6/ Công việc thực tập
6.1 Thu thập số liệu
Giáo viên hướng dẫn là thầy Quý không nêu nội dung cụ
thể gì cần phải làm nên tôi và anh Đĩnh phải chọn cho mình nội dung nghiên cứu.
Về định hướng chung thì anh Đĩnh chọn nội dung cơ giới lớn, còn tôi là cơ giới
nhỏ.
Công việc cơ giới lớn lúc bấy giờ là do Trạm Máy kéo
quyết định gồm việc dùng máy kéo lớn để làm đất, vận chuyển. Ngoài ra còn có
các trạm bơm tưới tiêu lớn tại huyện Hải Hậu. Tuy nhiên khi thực hiện sau này thì
anh Đĩnh chỉ tập trung vào 2 việc lớn là làm đất và vận chuyển bằng máy kéo, chủ
yếu bằng máy kéo MTZ của Liên Xô. Số liệu sử dụng cho đề tài phần anh Đĩnh thì ở
Trạm Máy kéo đã rất đầy đủ. Toàn bộ kế hoạch năm 1979 đã có sẵn trong các hợp đồng
giữa Trạm và tất cả các HTX trong huyện, còn kế hoạch năm 1980 thì cũng đã có
vì Trạm vừa tổ chức hội nghị khách hàng với các HTX.
Nội dung cơ giới nhỏ thì không có nhiều số liệu trên
huyện. Nhờ lần đi thực tế của KT20 hồi tháng 6, chúng tôi có được số liệu thống
kê về các máy móc cơ giới nhỏ toàn huyện. Tuy nhiên số liệu này cũng có vài thay
đổi vì một số trang bị thêm đôi khi chưa cập nhật. Vì thế tôi thấy cần phải đi
thêm một số HTX để bổ sung tình hình đến cuối năm 1979.
Những tháng đầu tôi quan niệm cơ giới nhỏ gồm các
máy móc sử dụng động cơ nổ chủ yếu là động cơ D12 (công suất 12 mã lực) do nhà
máy cơ khí Trần Hưng Đạo sản xuất. Bao gồm động cơ sử dụng đa dụng các công việc
trong HTX như lồng đất (ở những nơi máy kéo lớn không vào được hoặc các đầu bờ
thửa), bơm nước tưới tiêu, tuốt đập, xay xát và vận chuyển. Tuy nhiên khi đi đến
các HTX tôi thấy một số nơi còn dùng điện để sản xuất như xã Hải Bắc có máy dệt
khăn mặt thủ công kiêm bán cơ khí, hay một số xã có máy xát gạo dùng điện chứ
không chỉ dùng máy nổ.
Khoảng 2 tháng đầu tôi đi đến nhiều HTX. Đầu tiên là
đến các HTX gần huyện như Hải Thanh (sát chợ Yên Định), Hải Bắc, Hải Trung, Hải
Hưng, Hải Phương (nơi anh Tường thực tập) và Hải Đường (nơi Giang thực tập).
Các HTX này cơ bản cũng đã có số liệu từ lần đi thực tế trước nên tôi cơ bản chỉ
kiểm tra việc trang bị và hỏi về những vấn đề về sử dụng như tình trạng hư hỏng,
công việc sửa chữa tại HTX, nhân lực sử dụng, chất lượng công việc sử dụng máy…
Vì do không có chuyên môn kĩ thuật về cơ khí nên tôi cũng chỉ gặp được vài cán
bộ để hỏi chung chung và cũng không thu lượm được gì lớn. Tuy nhiên nhờ có đi đến
các HTX tôi phát hiện ra nhiều điều mới:
- Ở Hải Phương, lần đầu tiên
tôi biết máy bơm nước trục đứng: loại máy bơm này kết nối với động cơ D12 được
đặt trên các thuyền nhỏ. Người ta chèo thuyền đến các khu vực cần tưới thì dừng
thuyền để bơm nước từ kênh lên ruộng. Vì bơm ngay sát ruộng nên máy bơm trục đứng
hút nước từ kênh và đẩy qua một ống sắt cong chừng dưới 1m đổ vào ruộng mà
không cần các ống cao su như ở các trạm bơm khi có độ cao chênh lệch lớn. Các
máy bơm này rất cơ động khi xử lý kịp thời công việc tưới ở các HTX.
- Ở Hải Bắc, tôi thấy các máy
dệt cơ khí dùng điện. Vì ở Hải Hậu lúc đó tất cả các HTX đều có điện, người ta
cải tiến máy dệt thủ công thành máy dệt có mô tơ điện rất hiệu quả. Tuy nhiên nội
dung này tôi chỉ nêu được số lượng máy ở HTX chứ không đặt thành nội dung cho đề
tài.
- Ở Hải Hưng, Hải Phương tôi phát
hiện ra công việc quan trọng: người ta dùng máy công nông nhỏ sử dụng để kéo đá
trên sân kho khi gặt lúa về. Lúa mới gặt được rải ra sân kho một lớp dày hình
tròn, sau đó dùng máy công nông D12 kéo 2 hoặc 3 viên đá tròn. Các viên đá này
được đóng vào một khuôn gỗ nối với đầu kéo. Người lái công nông lôi theo dàn đá
để hạt thóc tách khỏi rơm, sau đó giũ rơm lấy thóc. Máy kéo nhỏ có 2 bánh lốp
kéo theo 2 hoặc 3 viên đá nên chỉ đi 1-2 vòng là xong cho cả một sân lớn. Đây
là kiểu cải tiến rất thông minh, đơn giản mà năng suất còn hơn dùng máy tuốt cố
định. Tất nhiên ở các HTX đều có máy tuốt lúa gắn với máy nổ cố định.
Riêng về trang bị tôi nhận thấy không có nhiều thay
đổi so với số liệu mà sinh viên đã thu thập hồi tháng 6 nên tôi quyết định không
đi thêm các HTX. Vả lại hồi đó không có chuyện mua sắm tự do mà cơ bản đều được
phân phối qua cơ quan vật tư huyện. Còn hỏi về các vấn đề kĩ thuật thì tôi
không sâu về chuyên môn nên chẳng qua cũng chỉ sơ sơ khi nghe cán bộ kĩ thuật
HTX mô tả những khó khăn như thiếu phụ tùng thay thế, không có cơ sở sửa chữa chuyên
nghiệp, trình độ cán bộ cơ khí được đào tạo ngắn hạn… Đại loại thế.
Sau khi đến các HTX trên tôi còn được biết thêm về
phong cảnh và hoạt động nông nghiệp. Tôi cũng tranh thủ thăm thú thắng cảnh như
đến xã Hải Anh thăm cây cầu ngói cổ rất đẹp. Ngắm phong cảnh nông thôn: đồng ruộng,
làng xóm, kênh mương tưới tiêu, bờ kênh là những đường đi rất đẹp trong nông
thôn…
6.2 Về trường báo cáo tình hình
Cuối tháng 9, tôi bàn với anh Đĩnh về trường gặp thầy
Quý bàn bạc về tình hình đề tài và xin ý kiến thầy về nội dung công việc tiếp
theo. Khi gặp, thầy Quý cơ bản không góp ý gì về những nội dung chúng tôi đã
thu thập và tình hình nắm được. Tuy nhiên thầy Quý gợi ý chúng tôi nên qua gặp
anh Long bên Bộ Nông nghiệp để xin thêm ý kiến.
Tôi và anh Đĩnh qua gặp anh Long, anh khá bận nên chỉ
tiếp chúng tôi được một lúc, cho mượn thêm vài tài liệu mới về đánh giá chương
trình cơ giới toàn quốc. Ở Hải Hậu thì anh cũng không có chỉ đạo gì vì cơ bản Bộ
cũng đã nắm biết được tình hình rồi. Tôi hỏi anh về kinh nghiệm đánh giá cơ giới
nhỏ địa phương, anh bảo tôi: “Tổng cục không quan tâm nhiều về cơ giới nhỏ
nên tôi cũng không có tư liệu. Nhưng có một anh tên Bích, cơ quan ở phường Phương
Mai, đã nghiên cứu vấn đề này. Nếu cần thì em nên đến đấy hỏi thêm.” Hôm
sau, anh Đĩnh có việc về quê, còn tôi tìm đến gặp anh Bích.
Anh Bích, khoảng gần 50 tuổi, là kĩ sư kinh tế Đại học
KT-KH lúc đó đang ở Bộ phận quy hoạch thiết kế nông nghiệp (sau này là Viện Quy
hoạch Thiết kế nông nghiệp). Anh niềm nở đón tôi trong gian nhà cấp 4 nơi anh
làm việc, cho tôi mượn một số tài liệu nhưng anh cũng đề nghị tôi cung cấp cho
anh những số liệu tôi thu thập được ở Hải Hậu. Nhờ tài liệu của anh Bích mà tôi
có thêm một số kiến thức về trang bị cơ giới nhỏ. Các tài liệu anh cho mượn tôi
đã hoàn trả đầy đủ khi đi thực tập về cùng với việc trao toàn bộ số liệu tôi
thu thập được về cơ giới nhỏ ở Hải Hậu cho anh. Có một chi tiết tôi còn rất nhớ:
Hồi trước khi đi thực tập tốt nghiệp, một hôm tôi ghé thăm Bách hóa Trâu Quỳ thấy
có bày một cái cặp cán bộ giả da màu đen rất đẹp, có 2 khóa ấn vào hai túi trước.
Tôi hỏi mua họ nói chưa có giá bán. Mấy hôm sau tôi lại đến ngắm và xin được
xem. Cô bán hàng nói đây là hàng mẫu, không bán. Nếu có giấy giới thiệu thì có
thể bán hạn chế. Tôi lấy giấy giới thiệu cán bộ Tổng cục Trang bị kĩ thuật đi
công tác Hải Hậu cho cô xem, cô ấy băn khoăn một hồi rồi bán cho tôi. Tôi quý
cái cặp này lắm. Khi về Hải Hậu tôi đã nhờ anh công nhân cơ khí gia cố thêm một
cái nẹp sắt dưới tay xách để khi cặp có đựng vật nặng thì bảo đảm không bị biến
dạng. Hôm về Hà Nội tôi có mang theo cái cặp này. Anh Bích khen: “Ái chà, cậu
có cái cặp cán bộ oách quá, bọn tớ ở đây mơ ước mà cũng không mua được!”
Cái cặp đó có giá 32 đồng (tức là gần bằng 2 tháng học bổng học sinh 18đ/tháng),
vậy tôi đã dám liều “tậu” được một vật quý giá từ khi đang còn đi học.
Lúc trở về Hải Hậu, thầy Quý bảo tôi đi cùng thầy Đinh
Văn Đãn. Thầy Đãn được bộ môn cử đi kiểm tra tình hình công việc thực tập của
sinh viên ở Hà Nam Ninh. Thầy Đãn có xe đạp nên tôi và thầy sang Hà Nội rồi đi
tàu về Ninh Bình. Từ Ninh Bình thầy Đãn đèo tôi về Yên Khánh – quê vợ thầy. Buổi
trưa ăn cơm với gia đình bên vợ thầy. Ông bố và gia đình bên vợ đặc biệt chu
đáo, quý thầy ra trò nên tôi cũng được đãi bữa ăn rất cao cấp, chân tình. Chiều
hôm đó thầy Đãn đưa tôi về nhà thầy, hình như cũng Yên Khánh hay Yên Mô gì đó.
Nhà thầy chỉ có một mẹ chừng khoảng 60 tuổi nhưng còn khỏe mạnh. Ngôi nhà tranh
đơn sơ với cái sân đất nhỏ. Hồi đó đang có mưa nên bà nói nhà còn mấy ruộng lạc
chưa kịp thu hoạch, rất lo lạc bị ngập nước hỏng mất. Thế là sáng sớm hôm sau
tôi và thầy Đãn đi nhổ lạc cho bà. Nhổ từ sáng sớm tinh mơ đến trưa thì cơ bản
xong, bốc hết lạc từ những ruộng đang xấp nước lên bờ và gánh về nhà cho bà
phơi. Buổi chiều thầy Đãn đèo tôi về Hải Hậu, cách khoảng hơn 30km.
Ở Hải Hậu, tôi cũng không biết thầy Đãn đã đi kiểm
tra những điểm thực tập nào, có đến chỗ anh Tường và Giang không?
6.3 Tiếp tục thu thập thông tin các xã mới
Sau khi lên trường báo cáo về, tôi thấy tình hình
giao đề tài không rõ ràng gì cả. Thầy Quý có ý là chúng tôi xem bên Tổng cục
Trang bị kĩ thuật muốn gì, nhưng anh Long có vẻ không quan tâm lắm. Thế là tôi
bàn với anh Đĩnh tự sắp xếp nội dung đề tài nghiên cứu.
Anh Đĩnh về quê mãi sau hơn 1 tháng mới trở lại Hải
Hậu nên trong lúc ở một mình tôi đã có chuyến đi đến 2 xã phía nam huyện là xã
Trực Cường và xã Hải Thịnh. Chuyến đi này phần nhiều là muốn thăm 1 xã vùng Trực[1]
và một xã miền biển để xem có gì thêm cho công việc đề tài. Tôi mượn xe đạp của
Giang và một mình đến các xã này.
Tại Trực Cường, tôi đến HTX được tiếp với tư cách
cán bộ Bộ Nông nghiệp như giấy giới thiệu. Tuy nhiên nội dung trao đổi của tôi
quá đơn giản, HTX lại không được huyện thông báo đón tiếp nên người ta cho rằng
tôi đi nghiên cứu cá nhân. Họ trao đổi ngắn gọn với tôi và gửi tôi cho bác bảo
vệ HTX lo cơm nước và nghỉ qua đêm. Tôi nhớ các buổi ăn cơm cùng bác bảo vệ,
bao giờ bác cũng bảo: “Chú làm dấu thánh giá đi rồi ăn.” Tôi bắt chước
ông lấy tay làm dấu. Đây là vùng công giáo toàn tòng. Tôi không thu hoạch được
gì đáng kể về chuyên môn nhưng có may mắn là được thăm nhà thờ đẹp ở Trực Phú[2]
gần đó.
Hải Thịnh là một xã lớn, có bãi cát dài và dải phi
lao sát biển rất đẹp (nay là khu du lịch Thịnh Long). Tôi cũng với tư cách cán
bộ Bộ Nông nghiệp công tác được tiếp đón và trao đổi công việc. Sau đó được HTX
bố trí ở trong một gia đình bác dân chài quê biển rất khỏe mạnh. Tôi ngủ lại nhà
bác một đêm, bác rất chu đáo lo cơm nước, được ăn cùng gia đình bác. Tôi nhớ
bác có vườn chấp[3] quả rất to nhiều nước. Bác
bảo vùng đất này rất hợp với cây chấp nên nhà nào cũng trồng nhiều cây trong vườn.
Tuy nhiên chấp khó bán vì ít người mua nên chỉ làm bột chấp thôi, nay chắc
không còn ai trồng chấp vùng này (?) Buổi chiều tôi ra thăm biển thấy trong các
rặng phi lao có những khẩu pháo vươn nòng ra biển. Bác bảo tôi đó là pháo của
dân quân xã bảo vệ bờ biển.
Qua chuyến đi Hải Thịnh tôi có được một vài thu hoạch
về chuyên môn: Vùng khí hậu ven biển có không khí nhiễm mặn nên máy móc hư hỏng
nhanh, chi phí bảo quản sửa chữa tốn kém. Định mức chi phí lồng đất bằng cơ khí
lớn vùng ven điển cao hơn vùng trong đồng. (Điều này tôi đã trao đổi với anh
Đĩnh vì anh làm đề tài này). Đất màu ven biển pha cát nên có thể làm bằng công
cụ thủ công, không cần công cụ cơ khí. Ruộng lúa ở đây phải ngăn mặn nên hệ thống
tưới và tiêu nước khá hoàn chỉnh, đa số các cống, kênh và bơm cố định được đầu
tư hoàn chỉnh, hoạt động rất tốt.
6.4 Bắt tay viết nội dung đề tài
Vì không được giao tên đề tài cụ thể nên tôi viết
trước phần Tình hình trang bị cơ giới nhỏ ở huyện Hải Hậu. Cơ bản số liệu
đã có qua thu thập của các nhóm sinh viên chuyến đi tháng 6 cộng với số liệu thu
thập của huyện nên tôi nhanh chóng nháp xong phần này, dài gần 30 trang. Đại loại
là tình hình trang bị chung (theo loại máy), sau đó chia theo các HTX và chia
theo 4 tiểu vùng sinh thái của huyện. Trên cơ sở diện tích đất nông nghiệp, đất
canh tác, đất lúa… đã thu thập được nên tôi đã tổng hợp cơ bản được thành số liệu
phân tích để đánh giá mức trang bị theo tiểu vùng, theo HTX. Các máy móc cơ giới
nhỏ căn cứ theo các báo cáo của Bộ Nông nghiệp được chia thành nhóm, gồm nhóm làm
đất, vận chuyển, bơm nước, tuốt đập và xay xát. Các máy móc cơ khí có liên
quan khác như máy dệt thì có đề cập ở mục tổng trang bị nhưng về đánh giá thì tôi
lờ đi vì các nội dung nghiên cứu chủ yếu cho ngành sản xuất nông nghiệp.
Khi anh Đĩnh quay xuống Trạm Máy kéo thì tôi đã viết
được hơn 40 trang nháp gồm phần Mở đầu và phần Tình hình trang bị.
Anh thấy tôi viết được nhiều nên có vẻ hoang mang. Tôi bảo anh có số liệu rất đầy
đủ về cơ giới lớn thì chỉ việc lập ra các bảng rồi đánh giá. Anh xem phần tôi
viết để tham khảo đề cương và có vẻ sốt ruột khi thấy tôi đã làm được nhiều mà
anh chưa viết gì.
Phần đề tài còn lại sẽ là gì là vấn đề tôi băn khoăn
lắm. Suy đi tính lại tôi bàn với anh Đĩnh là nên làm theo hướng xây dựng kế
hoạch trang bị. Hai anh em sẽ trên cơ sở đánh giá tình hình để đề xuất xây
dựng kế hoạch trang bị cơ giới cho chuyện. Anh Đĩnh đồng ý và anh bắt tay vào sắp
xếp số liệu qua các báo cáo trang bị và kế hoạch khách hàng năm 1980 vừa họp giữa
trạm với các HTX để xây dựng kế hoạch.
Có một mục thuộc hoạt động cơ giới làm các trạm thủy
nông và hệ thống cống điều chỉnh tưới tiêu của huyện. Khi anh Đĩnh về quê, tôi có
đến làm việc với trạm Thủy nông huyện và được biết ở đây người ta đã có hệ thống
tưới tiêu rất hoàn chỉnh. Nào là các thời điểm ngăn mặn, đóng mở cống lấy nước
tiêu nước, vận hành các trạm bơm… Tuy nhiên tôi bàn việc này với anh Đĩnh xem
nên có đưa vào nội dung cơ giới lớn của anh không thì anh cũng lảng tránh vì
anh không đi thực tế thủy nông. Tôi chỉ quan tâm đến diện tích được tưới tiêu
chủ động bằng hệ thống cơ giới lớn, phần còn lại của diện tích không được tưới
chủ động thì tôi tính trang bị cơ giới nhỏ.
Xây dựng kế hoạch cơ giới nhỏ có nội dung rất khó là
định mức trang bị. Tôi thu thập định mức trang bị qua các báo cáo của Bộ
Nông nghiệp và đã tập hợp được định mức khối lượng vận chuyển phân bón, lúa từ
ruộng về sân kho theo ước lượng khối lượng công việc của máy để tính số lượng
trang bị. Định mức xay xát thì cơ bản theo số khẩu ăn và lương thực/khẩu trong
năm. Cái khó nhất vẫn là định mức tưới tiêu vì nó liên quan đến diện tích tưới,
số lần tưới, mức độ tưới ngập bao nhiêu mỗi lần tưới, kết hợp với thủy lợi lớn
và lượng nước mưa tự nhiên. Toàn bộ phần trang bị cơ giới nhỏ của tôi gặp khó khăn
nhất ở nội dung này.
Tuy nhiên sau khi nắm được diện tích cần tưới của cơ
giới nhỏ, tôi đã hỏi thêm được nhiều nội dung về lần tưới, mức tưới để từ đó
xác định được số lượng máy bơm cố định, máy bơm di động cho từng HTX rất cụ thể.
Sau này Hội đồng đánh giá tốt nghiệp xoáy hỏi tôi nhiều câu hỏi khó nhưng tôi
trả lời lưu loát, được hội đồng, trong đó quan trọng nhất là thầy Sắc, thầy Liễm,
cô Thanh đánh giá cao đề tài tôi về khả năng tính toán và hiểu biết sâu thực tiễn.
Tôi sẽ có thêm ghi chép về phần thi tốt nghiệp.
7. Những kỉ niệm với người cùng lớp đi thực tập
Tôi muốn có thêm phần ghi chép này vì chúng tôi có khá nhiều thời gian cùng ở Hải Hậu và cũng có nhiều kỉ niệm đáng nhớ. Có thời gian ở gần những người bạn, người anh cùng lớp, nay ngẫm nghĩ lại mới thấy đó là thời gian hạnh phúc, vì luôn có những người quan tâm và giúp đỡ mình.
7.1 Với anh Dương Ngọc Đĩnh
Khi ở trường, tôi và anh Dương Ngọc Đĩnh rất ít khi
nói chuyện với nhau vì anh thuộc nhóm các anh lớn tuổi hơn, lại ở tổ khác (tôi ở
phòng Tổ 1 còn anh ở phòng Tổ 2). Anh Đĩnh có vẻ thân với anh Chiến, anh Trí trong
Tổ 2 hơn cả. Quê anh ở Yên Mỹ gần trường nên các năm cuối có lẽ anh ít khi ngủ
lại ở phòng KTX.
Tôi cùng thực tập với anh Đĩnh ở Hải Hậu, nhưng thực
ra cũng không có nhiều kỉ niệm với anh Đĩnh lắm. Lí do chính là anh cũng ít ở
Trạm Máy kéo. Thời gian thực tập cơ bản không có ai quản lí, giáo viên hướng dẫn
thì không xuống thăm lần nào. Anh Đĩnh khi đó vừa sinh cháu nhỏ nên lo giúp vợ
nuôi con. Anh lại đang có nhiều việc ở quê Yên Mỹ, Hải Hưng (nơi anh Khang và
anh Hợp thực tập tốt nghiệp ở đây). Mỗi lần xuống Hải Hậu, tôi thấy anh kể nhiều
chuyện phức tạp ở quê mà anh phải giải quyết, đại loại là những việc anh đã có
cách xử lí riêng anh. Anh kể về từng việc đã được giải quyết như nhà đất, ruộng
vườn… rất hứng thú nhưng chi li và dài dòng. Còn tôi thì vì nể mà nghe anh kể
nhưng thực sự không thấy thích thú lắm.
Tính anh Đĩnh rất ưa hình thức, anh có đến mấy cái
kính dâm Đức đẹp hay lấy ra khoe với tôi. Hồi đó anh cũng ưu ái để lại (giá rẻ)
cho tôi một cái kính Đức gọng trắng. Cái gọng trắng sau này tôi đeo bị mọi người
chê không hợp với khuôn mặt đen và gầy của tôi nên khi đi bộ đội tôi đã cho người
khác. Áo quần anh Đĩnh cũng nhiều và khá chỉn chu, sạch sẽ. Anh cũng thích những
thứ mà nhờ đi với anh tôi mới được trải nghiệm. Chẳng hạn, lần tôi với anh về
Hà Nội, 2 anh em nghỉ một đêm ở nhà anh trai tôi. Chiều tối anh rủ tôi đi bộ
xem phim ở rạp chiếu phim Chợ Mơ. Nhờ anh rủ mà lần đầu tiên tôi được đi xem
phim rạp ở Hà Nội. Một lần khác, lúc sắp cuối năm anh rủ tôi đi chụp ảnh ở một hiệu
ảnh phố Đông Biên. Cho đến nay tôi vẫn còn giữ được tấm ảnh này và vẫn còn nét
bút anh ghi phía sau: “Nhớ mãi người Đoàn phó ngày thực tập Hải Hậu.” (Vì
hồi đó, trên giấy giới thiệu của Tổng cục Trang bị kĩ thuật Bộ Nông nghiệp có
tên 2 chúng tôi, nhưng ghi rõ anh Đĩnh là Đoàn trưởng).
Tôi rất ấn tượng với cách nói chuyện của anh. Anh nói chuyện với tôi hoặc với nhiều người khác, tôi thấy anh có lối nói khá giống nhau. Khi một ai đó nói ra lời bình hoặc một câu hỏi, anh luôn hỏi lại hoặc nhắc lại câu nói đó. Ban đầu tôi thấy lạ, nghĩ rằng hình như anh không kịp nghe chăng. Nhưng thực ra đó là cách để anh có thời gian suy nghĩ để phản ứng lại với người nói. Không bao giờ tôi thấy anh trả lời ngay dù là câu hỏi đơn giản nhất. Tôi nghĩ đó cũng là một cách hay vì anh không bao giờ bị động hoặc vội vàng phản ứng để hớ hênh khi nói chuyện. Có thể đó là cách nói là khôn ngoan của người từng trải. Hoặc khi từng ở chiến trường, anh đã học được cách nói chuyện này để chắc chắn anh sẽ không bao giờ quên khi nhận mệnh lệnh chiến đấu hoặc nhiệm vụ được giao từ cấp trên. Tuy nhiên tôi biết tôi không thể bắt chước theo kinh nghiệm của anh được.
Hồi làm đề tài tốt nghiệp, anh đùa rằng trong nội
dung đề tài thì ai cũng có một vài con số bịa đặt và anh gọi là “hệ số phịa”
nhưng sau anh bảo để cho có vẻ khoa học, ta gọi là “hệ số phi-a.” Một
hôm anh bảo tôi: “Ảnh này, các tính toán phần tổng hợp rất chi tiết của Ảnh
là tính toán thật hay là ‘hệ số phi-a’ thế?”
Tôi còn gặp anh nhiều lần sau này. Trước khi ra
quân, tôi có về trường gặp anh Hợp và anh Đĩnh. Khi đó anh Hợp làm việc ở Phòng
Tài vụ, anh Đĩnh làm việc ở Phòng Tổ chức. Nhờ gặp gỡ các anh mà khi trở lại
QK9, tôi có mang theo được 2 giấy tiếp nhận công tác: một là giấy tiếp
nhận của Ban Tổ chức chính quyền tỉnh Thanh Hóa (nhờ anh Khang xin để ra quân thì
chuyển về Sở Nông nghiệp Thanh Hóa) và hai là giấy tiếp nhận của ĐHNN I
(anh Hợp và anh Đĩnh cho rằng tôi cứ chuyển về trường rồi nhà trường sẽ phân
công công tác theo chỉ tiêu của Bộ Nông nghiệp). Sau này tôi cân nhắc sử dụng
giấy tiếp nhận của ĐHNN I để làm thủ tục ra quân. May thay thời đó tình cờ gặp
thầy Trần Đình Đằng, thầy bảo tôi nên chuyển về công tác ở Khoa Kinh tế Nông
nghiệp. Một nhân duyên để tôi trở thành giảng viên của Trường.
Tôi về trường một thời gian ngắn thì anh Đĩnh chuyển
công tác sang Công ty Bông Trung ương (nơi Nguyễn Đình Chiến công tác) và sau
đó anh vào công tác phía Nam. Những lần gặp mặt lớp KT20 tôi không thấy anh về
dự. Anh định cư ở Sài Gòn và anh bị bệnh trọng mất tại Sài Gòn khi tuổi còn khá
trẻ, chắc gần 60 gì đó. Nghe nói Giang và một số anh em ở Sài Gòn có gặp anh và
gia đình anh khi anh chuyển về công tác ở một công ty bảo hiểm nước ngoài.
7.2 Với Trần Hữu Giang thực tập ở xã Hải Đường
Trần Hữu Giang thực tập ở Hải Đường được HTX quan
tâm rất chu đáo. Người ta bố trí Giang ở nhà gia đình bác nông dân tên Chư (tên
bác là Giang nhớ lại). Tôi đến thăm nhà bác để gặp Giang mấy lần, có khi đi bộ
xuống chơi hoặc đến mượn xe đạp của Giang để đi đến các HTX. Cũng có vài lần
Giang lên chỗ Trạm Máy kéo chơi với tôi, thường đi cùng với anh Tường.
Tôi không rõ thầy Đinh Văn Hiến hướng dẫn Giang làm
về nội dung gì ở HTX Hải Đường. Có lần hỏi về trang bị cơ giới nhỏ ở HTX thì
Giang bảo chẳng có gì nhiều, vẫn như số liệu lần trước anh em
sinh viên đã thu thập gửi cho đoàn thôi.
Tôi rất thích nhà bác Chư mà Giang được bố trí ở trong
thời gian thực tập. Có một ngõ nhỏ vào nhà bác, đầu ngõ có một cái ao nuôi cá
khá to ngay sát nhà. Bờ ao trồng nhiều cây râm mát. Ngôi nhà ngói có một sân rộng
vừa phải, kiểu nhà có trần hiên và một cái bể nước mưa to ngay cạnh nhà phía
sát ao. Bên trong nhà gọn gàng, sạch sẽ. Giang được bố trí nằm ở gian cạnh buồng
chái bên phải. Phía trước giường còn có chỗ kê bộ bàn ghế uống nước. Tôi thấy
Giang xếp một số sách vở cạnh bàn, chắc là nơi Giang đọc sách và viết đề tài.
Bác Chư hiền lành, vui vẻ nhưng tôi đến chỉ chào Bác
rồi vào nói chuyện với Giang, không có điều kiện hỏi han gia đình bác. Nghe nói
HTX có hỗ trợ lương thực cho Giang và Giang được bác Chư nấu cơm ăn chung với
gia đình rất tình cảm. Nhà bác có một nam thanh niên kém Giang vài tuổi rất hợp
tính, nghe nói cùng đi câu, đi chơi quanh làng. Giang cũng có đôi lần lên huyện
chơi nhưng nhìn chung rất ít di chuyển đến các xã khác. Chắc thời gian thực tập
ở đây Giang cũng có lần về thăm nhà vì Giang có xe đạp và quãng đường về nhà cũng
chỉ gần 50km. Nói chung Giang được số tốt may mắn thực tập ở đây, không phải đi
lại nhiều như tôi và được gia đình bác chủ nhà cũng như HTX hỗ trợ ăn nghỉ chu
đáo. Không biết sau này Giang có dịp nào về lại thăm nhà bác Chư không? Nhưng tôi
nghĩ tình cảm của Giang với gia đình bác thì chắc chắn khó quên.
Một lần đến gặp bác ở cạnh bờ ao, tôi hỏi bác về cá
nuôi trong ao. Bác nói có cá mè, cá chép là chính. Tôi còn được nghe bác Chư
nói là cá mè ao có thể chế biến thành món gỏi[4]
rất ngon. Bác nói về cách chọn cá mè làm gỏi phải là con vừa phải, không quá
to. Đặc biệt gỏi ngon phải là cá tươi mới bắt từ ao lên. Thậm chí đồ làm gỏi
còn phải chuẩn bị sẵn để chế biến ngay khi bắt cá lên. Món gỏi cá phải biết
thái lớp để cá mè dù rất nhiều xương nhưng vẫn có thanh cá nạc, ăn không gặp xương.
Món chẻo thì phải biết pha đủ độ sánh và đặc. Bột gạo rang xay mịn, rau sống dứt
khoát phải có lá sung, quả sung bánh tẻ… Đại loại tôi còn nhớ bác nói nhưng
chưa từng thấy ai chế biến món này và cho đến nay cũng chưa từng được ăn nên
không hình dung hết cái ngon và cách chế biến cầu kì như bác kể. Chắc Giang ở
nhà bác Chư đã từng được nếm món gỏi cá mè do chính tay bác làm.
Vườn nhà bác Chư có nhiều cây cối, rau xanh tự túc đủ
ăn quanh năm nhưng không rõ nhà bác có loại cây ăn quả gì. Nghe nói xã Hải Đường
có giống cam quý, nhiều nhà trồng được cam ngon để dành đến Tết mới đem bán.
Mùa Tết, các xe ca từ Hải Hậu lên Hà Nội luôn có các sọt cam lớn chất đầy mui
xe.
Vào dịp gần Tết, tôi đến thăm thấy Giang đã viết được
kha khá đề tài thực tập tốt nghiệp. Lúc này cơ bản tôi cũng đã nháp xong một
vài lần. Giang nghe tôi nói đã viết xong nhưng tỏ ra không sốt ruột gì. Tôi thấy
tập giấy trên bàn xếp ngay ngắn bèn lấy mở ra xem thấy ngay trang đầu được viết
khá đẹp. Dòng chữ đầu tiên vẫn còn nhớ: Hòa chung khí thế kỉ niệm 5 năm ngày
miền Nam giải phóng… Cái chữ H hoa được Giang tô bay bướm khá bắt mắt. Cho
đến khi về trường hoàn chỉnh đề tài nộp bản chính thức, tôi vẫn thấy Giang giữ
nguyên câu này với nét chữ H viết hoa như lần đầu tiên viết nháp ở Hải Đường.
Cũng như đi thăm các nơi khác, tôi chưa bao giờ ở lại
ăn cơm cùng Giang và gia đình bác Chư. Cái hồi bao cấp này thật khó có thể tiếp
nhau được bữa ăn đạm bạc. Giang có thể cũng ngại mời tôi vì tiêu chuẩn ăn đã được
gửi nhờ bác chủ, còn gia chủ cũng ngại mời khách vì đến chơi đột xuất chẳng lẽ
mời mà vẫn cơm nước như thường lệ. Hơn nữa tôi đến lại thường chủ động nói phải
về để kịp giờ bữa ăn bếp tập thể, không có điều kiện lưu lại lâu hơn (hồi đó
không có quán ăn uống ngoài đường). Vì thế dù cách chỗ Giang chưa đến 5km nếu
đi qua cầu ở xã Hải Quang, nhưng nếu đi nhờ thuyền qua sông Múc phía Hải Phương
thì chắc chưa đầy 4km, nhưng tôi bao giờ cũng về Trạm Máy kéo ăn cơm đúng giờ.
Còn nhớ hôm 2 đứa cùng từ biệt Hải Hậu về trường, khi
đến Hà Nội thì trời đã tối nên tôi và Giang vào nhà anh trai tôi ngủ lại qua
đêm. Khi đến nhà anh thì tôi nghe tin mẹ tôi đã mất cách đó 1 tuần. Giang ngủ
cùng tôi đêm đó và sáng về trường, còn tôi đi tàu về quê viếng mẹ. Chắc Giang
còn nhớ thảm cảnh của tôi khi nghe tin mẹ mất ở quê xa mà không được về gặp lúc
mẹ lâm chung.
7.3 Với anh Nguyễn Văn Tường thực tập ở xã Hải
Phương
Anh Tường được phân công về xã Hải Phương thực tập.
Xã Hải Phương thì rất gần chỗ tôi ở, nếu nhờ được thuyền qua sông Múc thì đi bộ
đến chỗ anh Tường chỉ khoảng 1km, còn đi qua Yên Định rồi đến Hải Phương chừng
hơn 3km.
HTX Hải Phương bố trí anh Tường ăn ngủ tại nhà chị
Điền - nơi lần trước anh Hòe và anh Bính, chị Thanh đã ở. Nhà chị Điền như tôi
đã mô tả ở ghi chép trước: nhà thoáng mát rộng rãi, rất gần khu trung tâm xã.
Gia đình chị có cụ già và mấy em nhỏ, chồng chị đi làm xa lâu lâu mới về nhà. Gia
đình chị Điền rất chu đáo nên anh Tường được bố trí ăn ở khá tiện lợi, lại rất
gần nơi làm việc của Ban quản trị HTX. HTX cũng hỗ trợ anh Tường về lương thực
nên anh cũng không phải lo lắng gì về ăn ở.
Anh Tường nhìn qua thì là kiểu người khó gần vì anh
ít nói, trông kiểu trai lơ, phớt đời dân đất Cảng. Anh không hiểu lý do
gì mà phải chuyển từ KT19 xuống KT20 vào năm thứ 3 (cùng anh Tuấn Nhái và chị
Nguyên). Mắt anh cận nhưng không đeo kính nên các anh KT19 gọi anh là Tường
cận. Khi quen với anh thì tôi thấy anh cũng hiền, ít nói nhưng ngay thẳng. Hồi
đầu đi thực tập anh không mang xe đạp đi, nhưng sau đó về nhà lấy xe đạp xuống
Hải Hậu. Tuy có xe đạp nhưng anh chẳng đi đâu nên đôi khi tôi đến mượn xe của
anh đi các xã.
Anh ngủ đúng cái giường ngày trước Bính và anh Hòe nằm,
mấy lần tôi xuống thăm đều thấy anh nằm trên giường hoặc ngồi đọc hay viết
nhưng giường chiều lôi thôi không gấp chăn màn. Tôi vẫn nhớ cái vỏ chăn màu lam
bộ đội rối tinh trên giường, mà sao anh không nể gia chủ xếp lại gọn ghẽ? Chắc
chị Điền cũng dễ tính nên không thèm để ý đến tính cẩu thả của anh.
Tôi vẫn nhớ kiểu anh câu chuyện bên điếu thuốc lào,
chân co trên ghế, mắt cận nhìn xa xôi. Ngồi nói chuyện với anh phải quen mới thấy
anh có cái duyên ngầm. Tuy nói hơi văng mạng chút, nhưng rất chậm, rề rà vài
câu rồi cười tủm không ra kiểu gì cả nhưng nhìn thì hơi phớt đời. Tôi chẳng khi
nào thấy anh nói gì về đề tài tốt nghiệp. Anh bảo số liệu thì HTX có đủ cả,
nhưng chẳng biết phải làm gì, chép đầy mấy tập giấy rồi thôi không phải lên gặp
gỡ gì nữa. Mà có lên gặp thì cũng vậy thôi. Vào khoảng tháng 11, tôi hỏi anh
khi nào viết xong, anh nói ở đây không làm được gì cả, chắc phải về trường hay
về nhà mới viết xong được. Tôi hiểu anh có cách làm riêng cho anh, có khi phải
có áp lực thì mới tiến triển chăng?
Anh lại cũng mấy lần về quê Hải Phòng nên số gạo HTX
hỗ trợ và số gạo tiêu chuẩn dư thừa không ăn hết. Một hôm tôi xuống chơi, anh rủ
tôi mang gạo đem lên chợ Yên Định bán. Hai anh em đứng bán gạo ngay cạnh cổng
chợ. Nếu mọi người nhìn vào chắc thấy kì lắm: Anh Tường quần loe áo bó đứng bên
bao gạo mở túi bao ra, còn tôi đứng cạnh. Cả hai đều thẹn thò vì thanh niên có
ai đi bán gạo giữa chợ? Một lúc lâu không có ai hỏi vì có khi người ta cũng
không biết chúng tôi bán gạo. Sau có một bà chị đến xem và chê nọ kia và trả rẻ,
anh Tường cũng bán cho xong vì chắc cũng ngại đứng giữa chợ bán gạo. Anh bảo tiền
bán gạo sẽ mua vải may áo. Tấm vải anh mua may áo màu xanh đen có rất nhiều chấm
trắng li ti thẳng hàng khá đẹp. Anh mặc áo chẽn này với quần loe rất hợp với kiểu
trai lơ, mắt cận không kính, dáng cao gầy nghênh ngang kiểu hơi bất cần đời. À,
cái hôm đi bán gạo xong, anh rủ tôi đi ăn bánh chưng bà Thìn. Tôi được ăn cái
bánh chưng nổi tiếng ở Hải Hậu cùng anh Tường, cho đến nay vẫn chưa quên cái
thơm ngon của bánh và chưa quên lòng thơm thảo của anh Tường đãi bạn.
Sau này, hồi tháng 9-1980 (khi đã tốt nghiệp và học
xong sĩ quan dự bị) tôi còn nhớ gặp anh Tường ở buổi đi khám tuyển nghĩa vụ quân
sự theo giấy báo của ĐHNN I. Chờ ở phòng kết luận, anh bảo tôi: “Người ta bảo
tao bị cận thị nặng không trúng tuyển, nhưng tao xin đi cho khỏi phải về quê
xin việc.” Còn tôi thì hội đồng tuyển nghĩa vụ quân sự bảo tôi bị thủng màng
nhĩ cả hai tai, nhưng bị từ bé nên có đi bộ đội cũng không sao!
7.4 Thăm gia đình anh Phạm Trọng Tuệ
Anh Phạm Trong Tuệ hơn chúng tôi gần chục tuổi,
không rõ anh thuộc cán bộ đi học hay bộ đội chuyển về. Tính anh Tuệ cũng nghiêm
túc, ít nói, lại ở phòng Tổ 3 nên trong quá trình học tôi cũng được tiếp xúc với
anh không nhiều.
Cũng nhờ đến các HTX nên lần về xã Hải Thanh, tôi đã
gặp được vợ chồng anh Tuệ ở đây. Khi đó vợ anh đang dạy học ở xã Hải Thanh, anh
Tuệ và chị cùng con nhỏ ở một phòng tập thể của trường. Vợ anh to cao, hơi mập,
trắng trẻo hay chuyện. Trong gian phòng tập thể nhỏ sơ sài, anh nói hiện nay tớ
thường xuyên ở đây với vợ mặc dù nhà anh ở xã Hải Trung, cách đấy chừng 4km.
Vì tôi đến làm việc với HTX nên ghé thăm anh chị một
lát rồi về Trạm Máy kéo (hôm đó đi bộ). Hồi đó thăm nhau nhưng rất ít khi mời
nhau ăn uống vì thời bao cấp kinh tế khó khăn lắm. Cũng như tôi đến thăm anh Tường
ở Hải Phương hay Giang ở Hải Đường nhưng không bao giờ ăn uống cùng nhau.
Sau đó hôm về xã Hải Trung công tác thì tôi lại được
vào thăm nhà riêng anh Tuệ ở chính quê anh. Nhà anh có một vườn mía to trước
nhà. Một ngôi nhà anh chị đang đang xây dở dang, chưa xong cả tường và mái. Tường
mới được xây xong vài bức nhưng phần gỗ trên mái đã hoàn chỉnh. Mái nhà cũng chỉ
là lợp tranh lá mía sơ sài. Chắc anh chị cũng phải dành dụm nhiều năm mới nữa có
điều kiện hoàn thiện ngôi nhà khá to này. Đồ đạc trong nhà rất ít vì lúc này
anh chủ yếu ở với vợ con trong gian nhà tập thể trường xã Hải Thanh. Cũng như lần
trước, tôi ghé thăm gia đình anh một lúc rồi về, không ăn uống gì cùng gia đình
anh chị.
Có điều tôi không nhớ được là hồi đó anh Tuệ đi thực
tập ở đâu, nội dung thực tập do bộ môn nào hướng dẫn. Và tôi cũng không hình
dung được làm sao tôi lại liên lạc được để thăm anh cả ở Hải Thanh và ở quê Hải
Trung – mà cả 2 lần đều gặp cả anh và chị.
8. Về vùng đất, con người Hải Hậu
Có thể nói Hải Hậu là vùng đất có văn hóa cao, nông
sản trù phú, con người siêng năng và cần cù lao động. Hải Hậu có khung cảnh
nông thôn rất đẹp: những cánh đồng xanh mướt bao quanh làng xóm. Đa số các xã đều
có những nhà thờ công giáo đẹp, cao vút trong các làng mạc trông rất nên thơ.
Là vùng đất quê mới[5] nên Hải Hậu có nhiều kênh
mương đào đắp mấy trăm năm qua, các bờ kênh đều có đường đi ngay thẳng. Dân cư
sống bình yên theo lề lối công giáo nên rất ít các tệ nạn tiêu cực. Người dân chăm
chỉ lao động, trình độ thâm canh cao. Đường giao thông, kênh mương tưới tiêu, trường
học cơ bản khá hoàn thiện. Có một thời gian tôi nghe nói nước ta đón đoàn cán bộ
Lào thăm Hải Hậu, người ta phát biểu rằng dân tộc Lào mơ ước có được mô hình
XHCN như Hải Hậu (?)
Trước hết, về thâm canh nông nghiệp, Hải Hậu có tiếng
về năng suất lúa cao, kinh nghiệm canh tác phong phú, là nơi được coi là điển
hình thâm canh lúa xuân trong công cuộc cách mạng nông nghiệp do GS Bùi Huy Đáp
thực hiện. Chính GS Đáp đã cử ông Nguyễn Đức Triều, một cán bộ của Viện về Hải
Hậu công tác để phát triển phong trào lúa Xuân vùng Đồng bằng Bắc bộ.
Nếu hiểu đúng nhất từ “bờ xôi ruộng mật” thì
phải nói đến Hải Hậu. Ở đây người ta tận dụng đất đai tối đa: tất cả các bờ đường
trong đồng, các kênh mương, các bờ ao, lối đi… đều được bồi kê một lớp bùn để
trồng cây khoai nước, một sản phẩm có tiếng ở Hải Hậu. Khoai nước có thể thay
lương thực chống đói cho người và chăn nuôi rất tốt. Khoai nước ở đây được chăm
sóc cẩn thận, giống tốt nên củ to, bột bở trắng, khi luộc hay đồ lên ăn rất
thơm ngon. Để dự phòng, người ta có cách thái nhỏ, phơi khô làm thực phẩm dự trữ
lâu ngày.
Hải Hậu khi đó có nhiều cây trái trong vườn, nổi tiếng
thơm ngon là cam, chanh, chuối. Bến xe ca từ Yên Định hàng ngày chạy lên Hà Nội
bao giờ cũng chất đầy hoa quả trên nóc xe. Cam ở đây ngon, là của hiếm được dành
bán trên Hà Nội vào dịp Tết. Người dân ở đây kể với tôi về cách để dành cam đến
Tết bán: lấy mật mía trộn với vôi bôi lên núm quả, sau đó vùi vào cát chôn sâu xuống
đất thì có thể để được mấy tháng cam vẫn còn tươi. Quả chấp thì to, mọng nước
có thể vắt ra cái mâm nhôm rồi phơi nắng làm bột chua. Xã Hải Đường nơi Giang
thực tập có nhiều giống cam, chấp rất nổi tiếng.
Con người Hải Hậu siêng năng cần cù, giỏi thâm canh.
Chỉ riêng chuyện người ta dùng cái móng để lật đất vườn đủ biết trình độ thâm
canh cỡ nào. Vườn nhà cứ vài năm lại lật đất từ dưới lên trên, kiểu xới đất đến
tận cùng, sâu hàng 40-50cm.
Ở Hải Hậu có đặc sản“bánh đa Ninh - bánh chưng
Thìn.” Tôi chỉ còn nhớ hai thứ trong một câu liên quan đến 4 sản phẩm nổi
tiếng ở đây. Bánh đa Ninh Cường thì chưa được nếm nhưng bánh chưng Thìn thì ở ngay
bến xe Yên Định, tôi và anh Tường đã được trải nghiệm. Một hôm anh Cư ở Trạm
Máy kéo nói với tôi rằng Hải Hậu có món ngon đặc biệt, mỗi tháng anh đều phải nếm:
đó là bánh chưng bà Thìn. Cái biển ghi chữ “Bánh chưng bà Thìn” trên tấm
bìa giắt bên cửa, bên trong có hàng ghế ngồi và bán nước chè. Bánh bán chạy và
bà Thìn cũng làm có hạn nên không phải lúc nào cũng có. Lí do là hồi đó không
thể mua được thịt lợn để làm nhân bánh. Do thịt lợn cấm bán nên bánh chưng bà
Thìn cũng chỉ là kiểu bán chui, không dám lộ diện công khai. Hôm tôi và anh Tường
ăn buổi chiều tối, tôi thấy một cái bánh 2 hào to chừng nắm đấm trẻ con, được gói
theo kiểu bánh ít, không vuông. Bánh vẫn nóng, khi bóc gói lá mỏng là đến lớp gạo
nếp trắng. Chỉ cắn nhẹ vào là răng ngập ngay vào miếng thịt mỡ lợn lớn, mềm
thơm trong lớp đậu xanh mỏng. Thật ra rất ít gạo nếp, bánh gói khá mỏng và miếng
thịt lợn nhiều mỡ khá to làm nên vị ngon nổi tiếng. Ăn bánh chưng bà Thìn thực
chất là được ăn miếng thịt lợn nhiều mỡ. Hồi bao cấp đói kém được ăn món bánh
chưng này thì tất nhiên ngon phải biết!
Vào năm 2021, tôi có dịp đưa đoàn khách đi du lịch Hải
Hậu. Nhân đó tôi có giới thiệu đặc sản bánh chưng bà Thìn. Anh lái xe nói thương
hiệu đó nay vẫn còn nổi tiếng. Tôi bảo lái xe dừng để mọi người mua và ăn thử.
Khi ăn xong các phát biểu khen không nhiều, nhưng chê bánh quá nhiều thịt mỡ. Nay
bà Thìn đã mất mà vẫn giữ nguyên cách làm bánh truyền thống khi xưa. Chỉ tội
bây giờ nghe nói bánh nhiều thịt mỡ thì không còn ngon như thời bao cấp nữa.
Món ngon theo thời gian đã không còn được khen dù nó vẫn y nguyên lối làm bánh
cũ. Cái ngon mỗi thời mỗi khác, thời ăn kiêng đã không còn giống thời xưa đói
kém!
Dân Hải Hậu biết ăn chơi, kiểu đồng hồ quả lắc Pháp
có đổ chuông khá phổ biến trong các gia đình khá giả. Nhiều người có xe máy rất
sớm. Các gia đình biết trồng hoa, chơi hoa, cây cảnh. Làng quê thanh bình, chiều
chiều tiếng chuông nhà thờ vang xa trong cảnh làng quê hoàng hôn đẹp rất nên thơ
đáng nhớ. Ở đây hồi tôi thực tập thấy có tục thứ 7 dân chúng ăn mặc đẹp đi lễ
nhà thờ. Cảnh cha mẹ đi bên các con, cảnh nam nữ thanh lịch ăn mặc đẹp đến nghe
lễ thánh chiều thứ 7 rất ấn tượng. Có lần tôi và anh Tường cùng đến ngắm và vào
nhà thờ nghe ban hát thanh ca toàn các em gái trẻ xinh đẹp. Các vị cha xứ ăn mặc
hành lễ trang nghiêm. Có thể nói đây là nét quê yên bình và no ấm thời bấy giờ.
Người dân Hải Hậu rất quý nước mưa. Nhà nào cũng có
một cái bể nước mưa lớn nước dùng quanh năm. Món mắm cáy mặn cũng ngon rất nổi
tiếng. Ngày nay, Hải Hậu có món gỏi nhệch rất ngon, thay thế món gỏi cá mè (vì
cá mè có nguy cơ nhiễm sán cao nên người ta không dám ăn nữa). Nhệch là loài sống
nước lợ nên cơ bản được coi là không có các kí sinh trùng sán như cá nước ngọt.
9. Vài lời tổng kết
Như tôi đã nói ở phần đầu, kiểu thực tập tốt nghiệp
là bài tự học cuối cùng trước khi thành kĩ sư kinh tế nên người ta “thả
sinh viên” vào thực tế làm quen từng bước. Tôi bỗng nghĩ giống như ngày nay
ở mấy trạm cứu hộ động vật, ban đầu người ta nuôi nhốt rồi cho động vật làm
quen với tự nhiên và dần dần thả trở lại rừng sâu, bảo đảm chắc chắn chúng kiếm
sống được không cần người nuôi dạy.
Quan sát thực tiễn để liên hệ với bài học, nhưng thực
ra chẳng có bài học nào giống với thực tiễn. Tuy nhiên phải qua thực tiễn mới
thấy sáng ra được cái cần học. Anh Lê Ngọc Lan kể hồi anh đi thực tập ở Hải
Phòng, thầy Doãn Xuân Sắc giao cho anh đề tài khó về chu chuyển đàn lợn ở HTX.
Tôi nghĩ nhất định anh sẽ học được nhiều điều từ thực tiễn khó hơn rất nhiều so
với cái bảng chu chuyển kế hoạch của thầy Sắc minh họa trên bảng hồi dạy môn Kế
hoạch nông nghiệp. Tuy vậy tôi vẫn nghĩ nếu các thầy giáo ngay từ đầu giao rõ
cho chúng tôi một tên đề tài thì tốt biết bao. Tôi và anh Đĩnh phải thực tập
hơn 2 tháng mới tự tìm ra cho mình nội dung cần làm.
Cái rất quan trọng ở người kĩ sư kinh tế nông nghiệp
là phải va chạm thực tiễn và từng bước học về công việc, nhưng không thể bỏ qua
kiến thức xã hội và con người. Đây mới thực sự là bài học quý. Vốn xã hội
được hình thành rất rõ nét trong những ngày chúng tôi đi thực tập. Từ những ngày
thực tập, đám trẻ chúng tôi học được rất nhiều về tính nhân văn. Về trường rồi
mà vẫn thấy trong đầu ấn tượng về thực tế quanh mình có rất nhiều người tốt.
Qua bạn bè, qua những người ở cơ sở giúp đỡ mình mà mình biết cảm ơn, trân quý
mọi người hơn.
Khi đó, đám trẻ chúng tôi có thể còn đôi chút phiến
diện, nhưng nó là hành trang may mắn cho thế hệ chúng tôi tin tưởng đi vào
cuộc sống.
[1] Lúc đó Huyện Trực
Ninh có một số xã thuộc huyện Hải Hậu.
[2] Đó là Đền Thánh Đức Mẹ Mân Côi Ninh Cường
(tọa lạc tại xã Trực Phú).
[3] Cây chấp họ cam
chanh, quả hơi sần, nhiều nước nhưng vị rất chua.
[4] Món gỏi cá mè nay gần như không còn vì người ta phát
hiện nhiều người bị nhiễm sán khi ăn gỏi cá mè.
[5] Theo https://tri8x.violet.vn/entry/show/entry_id/8797459, Xã
Quần Anh là địa danh đầu tiên của mảnh đất Hải Hậu từ 1511. Năm 1888, thành lập
huyện Hải Hậu gồm 4 tổng: Quần Anh, Kiên Trung, Ninh Nhất, Tân Khai. Các vị Thuỷ
tổ sáng lập là Trần Vu, Vũ Chi, Hoàng Gia, Phạm Cập, Vũ Duy Hoà, Nguyễn Công Trứ,
Đỗ Tông Phát cùng với Cửu Tộc: Lại, Nguyễn, Lê, Bùi, Phan, Đoàn, Đỗ, Trần, Vũ.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét