, Sư đoàn 335, đã tập kết tại cao nguyên Mộc Châu. Ngày 8-4-1958, Trung đoàn 280 chuyển sang xây dựng Nông trường Quân đội với nhiệm vụ: “Xây dựng cao nguyên Mộc Châu thành vùng giàu về kinh tế, mạnh về chính trị, vững về quốc phòng”.

[6] ATP – Mô hình nông – công nghiệp quốc doanh ở Bulgaria hồi XHCN bao cấp.

[7] Khóa KT29 có sinh viên Hoàng Phương sáng tác bài hát về NTQD Mộc Châu đã ví các hàng chè như những phím đàn dương cầm.

[8] Casein chiếm khoảng 80% protein trong sữa, rất lý tưởng để tạo ra những sản phẩm mới thân thiện với môi trường, được sử dụng trong nhiều lĩnh vực: thức ăn; y học; mỹ phẩm; keo dán. 

[10] Xem thêm https://dulichmocchau.net/nongtruong/chuyen-tu-mien-ky-uc/co-mot-mien-que-tuoi-tho-tren-cao-nguyen-moc-chau-9.html. Sau này bài này thành nhạc hiệu của Đài phát thanh NTQD Mộc Châu.

[11] Về sau tôi được biết là thanh niên ở đây khi đó rất thích văn nghệ, nhưng nếu mô phỏng kiểu múa dân tộc thiểu số thì họ không có hứng thú, nhất là các thanh niên trong các bản gần nông trường bộ.

[12] Bốn bên là công an, quân sự, thuế, thị trường.

[13] Ngày nay dốc này được người ta bạt đi, không còn cảm giác qua dốc nữa.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét