Mở đề
Đến hết năm thứ 2, chúng tôi mới chỉ được
học môn Địa lý kinh tế - “màn dạo đầu” để đi vào chuyên môn. Bắt đầu từ năm
thứ 3, chúng tôi được học Kinh tế nông nghiệp (ở kì 1) và Thống kê nông nghiệp cùng
Kế toán nông nghiệp (ở kì 2). Việc bố trí chương trình theo tôi là khá hợp lý: người
ta đưa hết môn cây trồng vào kì 1, chỉ “nếm thử” Kinh tế nông nghiệp để kì 2 đủ
sức “xơi” tiếp 2 môn chuyên môn: Kế toán nông nghiệp và Thống kê nông nghiệp. Môn
Kinh tế nông nghiệp là nền tảng kinh tế khi đã “ngấm” vào đầu rồi thì có cơ sở
để tiếp nhận các nghiệp vụ chuyên môn. Các anh KT18 nói với chúng tôi: kĩ sư
kinh tế nông nghiệp chỉ cần vững 3 “món võ”: Thống kê, Kế toán và Kế hoạch là
đi đâu cũng sống được. Chúng tôi tiếp thu kiến thức năm thứ 3 trên tinh thần
rất háo hức vì coi đó là những gì cần thu hoạch để ra trường đi làm kiếm ăn, để
tìm đường làm nên sự nghiệp của người kĩ sư kinh tế.
Tôi sẽ lần lượt ghi chép lại kí ức theo
từng môn học bởi có những lôgic chung nhưng lại rất riêng về chuyên môn. Mặt
khác, các kí ức còn nhớ lại phần lớn từ những người thầy dạy thời đó. Lần theo
kí ức những gì người thầy dạy sẽ nhớ dần ra các câu chuyện của chúng tôi. Cũng phải
kể đến chuyến đi thực tập giáo trình lần 1 ở khối HTX chính là thực tập 2 môn học
Thống kê và Kế toán nông nghiệp. Đó cũng là trải nghiệm rất thú vị vì chúng tôi
sẽ được quan sát và bắt tay vào một số công việc trong thực tế gắn với những gì
được học trong trường.
Tôi tạm chia ghi chép này thành các kì:
Học môn Kinh tế nông nghiệp; Học môn Thống kê nông nghiệp; Học môn Kế toán
nông nghiệp và Chuyến đi thực tập giáo trình lần 1.
Học môn Kinh tế nông nghiệp
Môn học được thiết kế 120 tiết học
trong học kì 1 năm học 1978-1979 (năm thứ 3). Giáo viên giảng dạy là thầy Kĩ
sư[1]
Nguyễn Dương Đán và thầy Kĩ sư[2]
Phạm Vân Đình.
Phần giảng dạy của thầy Nguyễn Dương Đán
Về nội dung thì tôi không nhớ được cụ
thể, kí ức chỉ còn đôi điều không rõ ràng lắm. Phần thầy Đán dạy trước, hình
như 2 chương đầu, gồm Chương mở đầu (đối tượng, phương pháp…) và Chương cơ sở kinh
tế sản xuất nông nghiệp (HTX và NTQD, Trạm trại sản xuất).
Hồi thầy Đán giảng bài, có lí do gì đó ở
CLB Cán bộ nên chúng tôi được bố trí học ở tầng 1 CLB Sinh viên. Một phòng học
nhỏ hơn nên 2 lớp phải ngồi 3 người 1 bàn. Thầy Nguyễn Dương Đán người thấp nhỏ,
nói nhẹ, giọng Nghệ An nghe khá rõ nhưng thầy nói đều đều không lớn nên thầy
thường đứng ngay trước dãy bàn thứ nhất để giảng chứ không đứng vào chỗ kê có
bàn kê trên bục giảng. Thầy cũng rất ít viết trên bảng.
Thầy khi đó khoảng 50 tuổi, ăn mặc khá
nghiêm chỉnh, tóc chải mướt lên trên. Thầy có nét nói chuyện khá duyên vì miệng
như luôn có nụ cười rất sẵn sàng. Nghe nói thầy từng đi học ở Trung Quốc. Lối giảng
chậm rãi, ôn hòa, nhẹ nhàng, bài giảng trơn tru trôi qua đầu óc chúng tôi nghe
khá hay mà sao không đọng lại được nhiều. Thầy rất ít ví dụ minh họa mà nêu nhiều
nguyên lý kiểu áp đặt, chẳng hạn nào là tổ chức HTX là tất yếu, không
còn cách nào tốt hơn đối với nông dân là gia nhập HTX, nào là NTQD là mô
hình tiên tiến trong tổ chức sản xuất nông nghiệp, nào là mô hình phân
phối trong HTX bảo đảm nguyên tắc hài hòa, lấy tích lũy làm cơ sở phát triển
nhưng vẫn bảo đảm cuộc sống người lao động, không tạo ra phân hóa giàu nghèo… Đại
loại những thứ nếu ngày nay mà nghe thì chúng tôi đều biết thầy đã gieo vào đầu
chúng tôi bao nhiêu sự “giáo điều” lý thuyết – mà hồi đó kiến thức kinh tế
đâu đâu cũng chỉ rặt một thứ giáo điều! Cũng rất may là trong cuộc sống sau
này chúng tôi đã không bị cột chặt vào những giáo điều ấy khi thấy sự vận động
của thực tiễn nhiều khác biệt thú vị.
Hồi đó môn Kinh tế nông nghiệp đã có
giáo trình in cẩn thận, chính thầy Đán là một trong những tác giả của giáo
trình ấy (cùng chung tác giả với thầy khác tôi không nhớ tên, hình như thầy
Nguyễn Lân thì phải). Vì có giáo trình nên phần đọc chép đỡ đi nhiều và vì thế
chúng tôi có nhiều thời gian để nghe giảng. Thời đó học không hề có sự tương
tác như sau này – chỉ duy nhất thầy nói trò nghe và ghi chép. Kiểu giảng của thầy
rất đều đều, âm lượng không bao giờ được nhấn mạnh lên xuống ngữ điệu, không có
sự khoa tay “chém chặt” nhấn ý chốt từ. Bài giảng từ lúc vào đến lúc ra như một
bài ru nhẹ nhàng, êm ái để người nghe không có ý thức ghi tâm mà như thưởng thức
sự ru ngủ nhẹ nhàng.
Vì lối giảng không có tương tác nên chúng
tôi thấy không bao giờ thầy nêu ra câu hỏi hay vấn đề gì để tranh luận hoặc bắt
chúng tôi phải suy nghĩ. Đến lớp nghe “kinh” về kinh tế nông nghiệp mà không
sao nhớ được những điều thầy đang nói và cũng không thấy trăn trở gì về những
điều thầy đang dạy. Chỉ có cảm giác thấy mình không hề yên tâm chút nào về cái mình
học được gì từ những kiến thức “cao siêu” kia, lại như có một chút lo âu về việc
làm sao áp dụng được chúng khi đi làm sau này. Cứ tưởng những vấn đề chuyên môn
là những điều mình học như “nhặt lấy kiến thức cho vào bị” để ra trường lấy ra
thực hành thì trái lại: không thấy cái gì có thể “nhặt được” từ những điều
thầy Đán dạy.
Chẳng hạn thầy nói về đặc điểm sản xuất
nông nghiệp: một là, sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào tự nhiên; hai
là, ruộng đất là TLSX không thể thay thế; ba là, đối tượng sản xuất
nông nghiệp là cơ thể sống và bốn là, sản xuất nông nghiệp mang tính thời
vụ. Những kiến thức này thật ra không ấn tượng lắm vì chúng vừa như tất nhiên,
vừa là những tổng kết có vẻ không điển hình lắm so với những gì chúng tôi từng
chứng kiến nông nghiệp thời tuổi thơ chăn trâu, cắt cỏ, kiếm cá, làm đồng.
Trong lòng cứ nghĩ đại học phải học những cái gì to tát, xa xôi chứ những món
này như đều đã “biết cả rồi”…
Phần giảng của thầy Phạm Vân Đình
Thầy Đình dạy liên quan đến các vấn đề
về kinh tế đất đai, tư liệu sản xuất, chế độ phân phối thu nhập... Tôi lần lượt
nhớ cảm giác nghe bài giảng của thầy để lôi ra vài kí ức liên quan đến các nội
dung còn đôi chút sót lại “lơ mơ” theo các buổi thầy giảng.
Tôi thấy phần thầy Phạm Vân Đình dạy rõ
và cụ thể hơn rất nhiều. Khi đó chúng tôi đã trở lại học ở Giảng đường 8
CLB Cán bộ rộng rãi hơn. Thầy Đình tốt nghiệp Đại học Kinh tế - Kế hoạch (tương
đương khóa 12 của ĐHNN I). Thầy Đình quê Thái Bình, người cao và gầy, trán hói.
Mặc dù cũng không hề có ý tương tác với người học nhưng thầy lên xuống giọng và
đi lại nhiều để mỗi buổi giảng lần lượt trình ra bảng đen một “danh mục” nội
dung cần trình bày. Có lúc như thầy đang thao diễn: không nhìn xuống lớp, mỗi
khi dừng viết là đứng trước bục nhìn xa xăm lắm, như là ở nơi xa ấy có “cái
kho” để thầy lấy chữ giảng bài cho chúng tôi.
Thầy Đình có lối giảng thích viết bảng,
cuốn hút người nghe bằng kiểu nêu vấn đề và diễn giải khá lôgic. Cấu trúc bài
giảng của thầy rất rõ ràng: các phần đều có các ý đi kèm cụ thể (trái hẳn lối dạy
của thầy Đán). Các mục có nhiều ý, mỗi ý có nhiều gạch đầu dòng là các nội dung
chi tiết. Khi cần giảng thì thầy dừng lại rồi sau đó thêm ý tiếp. Cách giảng đó
ghi chép rất dễ dàng và cũng cơ bản hiểu được khi các ý được phân chia ra nhiều
nội dung nhỏ… Chỉ có điều khi phải học và nhớ thì rất khó nhớ theo đúng trật
tự những cái “gạch đầu dòng” của thầy. Tuy nhiên, khi ôn và thi thì tôi rút
ra một điều quan trọng là cứ nhớ đủ ý “gạch đầu dòng” là được, không nhất thiết
phải theo đúng trật tự “gạch” trước thì nêu trước, “gạch” sau nêu sau. Đại
loại như một mâm cỗ có 5 món ăn, ai nêu món nào trước cũng được miễn sao đủ 5 món
là xong. Người ta gọi cách dạy kinh tế như thế này là “chỉ cần đủ, không cần
lôgic”. Chẳng hạn chúng tôi học môn cây trồng thì nếu “gạch đầu dòng” 1 là làm
đất, “gạch 2” là gieo hạt, “gạch” tiếp là tưới nước, bón phân, thu hoạch. Không
thể có “gạch” thu hoạch trước “gạch” làm đất hay gieo hạt. Cần đủ là được tất
nhiên dễ hơn so với vừa đủ lại vừa phải lôgic. Phần dạy của thầy dễ nhớ và dễ học
– dễ vì miễn sao kê cho đủ các “gạch đầu dòng”, mà giả dụ có thiếu vài cái “gạch”
thì cũng không sao vì như mâm có 5 món mà chỉ nhớ có 3 món – kết quả là nhớ thiếu
2 món chứ không vì thế mà gọi là sai được!
Tôi còn có ấn tượng về vài nội dung thầy
dạy. Thầy nhấn mạnh đất đai trong nông nghiệp vừa là tư liệu sản xuất vừa là
đối tượng sản xuất. Đây là lần đầu tiên tôi phân biệt được rõ đối tượng sản
xuất và tư liệu sản xuất so với những gì tôi được học ở môn Kinh tế chính trị (năm
thứ 2). Đất đai là tư liệu sản xuất với tư cách như một công cụ lao
động, nhưng lại vừa là đối tượng sản xuất chủ yếu và không thể thay thế với tư
cách đất đai là nền tảng để tiến hành sản xuất (cày cấy, trồng trọt), là nơi
chứa đựng, cung cấp sản phẩm (cây, quả, lâm sản). Nói rõ thêm là: khi coi
đất đai như tư liệu sản xuất nghĩa là cần có mặt bằng để tiến hành các
hoạt động canh tác để tạo ra sản phẩm (như để trồng cây, chăn nuôi, trồng rừng).
Còn khi coi đất đai là đối tượng sản xuất vì thấy đất đai là trực tiếp
chứa đựng sản phẩm của lao động (chứa hạt giống, cây trồng, vật nuôi), là tài
nguyên thiên nhiên được khai thác để tạo giá trị cho con người. Trong
trồng trọt, người nông dân cày xới đất (sử dụng đất như công cụ) để cấy lúa và
chính cây lúa mọc lên từ đất (đất là đối tượng được tác động để tạo ra sản
phẩm). Trong chăn nuôi, đất là không gian cho chăn nuôi (tư liệu sản xuất) và
là nơi sinh trưởng cho gia súc (đối tượng sản xuất). Do đó, đất đai có vai
trò độc đáo, vừa là yếu tố đầu vào (tư liệu) vừa là yếu tố được tác động và tạo
ra sản phẩm (đối tượng) trong quá trình sản xuất kinh tế, đặc biệt là nông
nghiệp.
Về đặc điểm ruộng đất cũng có nhiều điểm
rất đáng nhớ: a/ ruộng đất là sản phẩm của tự nhiên và sản phẩm của lao động; b/
ruộng đất bị giới hạn không gian, nhưng sức sản xuất của ruộng đất không giới hạn;
c/ ruộng đất có vị trí cố định và chất lượng các vị trí không đồng đều; d/ ruộng
đất là TLSX chủ yếu nhưng không bị hao mòn, đào thải mà trái lại hoàn toàn có
thể làm độ phì của đất tốt lên. Các ví dụ minh họa về 4 điểm này đều rất rõ và
dễ thấy. Tuy nhiên, hồi đó chưa thừa nhận thị trường đất đai nên thầy giáo khi đó
có thể cũng chưa biết hết về nội dung thứ 3 (tức ý c/) rằng mỗi một thửa đất đều
là một đơn vị hàng hóa “độc nhất vô nhị” trên thị trường như ngày nay
quan niệm.
Cũng từ nội dung học của thầy Đình mà
tôi bắt đầu rõ được một điều rất quan trọng: một quá trình sản xuất cần tối
thiểu 3 thứ: người lao động cầm trong tay công cụ lao động để tác động vào
đối tượng lao động. Ba thứ đó được gọi là 3 yếu tố của một quá trình sản xuất: sức
lao động – tư liệu lao động – đối tượng lao động. Một quá trình sản xuất nhất
thiết phải đủ 3 yếu tố (yếu tố là thành tố trọng yếu nhất thiết phải có,
thiếu một trong 3 yếu tố thì không thể thành được một quá trình sản xuất)[3].
Trong nông nghiệp cổ truyền, người nông dân (sức lao động) cầm cây gậy nhọn (công
cụ lao động) chọc những cái lỗ trên đất để tra hạt giống xuống (đất và hạt giống
là đối tượng lao động) rồi chờ cây mọc lên, ra sản phẩm để thu hoạch. Thế là đủ
cho một quá trình sản xuất hoàn chỉnh! Sau này, trong kinh tế hàng hóa, quan
hệ tiền – hàng xuất hiện và khi các quá trình sản xuất không thể thiếu thành
phần công nghệ thì người ta diễn giải còn có thêm yếu tố vốn, yếu tố công
nghệ…
Một nội dung khác của phần thầy Đình dạy:
thâm canh trong nông nghiệp là con đường chủ yếu để phát triển sản xuất nông
nghiệp. Thâm canh được thầy giảng rất dễ nhớ: thâm canh là sự đầu tư
thêm sức lao động hoặc tư liệu sản xuất để tạo ra nhiều sản phẩm hơn trên một
đơn vị diện tích hay một đơn vị diện tích được sử dụng hiệu quả để tạo ra nhiều
sản phẩm. Cứ đầu tư thêm (mọi thứ) để kiếm nhiều sản phẩm tăng thêm trên
một đơn vị sản xuất nông nghiệp là thâm canh (chú ý: chưa hẳn đã hiệu quả hơn nếu
giá trị tăng thêm không lớn hơn chi phí tăng thêm). Trong canh tác nông nghiệp,
trái với thâm canh (intensive farming) là khái niệm quảng canh (extensive
farming)[4].
Chúng tôi còn được thầy kĩ sư Nguyễn
Tiến Thêu dạy chương Kinh tế lao động thay thầy Đình. Thầy Nguyễn Tiến Thêu
(quê Thanh Hóa) chỉ dạy có 2 buổi về kinh tế lao động trong nông nghiệp và bản
thân thầy Thêu có viết một cuốn bài giảng mỏng chỉ riêng về kinh tế lao động.
Cuốn sách in roneo trên giấy đen, không đẹp và chỉ mấy chục trang nhưng chúng
tôi rất tôn trọng vì cũng coi như biết được quá trình lao động giảng dạy của thầy
Thêu đã đủ tích lũy để có viết được sách. Tôi đã mượn được cuốn của thầy trên
thư viện và thấy cách viết về kinh tế lao động của thầy Thêu rất dễ nhớ và khá
hay. Lao động là một trong 3 yếu tố của quá trình sản xuất. Lao động là nguồn tạo
ra của cải, lao động cũng cần tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng.
Tái sản xuất giản đơn là sự phục hồi sức khỏe để sản xuất tiếp, còn tái sản
xuất mở rộng là người lao động được đào tạo, tích lũy để nâng cao chất lượng lao
động, nâng cao năng suất lao động, người lao động được chăm lo bồi bổ sức khỏe
cho bản thân và cuộc sống cho gia đình để khỏe mạnh, hạnh phúc dài lâu.
Môn Kinh tế nông nghiệp thi vấn đáp
ngày 20-1-1978, tôi đạt 4/5 điểm. Nghe nói môn này thi vấn đáp chưa có ai được
5/5 điểm.
Một vài câu chuyện liên quan về học môn
Kinh tế nông nghiệp
· Tôi được dự buổi
bảo vệ luận án PTS của thầy Nguyễn Dương Đán
Khi dạy chúng tôi, thầy Đán đang làm luận
án PTS kinh tế. Vào năm 1979 thầy bảo vệ luận án tại Hội trường C[5].
Khi đó, tôi nghe thông báo trên loa nhà trường nên đã đến dự vì sự tò mò. Đề
tài nghiên cứu sinh của thầy có tên đại loại là “Chăn nuôi lợn tập thể trên
quy mô liên HTX” (tôi không nhớ chính xác). Tôi biết có một số anh em lớp
KT20AB được cử đi thực tập có đến các HTX ở Yên Phong, Bắc Ninh, nơi thầy triển
khai đề tài và một số địa phương khác như ở Nam Định, Gia Lâm. Hình như KT20A
có nhóm của Nguyễn Các Mác lúc đó cũng đến Yên Phong thực tập giáo trình về đề
tài của thầy.
Hôm bảo vệ, tôi thấy thầy trình bày ý
tưởng rằng nếu các HTX liên kết chăn nuôi lợn quy mô lớn thì có thể hình thành
nên vùng sản xuất thức ăn gia súc tập trung. Một ý tưởng kiểu sản xuất lớn XHCN
lúc ấy. Sau này thì có lẽ đề tài không áp dụng được nhiều vì mô hình HTX toàn
xã suy yếu dần từ những năm 1979-1980[6].
Nhưng nếu ngày nay nhìn lại thì tôi nghĩ đề tài của thầy có khi lại là ý tưởng
hay khi đặt vấn đề sản xuất theo chuỗi ngành chăn nuôi lợn tập trung?
Hôm bảo vệ tôi thấy trong Hội đồng gồm
11 nhà khoa học đến từ nhiều trường do thầy Lê Duy Thước làm Chủ tịch Hội đồng[7].
Các thầy đều ăn mặc sang trọng, áo trắng đeo có cà-vạt. Lại thấy cả thầy Trần
Văn Đức, Giang Quốc Úy[8]
ở bộ môn Kinh tế nông nghiệp cũng áo trắng đeo cà-vạt ngồi dự, oai ghê!
· Chuyện “mở rộng”
khái niệm thâm canh trong nông nghiệp
Khi dạy khái niệm thâm canh (là đầu tư
thêm về lao động sống hoặc tư liệu sản xuất trên một đơn vị diện tích để tăng
thêm sản lượng), thầy Đình liên hệ trong thực tế chuyện tăng vụ cũng là một kiểu
thâm canh khi diện tích được quay vòng nhiều lần trong năm (tức là đã đầu tư
thêm chi phí và lao động).
Khái niệm thâm canh được “mở rộng” ra cả
lĩnh vực khác. Hồi đó tôi vẫn chỉ có vài bộ quần áo. Thấy hôm nào tôi cũng mặc
áo bộ đội vải Tô Châu cũ từ năm thứ nhất, Cao Ngọc Đức đùa rằng: Ảnh vận dụng
đúng khái niệm thâm canh, chỉ một áo sơ mi mà dùng nhiều lần trong tuần coi như
một dạng “thâm canh cao” rồi. Hồi đó Cao Ngọc Đức có áo sơ mi vải nilon màu
xanh lam rất đẹp, ngoài ra còn vài bộ để thay đổi trong khi tôi chỉ “thâm canh”
cái áo bộ đội vải Tô Châu cũ sờn. Nhờ chuyện vui này đã giúp nhau nhớ lâu hơn về
khái niệm thâm canh đã học.
![]() |
| Áo vải Tô Châu bộ đội cũ sờn năm ấy |
· Chuyện tập huấn đi thực tập giáo trình môn Kinh tế nông nghiệp
Vào kì 2, mặc dù môn Kinh tế nông nghiệp
đã thi từ kì 1 nhưng khi đi thực tập giáo trình lần 1, Bộ môn Kinh tế nông nghiệp
vẫn đưa nội dung này vào để chúng tôi tìm hiểu trong thực tế các HTX. Thầy Đình
hướng dẫn đề cương về tìm hiểu cơ cấu đất đai HTX: mỗi nhóm phải có báo cáo sử
dụng đất, đánh giá tình hình sử dụng đất theo một bảng thống kê có mẫu sẵn. Khi
đi thực tập chúng tôi cũng có làm theo nhưng khi về thì không thấy ai nói gì vì
môn học đã thi xong nên chắc các thầy cũng quên, thành ra có tìm hiểu, có thu
thập và viết báo cáo nhưng không phải nộp. Nhiều nhóm đã khôn nên không làm báo
cáo. Nhóm tôi vẫn làm nghiêm túc, nhưng cũng coi như “vô tác dụng”.
[1] Thầy Nguyễn Dương Đán bảo vệ luận án PTS năm 1979 tại
ĐHNNI, được công nhận là PGS kinh tế năm 1991.
[2] Thầy Phạm Vân Đình bảo vệ luận án PTS tại Bulgaria năm 1986, được công nhận PGS năm 1996, GS kinh tế năm 2003.
[3] Các yếu tố sản xuất ngày nay được diễn giải không cơ bản
như hồi chúng tôi học. Người ta bàn đến rất nhiều yếu tố “linh tinh” khác, không
còn tính “không thể thiếu” của các yếu tố cơ bản.
[4] Về khái niệm thâm canh và quảng canh, mời xem thêm tại
https://bloomranchofacton-com.translate.goog/pages/what-is-the-difference-between-extensive-and-vs-intensive-farming?_x_tr_sl=en&_x_tr_tl=vi&_x_tr_hl=vi&_x_tr_pto=tc
[5] Thầy Nguyễn Dương Đán là người bảo vệ thành công luận án PTS thứ 3 của trường ĐHNNI (sau thầy Phan Trọng Cung ngành Thú y và thầy Trần Long ngành chọn giống cây trồng), nhưng là người đầu tiên bảo vệ thành công luận án PTS ngành kinh tế.
[6] Từ 1982 bắt đầu có Chỉ thị 100 về khoán trong nông
nghiệp.
[7] Sau này tôi có thời gian làm việc ở Khoa sau Đại học
nên tôi biết danh sách 11 thầy trong Hội đồng chấm luận án của thầy Đán do thầy
Lê Duy Thước làm Chủ tịch Hội đồng.
[8] Lúc này thầy Úy vẫn là Giáo viên Chủ nhiệm lớp KT20A,
còn thầy Đức học KT16 được ở lại trường. Chúng tôi cũng đã biết từ thời thầy Đức
còn ở KTX nhà B3.
