1/ Một cách trải nghiệm thực tiễn trước khi tốt nghiệp đại học
Thời chúng tôi đi học, kĩ sư kinh tế (người
thầy về kĩ nghệ) phải trả qua 4 năm học lí thuyết theo chương trình được thiết
kế gồm kiến thức cơ bản, kiến thức cơ sở và chuyên môn, rèn luyện thực hành,
trải nghiệm độc lập quan sát thực tế bằng những đợt lao động, thực tập giáo
trình. Người ta thiết kế đào tạo kiểu người kĩ sư như là một nhân vật phải hiểu
biết chung chung nhưng toàn diện, nắm được thực tiễn từ khi còn trong nhà trường
để học xong là có thể đảm đương công việc với khả năng tự giải quyết các vấn đề
trong công tác.
Thật ra, cách học này theo đánh giá ngày nay thấy có
quá nhiều thiếu sót, hạn chế. Cách đào tạo đó làm sao thành được người tài
năng trước thử thách phức tạp của cuộc sống. Nhưng dưới chế độ “bao cấp xã
hội chủ nghĩa” thì đây là cách kiếm cơm áo lương thiện, không vụ lợi. Tuy rất
ít cơ hội thăng tiến nhưng cơ bản bảo đảm mức sống dưới trung bình của xã hội và
quan trọng nhất con người vẫn còn lương tri, còn niềm tự hào, còn tinh thần
cống hiến và sự hài lòng với cuộc sống trong đội ngũ trí thức đương thời.
Chúng tôi đi thực tập tốt nghiệp như chuyến đi quan
sát, trải nghiệm thực tiễn để về báo cáo kết quả chuyên môn trước một hội đồng
giáo viên rồi vinh dự nhận danh hiệu “kĩ sư kinh tế.” Sau đó dám chấp nhận
bất kì sự phân công nào của tổ chức và trở thành người của “biên chế nhà nước”
hưởng thụ sự trả công xã hội chủ nghĩa (theo bìa phiếu), thủ thường an phận suốt
đời.
Đi thực tập vừa có cái lo của chuyên môn dưới sự hướng
dẫn của một giáo viên trực tiếp, vừa có cái lo về việc phải tự xoay xở ở cơ sở
thực tập. Thú thật, kiến thức chuyên môn thì đa số chúng tôi không sợ lắm, vả lại
biết rằng mình có giáo viên hướng dẫn và sách vở mang theo, nhưng bọn trẻ chúng
tôi lo nhất là làm sao xoay xở được quan hệ với cơ sở thực tập để người ta ủng
hộ công việc của mình và mình biết cách tự xoay xở để vững vàng và tiến bộ hơn.
Cũng may là thời đó việc học còn được quý trọng. Sinh
viên thực tập có vinh dự được xã hội công nhận và kì vọng nhất định. Bản thân
sinh viên cũng muốn tự mình thể hiện sự gương mẫu của người trí thức tương lai.
Còn nơi chúng tôi tiến hành thực tập (các HTX, NTQD, Trạm trại nông nghiệp) thì
người ta cũng ngưỡng mộ chúng tôi và cũng muốn đóng góp công sức nhất định cho
sự nghiệp đào tạo. Người sinh viên không dám làm gì gây tai tiếng với cơ sở thực
tập (vốn là nơi có quan hệ nhất định với nhà trường), còn cơ sở đón nhận sinh
viên cũng muốn được vinh dự đóng góp cho nhà trường. Chính vì thế hầu hết chúng
tôi đều được hỗ trợ về công việc, về cuộc sống vật chất: ở không mất tiền, được
hỗ trợ thêm gạo, rau xanh… Một số anh em giỏi xã giao còn được coi như khách
quý, thậm chí được tham gia vào một số công việc của cơ sở. Tôi khẳng định đa số
chúng tôi đều nhớ và biết ơn cán bộ, nhân dân ở các địa phương nơi chúng tôi thực
tập tốt nghiệp. Nhiều người còn giữ được quan hệ lâu dài với những vùng đất, những
con người đã có cảm tình tốt và tôn trọng chúng tôi trong thời gian ngắn ngủi
này.
Với riêng tôi, trong ghi chép này, ngoài mô tả về nội
dung công việc thực tập phải hoàn thành (giống như mọi sinh viên khác trong lớp),
tôi cố gắng thể hiện tình cảm của riêng tôi với những con người đã giúp đỡ tôi
trong quá trình thực tập tại Hải Hậu gần 6 tháng. Đôi khi có thể hơi miên man,
nhưng đã từng gắn bó với họ nên tôi ghi chép như để thêm một lần nữa biết ơn những
con người tôi đã gặp, đã chia sẻ công việc với tôi. Viết ra như để trải lòng những
trăn trở còn mang hơn 40 năm qua. Chắc chắn họ không bao giờ biết những điều
này, có thể rất nhiều người đã mất. Giả sử có còn gặp lại thì cũng không thể
còn nhớ nhau, nhưng trong lòng tôi xin được ghi nhận sự trân trọng với con người
và vùng đất Hải Hậu những năm tháng này.
2/ Nhóm sinh viên được cử đi thực tập tại Hải Hậu,
Hà Nam Ninh
Việc được cử đi thực tập tốt nghiệp là do các Bộ môn
của Khoa Kinh tế Nông nghiệp phân công nhưng chủ yếu là giáo viên hướng dẫn
trong các Bộ môn quyết định. Giáo viên hướng dẫn quyết định nội dung, địa
điểm thực tập, nghĩa là sau khi Khoa phân công sinh viên đến các Bộ môn thì mỗi
sinh viên đều sẽ được nhận một công việc và một địa điểm cụ thể do giáo viên phụ
trách hướng dẫn quyết định.
Ngay sau kì nghỉ hè ngắn năm thứ 4, vào cuối tháng 8-1979,
chúng tôi trở lại trường để nhận phân công đi thực tập tốt nghiệp. Tôi được
phân công về Bộ môn Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp và Bộ môn cử nhóm đi thực
tập tại Hải Hậu có 4 người: anh Dương Ngọc Đĩnh và tôi đi thực tập về cơ giới
hóa nông nghiệp do thầy Nguyễn Văn Quý hướng dẫn, bạn Trần Hữu Giang do thầy
Đinh Văn Hiến hướng dẫn và Nguyễn Văn Tường do thầy nào đó hướng dẫn (tôi không
nhớ). Trong thời gian thực tập ở Hải Hậu tôi có gặp anh Phạm Trọng Tuệ (KT20A)
nhưng không rõ anh ấy thực tập ở đâu. Có thể còn những người khác mà tôi không
biết hết.
Số là sau khi được cử làm thành viên nhóm tổng hợp đợt
đi thực tế tháng 6-1979 nên tôi và Giang tiếp tục được thầy Nguyễn Văn Quý gợi
ý về Hải Hậu. Nhưng thầy Quý chỉ được hướng dẫn 2 người là tôi và anh Dương Ngọc
Đĩnh nên nếu thêm Giang thì thầy Quý không còn tiêu chuẩn số lượng. Thầy Quý giao
tôi và anh Đĩnh nội dung về cơ giới hóa nông nghiệp và quyết định về thực tập tại
Trạm Máy kéo huyện Hải Hậu. Khi đó Giang thì do thầy Đinh Văn Hiến hướng dẫn và
tôi không rõ vì sao Giang được phân công về xã Hải Đường. Anh Tường thì cũng
không rõ vì sao lại được phân công về xã Hải Phương. Cho đến nay tôi không biết
Giang và anh Tường thực tập tốt nghiệp về nội dung gì.
Trước khi tôi và anh Đĩnh về Hải Hậu thì thầy Quý
nói rằng có 2 nội dung cần nghiên cứu là về trang bị cơ giới lớn và cơ giới nhỏ,
hai anh em tự chọn nội dung cho mình. Anh Đĩnh quyết định anh sẽ thực tập nội
dung về trang bị cơ giới lớn ở huyện Hải Hậu, còn tôi làm về cơ giới nhỏ. Tôi
và anh Đĩnh được đề nghị về thực tập ngay tại Trạm Máy kéo của huyện Hải Hậu.
Trạm đóng trên đất Thị trấn Yên Định, cách UB huyện chừng 2km. Nếu đi qua sông
Múc thì tôi chỉ cách anh Tường ở Hải Phương chừng 1km, và cách Giang ở xã Hải
Đường chừng 5km. Thế là nhóm thực tập Hải Hậu ban đầu có liên kết khá vui giữa
4 anh em với nhau, trong đó 3 người có xe đạp, chỉ riêng tôi không có nên khi đi
xuống các xã thì tôi có thể mượn xe của anh em.
Lúc này thầy Nguyễn Văn Quý đang được Bộ môn phân
công hợp tác gì đó với Tổng cục Trang bị Kĩ thuật, Bộ Nông nghiệp nên trước khi
chúng tôi về Hải Hậu, thầy yêu cầu tôi và anh Đĩnh đến Tổng cục Trang bị Kĩ thuật
(cơ quan ở số 6 Nguyễn Công Trứ - công sở của Bộ Nông trường cũ) để gặp anh
Long, cán bộ của Tổng cục đang theo dõi về cơ giới hóa nông nghiệp Hà Nam Ninh.
Chúng tôi gặp anh Long và được anh trao đổi về một số nội dung nghiên cứu. Một
chi tiết quan trọng là theo đề nghị của anh Đĩnh, anh Long đã giúp chúng tôi có
giấy giới thiệu là cán bộ của Tổng cục Trang bị kĩ thuật Bộ Nông nghiệp đi công
tác tại Hải Hậu. Sau này tôi có sử dụng giấy tờ này cho vài chuyến đi đến các xã
và cũng nhờ đó trước khi về trường anh Đĩnh đã tranh thủ giấy giới thiệu này mà
xin mua được 30 tờ giấy A0 (khi đó gọi là giấy tờ-rô-ki rất quý hiếm, không có
bán) để kẻ bảng biểu báo cáo tốt nghiệp. Nhìn trên quan điểm thời bao cấp thì việc
này có tính vụ lợi nho nhỏ, hơi gian xảo, ranh ma một chút, tôi nghĩ vậy.
3/ Trạm máy kéo Hải Hậu, mô hình cơ giới hóa rập khuôn
Liên Xô
Mô hình Trạm Máy kéo Hải Hậu là kiểu tổ chức trang bị
theo Liên Xô về cơ giới hóa nông nghiệp. Khi chúng tôi về đây thực tập, Trạm Máy
kéo Hải Hậu đang được Liên Xô viện trợ đồng bộ một Xưởng cơ khí lớn, nhưng còn
đang trong quá trình xây dựng. Nghe nói Trạm ở huyện Nam Ninh đã hoàn thiện,
đây là trạm thứ 2 ở tỉnh Hà Nam Ninh trong chương trình viện trợ của Liên Xô.
Khi đến Trạm Máy kéo Hải Hậu, chúng tôi tình cờ gặp
anh Nguyễn Thế Thìn, sinh viên CK19 của ĐHNN I đang thực tập ở đây. Anh Thìn học
Khoa Cơ khí Nông nghiệp có chương trình đào tạo là 5 năm nên đi thực tập đến cuối
tháng 9 là về trường để chuẩn bị thi tốt nghiệp vào tháng 12. Tuy chỉ cùng ở với
anh Thìn vài tuần trước khi anh về trường, nhưng anh giúp chúng tôi rất hiệu quả
trong những ngày đầu tiên chúng tôi về Trạm Máy kéo, nhất là việc làm quen và
thủ tục xã giao với cán bộ nhân viên tại Trạm.
Nhân đây cũng nói thêm về anh Thìn, vào khoảng năm
2010, tôi tình cờ gặp được anh Thìn trong một Hội thảo cấp Bộ ở Hà Nội. Khi đó
anh là tiến sĩ ngành Kinh tế, bảo vệ luận án tại Đại học KTQD[1]
và đang công tác ở một Vụ gì đó thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Điều đặc biệt là anh vẫn còn nhớ tên tôi và những kỉ niệm từ hồi ngắn ngủi gặp
nhau ở Trạm Máy kéo Hải Hậu 30 năm trước.
Khi đó người ta đã xây gần xong một Xưởng lớn gồm khung
nhà với những cột bê tông cao chừng hơn 20m. Xưởng rộng khoảng 50m, dài gần
100m. Mái tôn đã lợp xong, bên dưới còn ngổn ngang sắt, thép, gạch để xây các
phần ngăn cách và đang dựng một số khung xà thép làm cơ cấu treo nâng máy kéo
khi sửa chữa. Một số công nhân xây lắp đang còn hoạt động cho đến hết cuối năm
1979 mới hoàn thành.
Xưởng nghe nói được xây dựng theo thiết kế của Liên
Xô trong các nông trang tập thể. Tại Xưởng, người ta có thể chăm sóc, bảo dưỡng,
sửa chữa máy kéo và các công cụ cơ khí trong toàn nông trang, có lẽ tương đương
quy mô diện tích toàn huyện ở Việt Nam. Vào khoảng cuối năm, tức là khi chúng
tôi gần về trường, các công việc hoàn thiện Xưởng cơ khí cơ bản hoàn tất, tôi
thấy đầy đủ quy mô một Xưởng lớn. Có mấy gian phía sau dùng để phụ tùng, dụng cụ.
Một cái khung sắt làm cơ cấu treo khi sửa chữa tháo lắp các bộ phận nặng của
máy kéo. Có mấy cái bệ xi măng xây dốc để đưa máy kéo lên chăm sóc phía gầm xe.
Một gian có các thiết bị đo, các dụng cụ thay thế lốp xe. Một bộ phận dụng cụ
hàn ghép các bánh lồng đất. Có một máy kéo bánh xích DT-75 rất to cũng được đưa
về, còn mới nhưng chưa sử dụng. Tuy nhiên công nhân cơ khí rất ít, có lẽ sau
khi chúng tôi về trường thì người ta sẽ tuyển dụng thêm khi công việc của Xưởng
đi vào hoạt động chính thức. Khi đó, huyện Hải Hậu có mấy điểm tập kết máy kéo ở
các cụm xã nên trên Trạm chỉ có dăm cái máy bánh hơi kiểu MTZ, vài rơ-mooc
thùng gắn đầu máy vận chuyển trên đường khi đi giao nhận vật tư.
Trạm đặt trên đất Thị trấn Yên Định, sát đường QL21A
từ Yên Định đi Chợ Cồn rất thuận tiện giao thông. Toàn bộ diện tích chừng khoảng
1ha, phía trước xưởng có 1 bãi đất rộng rải đá dăm làm nơi tập kết máy móc. Một
căn nhà cấp 4 quay lưng ra đường 21A là
nơi làm việc và hội họp chính của cán bộ Trạm. Hai dãy nhà cấp 4 đa dụng khác vừa
làm phòng làm việc vừa là nơi ở của cán bộ Trạm. Phía sau có bếp, nhà ăn tập thể
nhỏ và vài phòng cho cán bộ và hậu cần bếp. Có một vạt đất nhỏ trồng hoa, cây cảnh
trước nhà hội họp và nhà làm việc. Ba mặt của Trạm là những cánh đồng lúa xanh
thoáng mát.
Trạm có ao khá rộng, có thả cá, nước trong và khá
sâu. Có đoạn bờ ao xây bậc lên xuống ao rất tiện lợi khi tắm giặt. Cạnh bờ ao
là một giếng nước có xây 2 phòng tắm. Tắm ao xong có thể tráng nước giếng nếu cần.
Khi đó đang cuối thu nên tôi cũng đã từng bơi lội dưới ao với mấy anh em trong
Trạm.
Tôi và anh Đĩnh được bố trí ở cùng phòng anh Thìn,
lúc đầu 3 người, sau đó anh Thìn về trường thì phòng vẫn kê 3 giường đơn. Đây
là một phòng ở giữa dãy nhà làm việc phía trước, nhưng có lẽ người ta dùng để bố
trí phòng khi Trạm có khách. Trong phòng có kê một bàn nhỏ để giữa 2 giường cạnh
cửa sổ phía sau. Dãy nhà này có nhiều phòng: đầu hồi phòng anh Chiến, thợ lái
máy kéo, tiếp đến là phòng anh kĩ sư cơ khí quê xã Hải Ninh (không còn nhớ tên
anh) rồi đến phòng chúng tôi. Tiếp theo là phòng anh cán bộ vật tư, phòng anh
kĩ sư tốt nghiệp Đại học KT-KH phụ trách kế hoạch (tên Cư), quê xã Hải Phong và
tiếp đến một số phòng khác. Dãy nhà phía sau có phòng ăn tập thể (2 gian), một
gian kho. Các gian còn lại là phòng ở của chị cấp dưỡng (tên Tròn), các phòng
làm việc của cán bộ vật tư, kế toán và có cả phòng dành cho gia đình tập thể. Đa
số các anh chị đều ở gần nên chiều về nhà, tối chỉ còn mấy người ở lại.
4/ Cán bộ lãnh đạo Trạm Máy kéo Hải Hậu
Tôi vẫn còn nhớ Trạm trưởng là ông Thừa, ủy viên thường
vụ Đảng bộ huyện, khoảng gần 50 tuổi. Lúc này nhiệm vụ cơ giới hóa nông nghiệp
rất quan trọng nên lãnh đạo là cấp ủy thường vụ. Ông Thừa có một xe máy Honda
màu đỏ, hàng ngày đi làm, trưa ít khi ở lại vì nhà ông ở Thị trấn Yên Định. Hôm
chúng tôi về Trạm, ban đầu được gặp ông một lát, ông đọc qua giấy giới thiệu của
Tổng cục Trang bị Kĩ thuật thì gọi bác Phó Trạm giao việc bố trí ăn ở. Chỉ thế
thôi, ông không gặp lại chúng tôi lần nào, ngay cả khi chúng tôi về trường cũng
không gặp để chào ông. Trong kí ức tôi, ông là người mạnh mẽ, nói to, dứt
khoát, người vạm vỡ. Không rõ ông học ngành gì nhưng nhìn thấy ở ông một người quan
trọng đầy quyền lực – cái quyền toát ra khi ông đi lại, nói năng và cái uy thấy
rõ qua thái độ cán bộ nhân viên cấp dưới của ông. Phòng ông ở một phòng chái
nhà họp, cửa sổ rộng có trồng nhiều hoa, nhất là đầu mùa đông có hoa thược dược
nở những bông vàng rất to, sáng nào ông đến cũng tưới và ngắm nghía.
Một lần ông nói chuyện ở buổi họp như kiểu hội nghị
khách hàng với tất cả các HTX trong huyện. Buổi đó chúng tôi cũng được dự ngồi
nghe. Ông phát biểu rõ ràng, mạnh mẽ, thể hiện cam kết thực hiện kế hoạch làm đất
theo tiến độ canh tác của các HTX. Quan trọng là buổi trưa đó có bữa ăn liên
hoan ra trò: có thịt, cá rán, rượu… Chúng tôi ngồi mâm cùng anh em công nhân
thưởng thức bữa ăn sang trọng và nghe chuyện rôm rả quanh các bàn rượu. Tôi
nghe ông Thừa nói tết năm nào gia đình ông cũng lo được mấy quả nem thịt ngon
đón Tết đãi khách. Sau này tôi mới biết loại nem tai Hải Hậu nổi tiếng mà ông
nói hồi đó.
Bác phó Trạm (tôi chưa nhớ ra tên) chừng cỡ tuổi 55,
rất hiền lành, người cao gầy, hay cười. Tính tình điềm đạm ngược với tính bác
Thừa. Phòng bác phía đối diện phòng ông Thừa ở nhà điều hành. Có lẽ bác có quê
xa nhà nên không mấy khi thấy bác vắng mặt ở Trạm. Bác cũng gần gũi với anh em
cán bộ và nhân viên nên cũng thường thấy bác la cà các phòng, hút thuốc lào,
chuyện phiếm với mọi người. Tôi nhớ nhất các buổi sáng bác thường dậy rất sớm,
ra bờ ao ngắm cá. Cái ao may ô dài và quần đùi đứng bên ao bình thản và lặng lẽ.
Chắc bác đang nhớ nhà, nhớ con, cháu ở quê một cách kín đáo và an phận với chức
vụ công tác hiện hành chờ ngày về hưu ở quê nhà nào đó hưởng thú điền viên vườn
cây ao cá an nhàn tuổi già.
Nói chung cả 2 vị lãnh đạo đều không quan tâm gì với
chúng tôi về công việc thực tập ngoài việc bố trí ăn ở cho chúng tôi.
5. Một vài kỉ niệm về cán bộ và nhân viên Trạm
Tôi ghi chép thêm về một vài kỉ niệm của tôi trong
thời gian thực tập. Chuyện dưới đây phần lớn là của tôi, rất ít liên quan đến
anh Đĩnh. Lí do là khi thực tập ở Hải Hậu, anh Đĩnh có nhiều thời gian phải về với
vợ để giúp chị vì khi đó anh chị mới sinh cháu gái đầu lòng (tên Dương Hà
Phương). Vả lại phần số liệu cơ giới lớn ở Trạm Máy kéo đã rất đầy đủ nên anh
không phải đi các xã như tôi.
Trạm có 2 anh kĩ sư, một kĩ sư cơ khí học Bách Khoa
(nay không nhớ tên) và một anh tên Cư, kĩ sư kinh tế học Đại học KT-KH. Anh kĩ
sư cơ khí thì tôi không biết hỏi han gì về chuyên môn và anh cũng ít quan tâm
công việc của tôi. Nhưng anh nói chuyện rất dễ gần, luôn động viên khích lệ
chúng tôi. Còn anh Cư thì tôi có đến gặp anh một vài lần ở phòng làm việc và
cũng là phòng nghỉ ngay bên cạnh phòng tôi ở. Anh mở tủ lấy cuốn sổ tay ghi
chép ra trả lời những vấn đề tôi hỏi, nhưng nội dung cơ giới nhỏ thì anh không
có tư liệu gì, nhất là các định mức sản xuất và trang bị. Tuy vậy tôi thấy anh
rất nghiêm túc với những vấn đề tôi đặt ra và được anh trao đổi rất chu đáo.
Trong số anh em ngủ lại đêm ở Trạm tôi nhớ nhất anh
Chiến. Anh là thợ lái máy kéo giỏi cấp kiện tướng[2], được tỉnh cử về Trạm
như điển hình công tác. Tuy nhiên ở Trạm thì anh lại được phân công lái một đầu
máy có gắn rơ-moóc đi chở vật tư – có lẽ do anh có bằng lái đi trên đường. Anh
Chiến cũng rất quý tôi. Có lần đi chở hàng trên Nam Định, anh rủ tôi cùng ngồi
máy kéo lên tỉnh. Tuy tôi phải ngồi trên rơ-moóc (vì đầu máy kéo chỉ có 1 ghế) nhưng
rất thích vì được đi Nam Định và được nghe nhiều chuyện của anh. Khi về, xe qua
phà Lạc Quần, lúc đứng trên phà anh nói: “Làng kia là làng Quần Lạc – anh chỉ
tay vào làng gần đó, còn đây là phà Lạc Quần.” Bên này có một chợ quê tên là chợ
Lạc Quần. Vì thế có một vế đối từ hồi các cụ xa xưa cho đến nay vẫn chưa ai đối
được.” Anh nói vế đối thách thiên hạ có cái hay là vừa nghĩa đen vừa dân dã
hàm ý tiếu lâm: “Con gái Quần Lạc, đi chợ Lạc Quần, bán lạc mua quần, tối về
Quần Lạc.” Anh Chiến phân tích cái hay ở đây là kiểu chơi chữ lạc và
quần, nhất là thâm ý món quần lạc.
Anh Chiến là cây tếu táo. Anh nói quê anh Bình Lục,
trước anh cũng lái máy cày ở Bình Lục, nay chuyển về đây xa nhà nên ít được về.
Khi không đi công tác thì anh thường xuyên ăn cơm tập thể với chúng tôi. Cơm tập
thể thường chỉ có rau muống luộc và một bát tép kho hoặc cua đồng hay cáy kho rất
mặn và vài bát cơm. Tôi góp tiêu chuẩn vào bếp nên cùng ăn như mọi người. Hôm
nào có anh Chiến ăn cùng thì rất vui nhộn. Anh bảo chị cấp dưỡng: “Em Tròn rất
khéo đi chợ, chọn được toàn của cái béo tròn, ăn béo ngậy trong miệng,
trong cổ, bổ cho cả vợ lẫn con ở nhà”. Anh giỏi món “tiếu lâm” độc tấu hài.
Tôi còn nhớ vài câu hài của anh. Một lần ăn cơm chiều ở bếp tập thể, anh bảo: “Tròn
ơi chiếu cố cho anh thêm bát nước rau muống luộc.” Chị Tròn nghiêng nồi chắt
ra cho anh một bát, anh cầm bát nước rau cười rồi nói: “Một bát nước rau bằng
một thau philatốp, bằng 10 hộp B12, chỉ phải nuốt chẳng phải nhai mà bổ từ thai
đến xương sọ.”
Một lần khác ở quê mới lên, anh rủ tôi qua phòng uống
nước. Anh kể hôm về quê người ta mời anh lên sân khấu diễn trò nhân buổi liên
hoan văn nghệ nông thôn. Anh đọc tôi nghe bài tấu rất dài, tôi cười ngặt nghẽo.
Bài tấu nói về chuyện anh tả cô vợ nông thôn giỏi công việc nhưng hình dáng hạn
chế. Nay tôi chỉ còn nhớ một câu: “Vợ tôi da trắng mịn trắng màng trông như
tảng mật ong, đến nỗi mấy trăm con muỗi, con mòng nếu dám chạm vào thì chúng có
đến chín hàm răng cũng rụng tiệt!”
Anh rất hay trà và thuốc lào. Nhiều lần pha trà anh gọi
tôi sang uống. Anh tráng ấm nước nóng giòn, xong lấy trà từ lọ thủy tinh ra và làm
một thủ tục rất quan trọng: anh đổ trà khô từ lọ ra lòng bàn tay để như ước lượng,
rồi đổ nhanh trà từ bàn tay vào ấm đã tráng nước nóng. Anh bảo:“Chú ý nghe
nhé, reng, reng! Trà phải nghe rõ tiếng reng mới là trà ngon.” Sau đó mỗi
khi anh gọi tôi sang uống trà, anh nói là qua uống “trà reng”. Thuật ngữ
“trà reng” tôi cứ nhớ mãi và nay thủ tục tôi pha trà hàng ngày vẫn bắt chước
cách anh đổ trà ra lòng bàn tay như để ước lượng mức trà đủ uống và trút vào ấm
để nghe tiếng trà va vào thành ấm nghe reng, reng để nhớ mãi nụ cười về
cách pha trà của anh.
Còn chuyện hút thuốc lào anh dạy tôi thì nay đã “thất
truyền”. Các buổi tối, nhất là hồi mùa đông hơi lạnh, anh bảo mấy anh em
công nhân ra ngồi ngoài sân trước Xưởng cơ khí đang hoàn thiện rồi đốt một đống
lửa nhỏ. Mọi nhiều ngồi quanh đống lửa nói chuyện và hút thuốc lào suông. Chuyện
thì trên trời dưới biển do anh Chiến bày đặt không bao giờ hết năng lượng, cứ
trào lên các đợt cười vang trong đêm. Nhưng có một luật phải theo: khi điếu
quay vòng đến tay ai thì người đó phải hút, tất nhiên có thể khề khà đôi
chút. Có 5-6 người ngồi quanh thì đến lượt hút không khó gì lắm, vì khoảng thời
gian chờ đến lượt cũng vừa đủ sức để hút tiếp. Có vài ông hay chuyện, châm đóm cháy
mà chuyện thì cứ nói, đóm cháy vào tay chưa hết chuyện nên lại phải châm đóm mới.
Anh bảo ai ham chuyện để đóm cháy hết thì phải hút luôn hai điếu.
Ban đầu tôi cũng được gọi đến ngồi. Hồi đó lần đầu
tiên tôi tập hút thuốc lào. Anh dặn: “Cậu phải xì cái xái thuốc ra khỏi nõ
điếu rồi mới rít một hơi dài, mở cổ ra cho khói vào phổi, để im trong đó một lúc
rồi nhả ra từ từ để thẩm cái làn khói ấm đi qua khí quản ra miệng mới sướng”.
Tôi thử được vài vòng thì hoa mắt ho sặc sụa và đương nhiên bị loại ra khỏi chiếu
hút!
Anh cũng là người đầu tiên dạy tôi uống rượu. Hồi
sinh viên rất ít khi có rượu uống. Có liên hoan gì đó cũng chỉ đôi chén tí tẹo nên
coi như chưa biết uống rượu. Đi Hải Hậu nhiều hôm ngồi với anh Chiến buổi tối,
anh lấy bọc lạc rang sẵn và một chai “cuốc lủi” sủi tăm ra mời. Mấy anh em công
nhân buổi tối cùng nhau uống giải sầu. Ban đầu tôi cũng chưa dám uống, nhưng được
các anh khuyến khích, tôi uống được vài ly, rồi cứ thế uống được nhiều thêm.
Không đến nỗi say nhưng rõ ràng thấy chút hưng phấn và lại được khen biết uống.
Có thể nói đây là nơi tôi biết uống rượu và quan trọng nhất là biết khả năng uống
được khá nhiều mà không thấy say!
Anh Chiến là dạng công nhân tôi thích nhất, nói
được, làm được, luôn tràn đầy năng lượng khi cùng mọi người.
Hồi đó ở Trạm có anh Tỵ mới được biên chế về Trạm.
Anh quê xã Hải Phương, là công nhân kĩ thuật được học từ Bulgari về nước. Anh mới
từ châu Âu về nên có cái xe máy khá lạ, nghe nói xe của Balan. Anh cũng chăm chỉ
nên được các cán bộ ở Trạm quý mến. Anh Tỵ có cái cần câu đẹp thỉnh thoảng mang
ra cơ quan thả câu ở cái ao cá của Trạm – nhưng chủ yếu là khoe cái cần câu là
chính, chưa thấy giật được con cá nào.
Vào dịp cuối năm 1979, anh cưới vợ và có mời tôi ăn
cưới nhưng tôi không dám đi dự ăn cỗ vì anh Chiến nói ở xứ này chuyện mừng cưới
phức tạp lắm. Cô bạn gái chưa cưới nhưng được anh đưa đến cơ quan chào hết mọi
người. Khi ra khỏi phòng, cô ta có cách đi rất lạ như đi chéo qua cửa. Anh cán
bộ kĩ thuật ngồi trong phòng chờ cô gái đi khuất mới nói nhỏ: “Con gái vùng
này kín đáo và có ý lắm. Kiểu đi như vừa rồi là lối đi rất tinh tế: vừa hơi
khoe được sự “uốn éo” cần thiết lại vừa có ý che được khi cái quần mỏng lướt
qua cánh cửa có ánh sáng từ ngoài chiếu vào sẽ giữ được sự kín đáo nếu người ngồi
bên trong nhìn ra”. Lần đầu tiên tôi biết cái tinh tế của con gái xứ Nam này.
Một hôm tôi được anh Tỵ mời về nhà anh chơi. Anh dẫn
ra thăm vườn và tôi được biết cách thâm canh của người dân Hải Hậu. Anh chỉ tôi
cái móng xới đất và kể về chuyện anh sắp xong việc xới đất vườn năm nay. Móng
là công cụ có lẽ ít vùng có: một dạng cái mai nhỏ, dài có cái đạp chân. Lưỡi
móng dài khoảng 40cm hoặc hơn. Người dân dùng cây móng để đảo đất vườn sau một
vài năm trồng. Lớp đất trên bề mặt sau vài năm canh tác được lật xuống rất sâu
để đổi lên mặt một lớp đất mới: một kiểu lật đất triệt để trên-dưới làm
thay đổi độ màu mỡ và cải tạo nghiêm túc vườn trong kĩ thuật trồng cây ăn quả
vùng này.
Ở Trạm máy kéo gần nửa năm nên cũng có nhiều tình cảm
với các anh chị ở đây. Chị Lan kế toán nói ở đây rất ít việc nên rất hay lên
phòng chúng tôi nói chuyện với anh Đĩnh. Chị trạc tuổi anh Đĩnh, chưa có chồng
(kiểu hơi quá lứa) nhưng nói năng khéo và duyên. Anh Đĩnh lúc này mới sinh cháu
gái đầu lòng – cháu Phương Hà – nên cũng hay thích nói chuyện vợ con với chị
Lan. Chị Lan khen anh Đĩnh giỏi giang, vợ khéo chiều chồng ở nhà một mình nuôi
con cho chồng đi học. Nghe tên Đĩnh ban đầu cứ tưởng anh “đĩnh đạc”, nhưng nói
chuyện thấy anh dễ thương!
Chị Tròn cấp dưỡng là bộ đội được chuyển ngành về Trạm
nấu ăn. Chị quê có lẽ ở xa nên rất ít khi về, vả lại bếp tập thể khi nào cũng
có người ăn, kể cả ngày nghỉ. Bác Trạm phó ăn cơm tập thể đủ 30 ngày trong
tháng, tôi thấy rất ít khi bác về nhà hay đi đâu đó. Hơn nữa có một số anh em
công nhân đang xây lắp ở xưởng ăn cơm ở bếp này. Các buổi trưa thì đông người
ăn vì chiều có nhiều người về nhà. Hồi đó cơm tập thể quá đơn giản, gạo 13kg và
mấy hào tiêu chuẩn nấu có lẽ rất khó nên thức ăn thường chỉ rau và tép, cua đồng
hay cáy kho mặn, không bao giờ có thịt. Cơm thì rất ít nên ăn thêm rau, bữa nào
cũng một đĩa rau rất to. Chị Tròn nấu cơm chu đáo, ngon miệng, hàng ngày đi chợ
nấu toàn món quê nhà dân dã.
Bên cửa sổ phòng tôi ở dãy phía sau có một hộ gia
đình. Anh chị đều là công nhân nước ngoài về. Anh đang công tác đâu đó nên cứ
cuối tuần mới đạp xe về. Chị làm vật tư của Trạm kiêm trông kho. Anh chị có bé
gái chừng 3 tuổi rất hay lên chơi với tôi. Nó ca hát suốt ngày. Vì nó không đi
mẫu giáo nên mẹ nó dạy nó hát. Bài hát nó
thích là “Em yêu trường em[3]”.
Gần như suốt ngày nghêu ngao: “Em yêu trường em, có cô giáo hiền…” Có một
câu nó luôn hát sai: “Cả tiếng chim vui trên cành cây cao, Cả lá cờ sao trong nắng
thu vàng” thì
nó hát thành “…cả lá cờ sao cho nắc thu vào.” Vì nó còn bé chưa biết chữ
nên tôi giải thích và sửa cho nó mà nó vẫn không chịu, cứ “cho nắc thu vào…”
Hồi đó ở Trạm Máy kéo đang hoàn thiện nên có một tốp
thợ xây lắp làm việc. Trong toán thợ có một cô bé thợ hàn còn rất trẻ. Cô học
xong lớp 7 thì đi công nhân và học nghề hàn. Cô được cử xuống Trạm để công tác
mấy tháng, cơ quan gửi cô ngủ ở phòng chị Tròn cấp dưỡng. Một cô bé khoảng
18-19 tuổi, người thấp nhưng khá mập mạp, da trắng, dân thành Nam Định hay nói
hay cười. Hàng ngày cô bé đeo cái kính hàn và cầm cái tấm che mặt to tướng, áo
quần công nhân ra xưởng lê la ngồi hàn. Tôi hay ra xem tốp thợ làm việc. Mỗi
khi cô bé nghỉ hàn thì mở kính ra, đôi má đỏ au vì nóng, mặt trắng hồng lấm tấm
mồ hôi trông rất dễ thương. Có vài lần cô rủ tôi đi xem văn nghệ gì đó tổ chức ở
Nhà Văn hóa huyện cách Trạm chừng 2km. Tôi và cô bé thợ hàn rất quý nhau, cũng
khá thân mật nhưng chỉ một thời gian ngắn thì cô hết việc nên chuyển đi nơi
khác. Tôi vẫn nhớ có đêm đi xem hát về, hai đứa đi bộ dọc đường ven sông Múc vắng
vẻ nói chuyện linh tinh, cô bé cũng có ước mơ được đi học nhưng không có điều
kiện nên có vẻ quý những người đi học như tôi. Chuyện nay nhớ lại mà tôi lại
quên mất tên cô bé thợ hàn, thật là đáng xấu hổ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét