Chủ Nhật, tháng 12 28, 2025

Năm thứ 3 - Những môn học đầu tiên về chuyên môn nghiệp vụ của kĩ sư kinh tế nông nghiệp (kì 1)


Mở đề

Đến hết năm thứ 2, chúng tôi mới chỉ được học môn Địa lý kinh tế - “màn dạo đầu” để đi vào chuyên môn. Bắt đầu từ năm thứ 3, chúng tôi được học Kinh tế nông nghiệp (ở kì 1) và Thống kê nông nghiệp cùng Kế toán nông nghiệp (ở kì 2). Việc bố trí chương trình theo tôi là khá hợp lý: người ta đưa hết môn cây trồng vào kì 1, chỉ “nếm thử” Kinh tế nông nghiệp để kì 2 đủ sức “xơi” tiếp 2 môn chuyên môn: Kế toán nông nghiệp và Thống kê nông nghiệp. Môn Kinh tế nông nghiệp là nền tảng kinh tế khi đã “ngấm” vào đầu rồi thì có cơ sở để tiếp nhận các nghiệp vụ chuyên môn. Các anh KT18 nói với chúng tôi: kĩ sư kinh tế nông nghiệp chỉ cần vững 3 “món võ”: Thống kê, Kế toán và Kế hoạch là đi đâu cũng sống được. Chúng tôi tiếp thu kiến thức năm thứ 3 trên tinh thần rất háo hức vì coi đó là những gì cần thu hoạch để ra trường đi làm kiếm ăn, để tìm đường làm nên sự nghiệp của người kĩ sư kinh tế.

Tôi sẽ lần lượt ghi chép lại kí ức theo từng môn học bởi có những lôgic chung nhưng lại rất riêng về chuyên môn. Mặt khác, các kí ức còn nhớ lại phần lớn từ những người thầy dạy thời đó. Lần theo kí ức những gì người thầy dạy sẽ nhớ dần ra các câu chuyện của chúng tôi. Cũng phải kể đến chuyến đi thực tập giáo trình lần 1 ở khối HTX chính là thực tập 2 môn học Thống kê và Kế toán nông nghiệp. Đó cũng là trải nghiệm rất thú vị vì chúng tôi sẽ được quan sát và bắt tay vào một số công việc trong thực tế gắn với những gì được học trong trường.

Tôi tạm chia ghi chép này thành các kì: Học môn Kinh tế nông nghiệp; Học môn Thống kê nông nghiệp; Học môn Kế toán nông nghiệp và Chuyến đi thực tập giáo trình lần 1.

 

Học môn Kinh tế nông nghiệp

Môn học được thiết kế 120 tiết học trong học kì 1 năm học 1978-1979 (năm thứ 3). Giáo viên giảng dạy là thầy Kĩ sư[1] Nguyễn Dương Đán và thầy Kĩ sư[2] Phạm Vân Đình.

Phần giảng dạy của thầy Nguyễn Dương Đán

Về nội dung thì tôi không nhớ được cụ thể, kí ức chỉ còn đôi điều không rõ ràng lắm. Phần thầy Đán dạy trước, hình như 2 chương đầu, gồm Chương mở đầu (đối tượng, phương pháp…) và Chương cơ sở kinh tế sản xuất nông nghiệp (HTX và NTQD, Trạm trại sản xuất).

Hồi thầy Đán giảng bài, có lí do gì đó ở CLB Cán bộ nên chúng tôi được bố trí học ở tầng 1 CLB Sinh viên. Một phòng học nhỏ hơn nên 2 lớp phải ngồi 3 người 1 bàn. Thầy Nguyễn Dương Đán người thấp nhỏ, nói nhẹ, giọng Nghệ An nghe khá rõ nhưng thầy nói đều đều không lớn nên thầy thường đứng ngay trước dãy bàn thứ nhất để giảng chứ không đứng vào chỗ kê có bàn kê trên bục giảng. Thầy cũng rất ít viết trên bảng.

Thầy khi đó khoảng 50 tuổi, ăn mặc khá nghiêm chỉnh, tóc chải mướt lên trên. Thầy có nét nói chuyện khá duyên vì miệng như luôn có nụ cười rất sẵn sàng. Nghe nói thầy từng đi học ở Trung Quốc. Lối giảng chậm rãi, ôn hòa, nhẹ nhàng, bài giảng trơn tru trôi qua đầu óc chúng tôi nghe khá hay mà sao không đọng lại được nhiều. Thầy rất ít ví dụ minh họa mà nêu nhiều nguyên lý kiểu áp đặt, chẳng hạn nào là tổ chức HTX là tất yếu, không còn cách nào tốt hơn đối với nông dân là gia nhập HTX, nào là NTQD là mô hình tiên tiến trong tổ chức sản xuất nông nghiệp, nào là mô hình phân phối trong HTX bảo đảm nguyên tắc hài hòa, lấy tích lũy làm cơ sở phát triển nhưng vẫn bảo đảm cuộc sống người lao động, không tạo ra phân hóa giàu nghèo… Đại loại những thứ nếu ngày nay mà nghe thì chúng tôi đều biết thầy đã gieo vào đầu chúng tôi bao nhiêu sự “giáo điều” lý thuyết – mà hồi đó kiến thức kinh tế đâu đâu cũng chỉ rặt một thứ giáo điều! Cũng rất may là trong cuộc sống sau này chúng tôi đã không bị cột chặt vào những giáo điều ấy khi thấy sự vận động của thực tiễn nhiều khác biệt thú vị.

Hồi đó môn Kinh tế nông nghiệp đã có giáo trình in cẩn thận, chính thầy Đán là một trong những tác giả của giáo trình ấy (cùng chung tác giả với thầy khác tôi không nhớ tên, hình như thầy Nguyễn Lân thì phải). Vì có giáo trình nên phần đọc chép đỡ đi nhiều và vì thế chúng tôi có nhiều thời gian để nghe giảng. Thời đó học không hề có sự tương tác như sau này – chỉ duy nhất thầy nói trò nghe và ghi chép. Kiểu giảng của thầy rất đều đều, âm lượng không bao giờ được nhấn mạnh lên xuống ngữ điệu, không có sự khoa tay “chém chặt” nhấn ý chốt từ. Bài giảng từ lúc vào đến lúc ra như một bài ru nhẹ nhàng, êm ái để người nghe không có ý thức ghi tâm mà như thưởng thức sự ru ngủ nhẹ nhàng.

Vì lối giảng không có tương tác nên chúng tôi thấy không bao giờ thầy nêu ra câu hỏi hay vấn đề gì để tranh luận hoặc bắt chúng tôi phải suy nghĩ. Đến lớp nghe “kinh” về kinh tế nông nghiệp mà không sao nhớ được những điều thầy đang nói và cũng không thấy trăn trở gì về những điều thầy đang dạy. Chỉ có cảm giác thấy mình không hề yên tâm chút nào về cái mình học được gì từ những kiến thức “cao siêu” kia, lại như có một chút lo âu về việc làm sao áp dụng được chúng khi đi làm sau này. Cứ tưởng những vấn đề chuyên môn là những điều mình học như “nhặt lấy kiến thức cho vào bị” để ra trường lấy ra thực hành thì trái lại: không thấy cái gì có thể “nhặt được” từ những điều thầy Đán dạy.

Chẳng hạn thầy nói về đặc điểm sản xuất nông nghiệp: một là, sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào tự nhiên; hai là, ruộng đất là TLSX không thể thay thế; ba là, đối tượng sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống và bốn là, sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ. Những kiến thức này thật ra không ấn tượng lắm vì chúng vừa như tất nhiên, vừa là những tổng kết có vẻ không điển hình lắm so với những gì chúng tôi từng chứng kiến nông nghiệp thời tuổi thơ chăn trâu, cắt cỏ, kiếm cá, làm đồng. Trong lòng cứ nghĩ đại học phải học những cái gì to tát, xa xôi chứ những món này như đều đã “biết cả rồi”…

Phần giảng của thầy Phạm Vân Đình

Thầy Đình dạy liên quan đến các vấn đề về kinh tế đất đai, tư liệu sản xuất, chế độ phân phối thu nhập... Tôi lần lượt nhớ cảm giác nghe bài giảng của thầy để lôi ra vài kí ức liên quan đến các nội dung còn đôi chút sót lại “lơ mơ” theo các buổi thầy giảng.

Tôi thấy phần thầy Phạm Vân Đình dạy rõ và cụ thể hơn rất nhiều. Khi đó chúng tôi đã trở lại học ở Giảng đường 8 CLB Cán bộ rộng rãi hơn. Thầy Đình tốt nghiệp Đại học Kinh tế - Kế hoạch (tương đương khóa 12 của ĐHNN I). Thầy Đình quê Thái Bình, người cao và gầy, trán hói. Mặc dù cũng không hề có ý tương tác với người học nhưng thầy lên xuống giọng và đi lại nhiều để mỗi buổi giảng lần lượt trình ra bảng đen một “danh mục” nội dung cần trình bày. Có lúc như thầy đang thao diễn: không nhìn xuống lớp, mỗi khi dừng viết là đứng trước bục nhìn xa xăm lắm, như là ở nơi xa ấy có “cái kho” để thầy lấy chữ giảng bài cho chúng tôi.

Thầy Đình có lối giảng thích viết bảng, cuốn hút người nghe bằng kiểu nêu vấn đề và diễn giải khá lôgic. Cấu trúc bài giảng của thầy rất rõ ràng: các phần đều có các ý đi kèm cụ thể (trái hẳn lối dạy của thầy Đán). Các mục có nhiều ý, mỗi ý có nhiều gạch đầu dòng là các nội dung chi tiết. Khi cần giảng thì thầy dừng lại rồi sau đó thêm ý tiếp. Cách giảng đó ghi chép rất dễ dàng và cũng cơ bản hiểu được khi các ý được phân chia ra nhiều nội dung nhỏ… Chỉ có điều khi phải học và nhớ thì rất khó nhớ theo đúng trật tự những cái “gạch đầu dòng” của thầy. Tuy nhiên, khi ôn và thi thì tôi rút ra một điều quan trọng là cứ nhớ đủ ý “gạch đầu dòng” là được, không nhất thiết phải theo đúng trật tự “gạch” trước thì nêu trước, “gạch” sau nêu sau. Đại loại như một mâm cỗ có 5 món ăn, ai nêu món nào trước cũng được miễn sao đủ 5 món là xong. Người ta gọi cách dạy kinh tế như thế này là “chỉ cần đủ, không cần lôgic”. Chẳng hạn chúng tôi học môn cây trồng thì nếu “gạch đầu dòng” 1 là làm đất, “gạch 2” là gieo hạt, “gạch” tiếp là tưới nước, bón phân, thu hoạch. Không thể có “gạch” thu hoạch trước “gạch” làm đất hay gieo hạt. Cần đủ là được tất nhiên dễ hơn so với vừa đủ lại vừa phải lôgic. Phần dạy của thầy dễ nhớ và dễ học – dễ vì miễn sao kê cho đủ các “gạch đầu dòng”, mà giả dụ có thiếu vài cái “gạch” thì cũng không sao vì như mâm có 5 món mà chỉ nhớ có 3 món – kết quả là nhớ thiếu 2 món chứ không vì thế mà gọi là sai được!

Tôi còn có ấn tượng về vài nội dung thầy dạy. Thầy nhấn mạnh đất đai trong nông nghiệp vừa là tư liệu sản xuất vừa là đối tượng sản xuất. Đây là lần đầu tiên tôi phân biệt được rõ đối tượng sản xuất và tư liệu sản xuất so với những gì tôi được học ở môn Kinh tế chính trị (năm thứ 2). Đất đai là tư liệu sản xuất với tư cách như một công cụ lao động, nhưng lại vừa là đối tượng sản xuất chủ yếu và không thể thay thế với tư cách đất đai là nền tảng để tiến hành sản xuất (cày cấy, trồng trọt), là nơi chứa đựng, cung cấp sản phẩm (cây, quả, lâm sản). Nói rõ thêm là: khi coi đất đai như tư liệu sản xuất nghĩa là cần có mặt bằng để tiến hành các hoạt động canh tác để tạo ra sản phẩm (như để trồng cây, chăn nuôi, trồng rừng). Còn khi coi đất đai là đối tượng sản xuất vì thấy đất đai là trực tiếp chứa đựng sản phẩm của lao động (chứa hạt giống, cây trồng, vật nuôi), là tài nguyên thiên nhiên được khai thác để tạo giá trị cho con người. Trong trồng trọt, người nông dân cày xới đất (sử dụng đất như công cụ) để cấy lúa và chính cây lúa mọc lên từ đất (đất là đối tượng được tác động để tạo ra sản phẩm). Trong chăn nuôi, đất là không gian cho chăn nuôi (tư liệu sản xuất) và là nơi sinh trưởng cho gia súc (đối tượng sản xuất). Do đó, đất đai có vai trò độc đáo, vừa là yếu tố đầu vào (tư liệu) vừa là yếu tố được tác động và tạo ra sản phẩm (đối tượng) trong quá trình sản xuất kinh tế, đặc biệt là nông nghiệp. 

Về đặc điểm ruộng đất cũng có nhiều điểm rất đáng nhớ: a/ ruộng đất là sản phẩm của tự nhiên và sản phẩm của lao động; b/ ruộng đất bị giới hạn không gian, nhưng sức sản xuất của ruộng đất không giới hạn; c/ ruộng đất có vị trí cố định và chất lượng các vị trí không đồng đều; d/ ruộng đất là TLSX chủ yếu nhưng không bị hao mòn, đào thải mà trái lại hoàn toàn có thể làm độ phì của đất tốt lên. Các ví dụ minh họa về 4 điểm này đều rất rõ và dễ thấy. Tuy nhiên, hồi đó chưa thừa nhận thị trường đất đai nên thầy giáo khi đó có thể cũng chưa biết hết về nội dung thứ 3 (tức ý c/) rằng mỗi một thửa đất đều là một đơn vị hàng hóa “độc nhất vô nhị” trên thị trường như ngày nay quan niệm.

Cũng từ nội dung học của thầy Đình mà tôi bắt đầu rõ được một điều rất quan trọng: một quá trình sản xuất cần tối thiểu 3 thứ: người lao động cầm trong tay công cụ lao động để tác động vào đối tượng lao động. Ba thứ đó được gọi là 3 yếu tố của một quá trình sản xuất: sức lao động – tư liệu lao động – đối tượng lao động. Một quá trình sản xuất nhất thiết phải đủ 3 yếu tố (yếu tố là thành tố trọng yếu nhất thiết phải có, thiếu một trong 3 yếu tố thì không thể thành được một quá trình sản xuất)[3]. Trong nông nghiệp cổ truyền, người nông dân (sức lao động) cầm cây gậy nhọn (công cụ lao động) chọc những cái lỗ trên đất để tra hạt giống xuống (đất và hạt giống là đối tượng lao động) rồi chờ cây mọc lên, ra sản phẩm để thu hoạch. Thế là đủ cho một quá trình sản xuất hoàn chỉnh! Sau này, trong kinh tế hàng hóa, quan hệ tiền – hàng xuất hiện và khi các quá trình sản xuất không thể thiếu thành phần công nghệ thì người ta diễn giải còn có thêm yếu tố vốn, yếu tố công nghệ

Một nội dung khác của phần thầy Đình dạy: thâm canh trong nông nghiệp là con đường chủ yếu để phát triển sản xuất nông nghiệp. Thâm canh được thầy giảng rất dễ nhớ: thâm canh là sự đầu tư thêm sức lao động hoặc tư liệu sản xuất để tạo ra nhiều sản phẩm hơn trên một đơn vị diện tích hay một đơn vị diện tích được sử dụng hiệu quả để tạo ra nhiều sản phẩm. Cứ đầu tư thêm (mọi thứ) để kiếm nhiều sản phẩm tăng thêm trên một đơn vị sản xuất nông nghiệp là thâm canh (chú ý: chưa hẳn đã hiệu quả hơn nếu giá trị tăng thêm không lớn hơn chi phí tăng thêm). Trong canh tác nông nghiệp, trái với thâm canh (intensive farming) là khái niệm quảng canh (extensive farming)[4].

Chúng tôi còn được thầy kĩ sư Nguyễn Tiến Thêu dạy chương Kinh tế lao động thay thầy Đình. Thầy Nguyễn Tiến Thêu (quê Thanh Hóa) chỉ dạy có 2 buổi về kinh tế lao động trong nông nghiệp và bản thân thầy Thêu có viết một cuốn bài giảng mỏng chỉ riêng về kinh tế lao động. Cuốn sách in roneo trên giấy đen, không đẹp và chỉ mấy chục trang nhưng chúng tôi rất tôn trọng vì cũng coi như biết được quá trình lao động giảng dạy của thầy Thêu đã đủ tích lũy để có viết được sách. Tôi đã mượn được cuốn của thầy trên thư viện và thấy cách viết về kinh tế lao động của thầy Thêu rất dễ nhớ và khá hay. Lao động là một trong 3 yếu tố của quá trình sản xuất. Lao động là nguồn tạo ra của cải, lao động cũng cần tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng. Tái sản xuất giản đơn là sự phục hồi sức khỏe để sản xuất tiếp, còn tái sản xuất mở rộng là người lao động được đào tạo, tích lũy để nâng cao chất lượng lao động, nâng cao năng suất lao động, người lao động được chăm lo bồi bổ sức khỏe cho bản thân và cuộc sống cho gia đình để khỏe mạnh, hạnh phúc dài lâu.

Môn Kinh tế nông nghiệp thi vấn đáp ngày 20-1-1978, tôi đạt 4/5 điểm. Nghe nói môn này thi vấn đáp chưa có ai được 5/5 điểm.

Một vài câu chuyện liên quan về học môn Kinh tế nông nghiệp

·     Tôi được dự buổi bảo vệ luận án PTS của thầy Nguyễn Dương Đán

Khi dạy chúng tôi, thầy Đán đang làm luận án PTS kinh tế. Vào năm 1979 thầy bảo vệ luận án tại Hội trường C[5]. Khi đó, tôi nghe thông báo trên loa nhà trường nên đã đến dự vì sự tò mò. Đề tài nghiên cứu sinh của thầy có tên đại loại là “Chăn nuôi lợn tập thể trên quy mô liên HTX” (tôi không nhớ chính xác). Tôi biết có một số anh em lớp KT20AB được cử đi thực tập có đến các HTX ở Yên Phong, Bắc Ninh, nơi thầy triển khai đề tài và một số địa phương khác như ở Nam Định, Gia Lâm. Hình như KT20A có nhóm của Nguyễn Các Mác lúc đó cũng đến Yên Phong thực tập giáo trình về đề tài của thầy.

Hôm bảo vệ, tôi thấy thầy trình bày ý tưởng rằng nếu các HTX liên kết chăn nuôi lợn quy mô lớn thì có thể hình thành nên vùng sản xuất thức ăn gia súc tập trung. Một ý tưởng kiểu sản xuất lớn XHCN lúc ấy. Sau này thì có lẽ đề tài không áp dụng được nhiều vì mô hình HTX toàn xã suy yếu dần từ những năm 1979-1980[6]. Nhưng nếu ngày nay nhìn lại thì tôi nghĩ đề tài của thầy có khi lại là ý tưởng hay khi đặt vấn đề sản xuất theo chuỗi ngành chăn nuôi lợn tập trung?

Hôm bảo vệ tôi thấy trong Hội đồng gồm 11 nhà khoa học đến từ nhiều trường do thầy Lê Duy Thước làm Chủ tịch Hội đồng[7]. Các thầy đều ăn mặc sang trọng, áo trắng đeo có cà-vạt. Lại thấy cả thầy Trần Văn Đức, Giang Quốc Úy[8] ở bộ môn Kinh tế nông nghiệp cũng áo trắng đeo cà-vạt ngồi dự, oai ghê!

·     Chuyện “mở rộng” khái niệm thâm canh trong nông nghiệp

Khi dạy khái niệm thâm canh (là đầu tư thêm về lao động sống hoặc tư liệu sản xuất trên một đơn vị diện tích để tăng thêm sản lượng), thầy Đình liên hệ trong thực tế chuyện tăng vụ cũng là một kiểu thâm canh khi diện tích được quay vòng nhiều lần trong năm (tức là đã đầu tư thêm chi phí và lao động).

Khái niệm thâm canh được “mở rộng” ra cả lĩnh vực khác. Hồi đó tôi vẫn chỉ có vài bộ quần áo. Thấy hôm nào tôi cũng mặc áo bộ đội vải Tô Châu cũ từ năm thứ nhất, Cao Ngọc Đức đùa rằng: Ảnh vận dụng đúng khái niệm thâm canh, chỉ một áo sơ mi mà dùng nhiều lần trong tuần coi như một dạng “thâm canh cao” rồi. Hồi đó Cao Ngọc Đức có áo sơ mi vải nilon màu xanh lam rất đẹp, ngoài ra còn vài bộ để thay đổi trong khi tôi chỉ “thâm canh” cái áo bộ đội vải Tô Châu cũ sờn. Nhờ chuyện vui này đã giúp nhau nhớ lâu hơn về khái niệm thâm canh đã học.

Áo vải Tô Châu bộ đội cũ sờn năm ấy

·     Chuyện tập huấn đi thực tập giáo trình môn Kinh tế nông nghiệp

Vào kì 2, mặc dù môn Kinh tế nông nghiệp đã thi từ kì 1 nhưng khi đi thực tập giáo trình lần 1, Bộ môn Kinh tế nông nghiệp vẫn đưa nội dung này vào để chúng tôi tìm hiểu trong thực tế các HTX. Thầy Đình hướng dẫn đề cương về tìm hiểu cơ cấu đất đai HTX: mỗi nhóm phải có báo cáo sử dụng đất, đánh giá tình hình sử dụng đất theo một bảng thống kê có mẫu sẵn. Khi đi thực tập chúng tôi cũng có làm theo nhưng khi về thì không thấy ai nói gì vì môn học đã thi xong nên chắc các thầy cũng quên, thành ra có tìm hiểu, có thu thập và viết báo cáo nhưng không phải nộp. Nhiều nhóm đã khôn nên không làm báo cáo. Nhóm tôi vẫn làm nghiêm túc, nhưng cũng coi như “vô tác dụng”.

 

 



[1] Thầy Nguyễn Dương Đán bảo vệ luận án PTS năm 1979 tại ĐHNNI, được công nhận là PGS kinh tế năm 1991.

[2] Thầy Phạm Vân Đình bảo vệ luận án PTS tại Bulgaria năm 1986, được công nhận PGS năm 1996, GS kinh tế năm 2003. 

[3] Các yếu tố sản xuất ngày nay được diễn giải không cơ bản như hồi chúng tôi học. Người ta bàn đến rất nhiều yếu tố “linh tinh” khác, không còn tính “không thể thiếu” của các yếu tố cơ bản.

[4] Về khái niệm thâm canh và quảng canh, mời xem thêm tại https://bloomranchofacton-com.translate.goog/pages/what-is-the-difference-between-extensive-and-vs-intensive-farming?_x_tr_sl=en&_x_tr_tl=vi&_x_tr_hl=vi&_x_tr_pto=tc

[5] Thầy Nguyễn Dương Đán là người bảo vệ thành công luận án PTS thứ 3 của trường ĐHNNI (sau thầy Phan Trọng Cung ngành Thú y và thầy Trần Long ngành chọn giống cây trồng), nhưng là người đầu tiên bảo vệ thành công luận án PTS ngành kinh tế.

[6] Từ 1982 bắt đầu có Chỉ thị 100 về khoán trong nông nghiệp.

[7] Sau này tôi có thời gian làm việc ở Khoa sau Đại học nên tôi biết danh sách 11 thầy trong Hội đồng chấm luận án của thầy Đán do thầy Lê Duy Thước làm Chủ tịch Hội đồng.

[8] Lúc này thầy Úy vẫn là Giáo viên Chủ nhiệm lớp KT20A, còn thầy Đức học KT16 được ở lại trường. Chúng tôi cũng đã biết từ thời thầy Đức còn ở KTX nhà B3.

Thứ Ba, tháng 12 16, 2025

Kĩ sư kinh tế nông nghiệp được học những gì về cây trồng (kì 3)


Cây công nghiệp và rau quả

Chúng tôi có một nửa thời gian học môn Trồng trọt chuyên khoa gồm rất nhiều loại cây công nghiệp: nhóm cây công nghiệp lâu năm gồm chè và cà phê do thầy Nguyễn Ngọc Kính dạy (30 tiết), nhóm cây công nghiệp lưu niên gồm mía, cói do cô Đoàn Thị Thanh Nhàn dạy (30 tiết), nhóm cây công nghiệp ngắn ngày gồm lạc, đậu tương do thầy Lê Song Dự dạy (30 tiết).

Vào kì 2 năm thứ 3 còn có thêm môn Rau quả (45 tiết) gồm cà chua, bắp cải, su hào do cô Tạ Thị Thu Cúc và chuối, dứa do thầy Cao Anh Long dạy.

Phải nói ai từng được học thầy Nguyễn Ngọc Kính[1] đều thích những điều mình được nghe và đều yêu kính thầy. Hồi đó thầy là Phó tiến sĩ, đang quản lý Khoa Trồng trọt (Trưởng hay Phó gì đó), sau đó thầy chuyển sang Bộ Nông nghiệp, khi về hưu thầy là Vụ trưởng Vụ Khoa học Bộ Nông nghiệp.

Thầy cao chừng 1.67-1.68m, da trắng, khuôn mặt hơi vuông, thanh tú, rất đẹp trai. Nhìn chân râu cạo mịn thấy nét mờ xanh trên môi rất duyên với cái miệng rộng, bộ răng trắng đều, nụ cười nhẹ rất duyên mà tự nhiên không phô trương. Giọng nói ấm và vang, sang trọng, chuẩn âm xứ Bắc. Thầy luôn mang trang phục đẹp, không hào nhoáng nhưng rất hào hoa và hấp dẫn, xứng với thân hình và trình độ kiến thức của thầy.

Học cây chè là cơ hội chúng tôi được biết về trình độ người dạy đại học, cách dạy, sự tôn trọng người học, biết nhớ rất sâu không chỉ kiến thức dạy mà cả những câu chuyện của người dạy. Điều trước hết chúng tôi nhận ra là sự uyên thâm kiến thứckhông câu nệ người học là trong ngành hay ngoài ngành. Kiến thức về cây chè được nêu rất có căn cứ khoa học: quan hệ giữa tán lá và bộ rễ, tính chất sinh trưởng cây chè theo tuổi cây lâu năm, sự tạo tán và năng suất chè búp, lứa hái, phẩm cấp hái và quan hệ của chúng với chất lượng thành phẩm chế biến, đốn phớt đốn đau trong tạo tán và sự điều chỉnh tán lá tạo búp theo tuổi cây… Chỉ mươi tiết học về cây chè mà chúng tôi còn được biết về lịch sử cây chè ở Việt Nam, tuổi thọ vườn chè từ các đồn điền người Pháp, những truyền thống uống trà (chè) trên thế giới. Đó là người thầy giỏi chuyên môn, nhưng chính là giỏi truyền đạt và đưa cảm hứng của thầy vào người học một cách tài tình, tự nhiên mà truyền cảm. Với những tiết học như thế, chúng tôi như bị thôi miên của một nhà truyền thụ tài ba, hào hoa nhưng không hề tỏ ra khoe trương, phô diễn kiến thức hay tìm cách dụ dỗ lôi kéo người nghe. Kiến thức thầy dạy như những giọt mật ngọt thấm sâu vào não bộ để giữ mãi kí ức về những buổi dạy của thầy.

Tôi nhớ thầy dạy thường liên hệ chè Việt Nam với chè ở Miến Điện, Ấn Độ, Sri Lanka, Grudia và Trung Quốc. Sau này tôi biết thầy từng học đại học ở Trung Quốc, làm nghiên cứu sinh về chè ở Liên Xô (Cộng hòa Gruzia), từng nghiên cứu sâu về chè ở Miến Điện, và Ấn Độ - những “quê hương” của chè.

Trong một buổi dạy, thầy có đọc cho chúng tôi nghe một đoạn thơ cổ về uống chè, gọi là “Trà ca” được lược dịch theo kiểu dễ nhớ, dễ thuộc ở khổ thơ uống 7 chén trà. Nghe thầy đọc xong, anh Trần Duy Học thuộc gần hết bài này và về phòng anh cứ bàn tán mãi về “thất trản trà[2]của thầy. Anh Học nói chén thứ 6 mà thầy mở ý là người uống đã như “thông cảm được với các vị tiền bối” là câu có nhiều nghĩa nhất. Phải đến chén thứ 6, chè mới ngấm đến tâm can người thưởng trà để bỗng “ngộ ra” được rằng chất dẫn ấy đưa người uống đến với các vị tiền bối trong nhân gian. Các tiền bối tài ba, nhưng cũng nhiều khốn khó và bế tắc, ta biết thông cảm với họ thì họ đều là thần tiên cả!

(À, các anh chị KT20A có biết không: tôi viết bài này mấy buổi mới xong, mà khi viết những dòng này chính là giờ tôi đang thảnh thơi thưởng những chén trà tôi dành cho kí ức – những chén trà thông cảm với các vị tiền bối – trong đó có người thầy đáng kính của tôi).

Hồi đó thầy dự kiến 30 tiết dạy 3 cây: chè – cà phê – cao su, nhưng thầy nói ta tạm bỏ qua cao su vì nếu có nói cũng không đủ thời gian cho 30 tiết với 3 cây. Cây cà phê thầy cũng không dạy nhiều, tôi chỉ còn nhớ có những giống mà thầy nói dân ta thường gọi là cà phê chè, cà phê mít, cà phê vối[3] là cách gọi rất hay và chính xác.

Riêng về cà phê vối thầy nói nhanh về kĩ thuật tạo tán cho cây sẽ quyết định năng suất của cây. Thầy cũng kể vài câu chuyện về chế biến cà phê cùng thói quen uống của người châu Âu. Nói chung, chúng tôi thấy chuyện cây chè đã “át hết” chuyện về cây khác thầy muốn nói.

Cũng nhờ học đặc điểm chè và cà phê mà sau này tôi biết có nhiều phương pháp khấu hao vườn cây lâu năm. Vườn chè được coi là tài sản cố định (TSCĐ), có những vườn chè Pháp trồng ở phía Bắc nay đã trên 100 năm vẫn còn thu hoạch được như ở Phú Hộ, Phú Sơn (Phú Thọ ngày nay). Người ta đã nghĩ ra phương pháp khấu hao theo sản lượng (tức là gắn với tuổi cây). Còn về cà phê vối (Robusta) thì quá trình tạo tán rất công phu để cà phê ra nhiều cành, cho nhiều quả. Có thời Bộ Nông nghiệp quy định phân bổ chi phí tạo cành của cà phê vối và tạo tán bằng cách đốn phớt, đốn đau của chè là loại chi phí tương tự như chi phí “sửa chữa lớn TSCĐ” trong chế độ kế toán.

Nay thầy Kính vẫn còn khỏe, hàng năm vẫn về Khoa Cây trồng để dự ngày 20-11. Tôi dành cho thầy Kính những điều trang trọng trên mà vẫn tưởng mình vẫn còn quá khiêm tốn - thầy Kính còn là thầy trực tiếp của tôi nhiều năm sau nữa. Đối với thầy Kính, tôi có rất nhiều kỉ niệm vì từ 1991-1996, GS TS Nguyễn Ngọc Kính là người hướng dẫn thứ 2 cho luận án tiến sĩ của tôi khi tôi chọn cây chè làm đề tài nghiên cứu sinh (người hướng dẫn thứ nhất là GS TS Trần Đình Đằng). Có điều kiện tôi sẽ ghi chép trong hành trình 35 năm tôi dạy học để kể thêm về người hướng dẫn thứ hai rất đáng kính này. Dưới đây chỉ xin nói thêm vài nét ngắn.

Từ những gì học được của thầy Kính khi nghe giảng từ năm 1978, tôi đã giữ trong mình ấn tượng về một người thầy giỏi và tài hoa. Ra trường đi lính vào QK9, ngồi uống trà kiểu người Nam – kiểu trà ướp đậm hương hoa nhài – mỗi buổi lên phòng ngồi chờ hết giờ hoặc những lúc kéo nhau ra quán cà phê làm “cái đen”[4] để “ực” một nhát hết rồi uống ấm trà bằng nhôm màu trắng đục của quán mà “châm” đến mấy lần nước. Uống mãi mà không thấy có cảm giác chén nào như 7 chén của “trà ca”. Khi về trường làm giảng viên đại học, lâu lâu kiếm được ấm chè ngon thì uống kiểu HTX, có khi đến cả chục người đứng ngồi uống nói chuyện là chính nên chưa từng gặp được cảm giác “trà ca”.

Năm 1990, khi hết mộng đi nước ngoài vì Liên Xô tan rã (đã không còn nhận nghiên cứu sinh Việt Nam) tôi mới chuyển làm nghiên cứu sinh ở Việt Nam. Ngồi ngẫm nghĩ mãi những gì mình học hồi đại học chỉ thấy nhớ đến thầy Kính. Thêm nữa, khi đó đã có mấy lần đưa sinh viên đi thực tập về chè ở Mộc Châu, ở Thanh Sơn, tôi mới nghĩ đến hay là chọn nghiên cứu về kinh tế sản xuất chè.

Rồi được thấy chuyện nước ta xuất khẩu chè đen sang châu Âu, sang I rắc. Khi lên nông trường Mộc Châu tận mắt thấy kĩ thuật chế biến chè đen. Mỗi lần đưa sinh viên đi thực tập, dẫn tụi trẻ thích gọi “thầy bằng anh” vào nương hái chè với công nhân, tôi mới biết chuyện quy định lứa hái của nông trường: lệnh hái non hay già quyết định năng suất chè búp và quyết định phẩm cấp thành phẩm xuất khẩu. Tôi thống kê báo cáo về số lứa hái, sản lượng hái, phẩm cấp búp tươi trong từng lô chè và hình thành câu chuyện rất lý thú: quan hệ giữa năng suất, phẩm chất chè búp và phẩm cấp thành phẩm chế biến. Có nhiều vấn đề mâu thuẫn trong quan hệ số lượng, chất lượng. Đại loại là hái chè búp tươi dài ngắn khác nhau sẽ có thời gian lứa hái khác nhau, sản lương trung bình của vườn cây trong năm khác nhau và tất nhiên chế biến ra thành phẩm có phẩm cấp khác nhau, từ đó sẽ bán được giá khác nhau.

Tôi bàn chuyện này với thầy Kính nhân một lần hội thảo được gặp thầy. Thầy nói đúng như thế, nếu muốn quan tâm kĩ hơn thì thầy sẽ giúp được chuyện tư vấn cho tôi. Khi đó thầy Trần Đình Đằng đồng ý giúp tôi là người hướng dẫn thứ nhất, người hướng dẫn thứ 2 thì nhiều người khuyên tôi chọn một thầy ở Đại học Kinh tế Kế hoạch (nay là KTQD). Tôi cũng đã gặp nhiều GS ở Đại học Kinh tế - Kế hoạch và họ cũng sẵn sàng giúp. Tuy nhiên tôi nghĩ vấn đề nghiên cứu phải có một người tư vấn về kĩ thuật để sau này kết quả nghiên cứu sẽ không bị tranh cãi khi các vùng, các mảng kiến thức không đủ thấm đều cho các chuyên gia đánh giá trong hội đồng. Thế là tôi nhờ thầy Kính giúp. Từ đây mọi chuyện liên quan đến kĩ thuật cây chè đều được thầy Kính tư vấn rất rõ ràng và nhờ thế tôi đã dùng một thuật toán của bài toán quy hoạch tuyến tính kết hợp khâu sản xuất chè búp với khâu chế biến chè xuất khẩu (xanh, đen, vàng) để tối ưu mục tiêu hiệu quả sản xuất – chế biến. Phần toán thì thầy Kính không hiểu lắm nhưng các tư vấn về kĩ thuật chè giúp tôi bảo vệ thành công luận án ngày 16-1-1996. 

Khi làm nghiên cứu sinh về chè tôi mới được tiếp cận bài thơ hồi thầy dạy cách đầy đủ, đó là bài thơ nhiều người gọi là Trà ca của Lô Đồng. Nay thì tư liệu này rất dễ tìm thấy trên internet (xem tư liệu[5] và chi tiết ở đường link trong chú dẫn này).

Cây công nghiệp lưu niên: mía, cói cô Đoàn Thị Thanh Nhàn dạy.

Cô Nhàn[6] có khuôn mặt tươi tắn, khá cao và xinh, giọng nói rõ và giảng bài hay lại rất thuộc giáo án. Tuy nhiên các nội dung cô Nhàn dạy tôi không nhớ gì nhiều.

Người ta gọi những cây công nghiệp lưu niên hay lưu gốc vì chúng được trồng 1 năm có thể thu hoạch 2-3 năm. Trong kế toán người ta dùng kĩ thuật phân bổ chi phí chứ không khấu hao như cây lâu năm.

Cây công nghiệp ngắn ngày: đậu tương, lạc do thầy Lê Song Dự[7] dạy. Thầy Dự thấp bé, giọng Nghệ An đặc, nói khó nghe. Thầy là anh em gì đó với Hiệu trưởng Lê Duy Thước. Gọi là cây công nghiệp ngắn ngày vì trồng mấy tháng là thu hoạch, tính chất công nghiệp của nó vì có thể sử dụng sản phẩm chế biến công nghiệp (làm dầu).

Hồi đó tôi còn nhớ có giống lạc tên là cúc Lục Ngạn, cúc Nghệ An. Sau này được vài lần ăn lạc cúc Nghệ An. Nay giống này chỉ còn trong bảo tồn, không mua được vì dân đã không trồng nữa. Nhưng nếu từng được ăn lạc cúc Nghệ An (tôi chưa từng được nếm cúc Lục Ngạn) thì sẽ không bao giờ có thể quên được. Hạt lạc cúc Nghệ An màu vỏ lụa đỏ rất đẹp, hạt lại quá bé nhưng độ bùi và thơm của nó thì không loại nào sánh kịp.

Môn học Rau quả (45 tiết) do cô Tạ Thị Thu Cúc[8] dạy phần rau, thầy Cao Anh Long[9] dạy phần quả.

Cô Cúc sau này bảo vệ luận án tiến sĩ về giống cà chua xuân hè, một giải pháp để có thể trồng được cà chua trái vụ ở miền Bắc (trước chỉ có 1 vụ cà chua đông). Nhưng khi dạy thì tôi không nhớ ấn tượng gì, hay tại mấy cây rau này cũng không có gì xa lạ với chúng tôi. Tôi chỉ quan tâm cách phòng trừ bệnh cà chua mốc sương[10] thối quả vì hồi ở nhà, nhiều khi trồng được những vườn cà chua rất tốt mà gặp bệnh mốc sương là trắng tay.

Thấy Long dạy phần cây chuối và dứa. Tôi cũng chỉ còn nhớ một thông tin lý thú được thầy Long cho biết là trong dân gian người ta tình cờ tìm ra phương pháp cho dứa ra quả bằng cách “đạp dứa”, tức là giẫm lên cây cho dứa đổ nghiêng ra, các cây đổ nghiêng sẽ ra hoa. Sau này tình cờ người ta phát hiện ra các cây dứa gần chỗ bị đốt cỏ cũng nhiều quả, từ đó phát hiện ra khói có liên quan đến phát dục hoa dứa để sau này người ta biết cho dứa ra hoa bằng cách dùng đất đèn[11].

Đây là câu chuyện cũng được lớp KT20A dựng thành một “kịch bản” liên quan đến anh Vũ Đình Hòe, tổ 2. Hồi đó vợ chồng anh Hòe lấy nhau mãi chưa có con. Chị phải ra trường thăm anh mấy lần và đã sinh được cháu. Mấy anh lớn tuổi như anh Nguyễn Đức Trí, Phùng Đức Thoại nói rằng tại anh Hòe không biết kĩ thuật “đạp dứa”. Nhờ được học môn cây dứa mà anh Hòe đã biết vận dụng cách “đạp dứa” độc đáo để sinh em bé khi chị ra thăm anh ở trường.

*

*  *

Nhiều cây trồng thông dụng cho nông dân vùng đồng bằng Bắc bộ chúng tôi được học ở trường vì khi đó ĐHNN I được coi là nguồn cung cấp cán bộ cho khu vực đồng bằng sông Hồng (ĐHNN II cung cấp cán bộ cho Khu IV, còn ĐHNN III, tức Nông lâm Bắc Thái, cung cấp cán bộ cho miền núi trung du phía Bắc).

Nhìn chung, kiến thức về các cây trồng không nhiều về lý luận, cách trình bày cơ bản chỉ là thời vụ (ngày tháng cụ thể), bón phân (số kg/ha), số lần làm cỏ… thiếu hấp dẫn (kiến thức kiểu này học lúc nào chẳng được). Người dạy khi đó hầu như không thể hiện được những khác biệt về thời vụ ở 3 miền (khi đó miền Nam vừa giải phóng). Cho đến nay người ta đã tổng kết được nguyên lý sống nói chung, trồng cây nói riêng là “người Bắc chống lũ, người Trung né lũ, còn người Nam thì sống chung với lũ”. Chẳng hạn vùng quê tôi Thanh Hóa có nạn lũ tiểu mãn nên mùa vụ phải “né” vì thế thường sớm hơn miền Bắc rất nhiều. Từ “né” nghĩa là không thể chống chọi được (như lũ năm nay - năm 2025 ở miền Trung chẳng hạn). Học các cây trồng chủ yếu có giá trị thực thi “chỉ đạo sản xuất” khi ra trường, tất nhiên phải học thêm nhiều khi trực tiếp tổ chức sản xuất. Một nền tảng cho kiến thức người kĩ sư kinh tế nông nghiệp công tác trên các nông trường quốc doanh hay HTX sản xuất nông nghiệp.

Chuyện thi môn học Trồng trọt chuyên khoa cũng được coi là những đánh giá có tính “chốt” quan trọng. Thi hết môn ngày 30-1-1978 dưới hình thức thi viết và cũng chỉ hạn chế ôn tập cây lương thực và cây công nghiệp dài ngày. Kết quả thi hết môn tôi đạt điểm 5/5.

Khi tốt nghiệp còn có môn thi Kĩ thuật nông nghiệp (gồm phần cây trồng và chăn nuôi). Sinh viên ôn tập cả hai phần chừng 3 - 4 ngày thì tổ chức phụ đạo và bốc thăm phần thi: hoặc chăn nuôi hoặc trồng trọt. Dù sao cũng là dịp bắt sinh viên ôn lại kiến thức cây trồng vật nuôi cơ bản trước khi ra trường. Sau bốc thăm chọn được số người thi trồng trọt và chăn nuôi thì phần ôn tập còn lại (2-3 ngày) chỉ học sâu thêm nội dung riêng phần thi. Một kiểu đánh giá tốt nghiệp như tổng duyệt kiến thức trước khi đưa các kĩ sư vào cuộc sống!



[1] Khi dạy chúng tôi thầy là PTS khoa học. Thầy học Đại học ở Trung Quốc, làm nghiên cứu sinh về cây chè ở Gruzia (Liên Xô). Sau này GS TS Nguyễn Ngọc Kính qua Bộ Nông nghiệp làm đến Vụ trưởng Vụ Khoa học. Vợ thầy là con gái nhà ngoại giao Xuân Thủy nổi tiếng.

[2] “Trản” hay “oản” nghĩa là chén uống trà.

[3] Cà phê chè (Arabica), cà phê vối (Robusta) và cà phê mít (Liberica) là ba giống cà phê chính, khác nhau về đặc tính cây, hương vị và điều kiện trồng

[4] Ly cà phê đen được người Nam gọi tắt là “cái đen”.

[5] Đây là bài thơ có tên Thư viết nhanh tạ ơn quan gián nghị họ Mạnh gửi trà mới, hay Thất uyển trà ca (gọi tắt là trà ca).  Xem thêm tại https://www.thivien.net/L%C6%B0-%C4%90%E1%BB%93ng/T%E1%BA%A9u-b%C3%BAt-t%E1%BA%A1-M%E1%BA%A1nh-gi%C3%A1n-ngh%E1%BB%8B-k%C3%BD-t%C3%A2n-tr%C3%A0/poem-cwd22cTED0FtlMGOAisk5w

Đoạn thơ về uống trà như sau:

Nhất oản hầu vẫn nhuận/Lưỡng oản phá cô muộn/Tam oản sưu khô trường,
Duy hữu văn tự ngũ thiên quyển.
Tứ oản phát khinh hạn/Bình sinh bất bình sự/Tận hướng mao khổng tán.
Ngũ oản cơ cốt thanh/Lục oản thông tiên linh/Thất oản khiết bất đắc dã/Duy giác lưỡng dịch tập tập thanh phong sinh.

Dịch nghĩa

Chén thứ nhất trơn miệng thông họng/Chén thứ hai xua tan sự cô đơn phiền muộn/Chén thứ ba dốc sạch nỗi lòng
Chỉ còn năm nghìn cuốn sách/Chén thứ tư toát mồ hôi/Mọi nỗi bất bình trong đờ
i/Thoát hết ra ngoài theo lỗ chân lông.
Chén thứ năm xương thịt đều trong sạch/Chén thứ sáu thông lên cõi tiên/Chén thứ bảy không nhấp nổi.
Chỉ thấy lớp lớp gió mát sinh ra từ hai bên nách.

[6] PGS TS Đoàn Thị Thanh Nhàn năm 2025 vẫn còn khỏe.

[7] PGS TS Lê Song Dự nay đã mất.

[8] PGS TS NGƯT Tạ Thị Thu Cúc (tức vợ thầy Đằng) nay vẫn mạnh khỏe. Cô là người được Giải thưởng Co-va-lep-kai-a rất sớm trong giới khoa học nữ ở Việt Nam.

[9] KS Cao Anh Long sau này là Trưởng Phòng Khoa học của ĐHNN I. Thầy nay vẫn còn khỏe, năm 2025 vẫn đến dự 20-11 với khoa.

[10] Bệnh mốc sương (sương mai) cà chua do nấm Phytophthora infestans gây ra, rất nguy hiểm, tấn công lá, thân, quả, làm lá úa vàng, thâm đen, quả sượng và thối, có thể gây mất mùa toàn bộ, thường phát triển mạnh trong điều kiện ẩm ướt, mát mẻ, lây lan nhanh qua bào tử.

[11] Đất đèn hay khí đá là 𝐶𝑎𝐶2 dùng để tạo khí axetylen (C₂H₂). 


Thứ Ba, tháng 12 09, 2025

Kĩ sư kinh tế nông nghiệp được học những gì về cây trồng (kì 2)

Học về lúa – ngô – khoai lang


Môn học Trồng trọt chuyên khoa

Môn Trồng trọt chuyên khoa rất dài (180 tiết) với nhiều giáo viên dạy.

Phần cây lương thực (90 tiết) được học 3 cây: Thầy Giao dạy cây lúa (30 tiết), Thầy Bùi Thế Hùng dạy cây ngô (30 tiết) và Thầy Đinh Thế Lộc dạy cây khoai lang (30 tiết). Đây là 3 cây lương thực chủ yếu, phổ biến ở miền Bắc. Chúng tôi không được học về cây sắn và những cây cũng được coi là từng lương thực như khoai tây, khoai môn, khoai sọ, kê, dong riềng, thậm chí cả mít[1].

Về cây lúa, tôi còn nhớ thầy Giao người xứ Nghệ, dong dỏng cao, da trắng (có vợ tên Phương làm ở Văn phòng Khoa Kinh tế nông nghiệp). Thầy hiền lành, nói chậm, giọng xứ Nghệ nhưng rõ âm điệu nên dễ nghe.

Khi thầy viết tên latinh của lúa là Oryza Sativa L. lên bảng xong là tôi nhớ ngay cái tên này cho đến ngày nay (mà cũng chỉ nhớ mỗi tên latinh về cây lúa). Hồi đó ở Thư viện trường có cuốn giáo trình cây lúa[2] của Kĩ sư Đinh Văn Lữ viết. Cuốn giáo trình này khá dày, khổ rộng, in giấy trắng, rất nặng. Khi cầm cuốn sách trên tay mới thấy chất nặng của nó: nặng về trọng lượng, nhưng dường như còn nặng về sự quan trọng của khoa học đối với cây trồng chính trong nông nghiệp nuôi sống con người Việt Nam, nhất là lúc học môn này chúng tôi lại đang rất thiếu gạo trong các bữa ăn hàng ngày.   

Một hôm chúng tôi đang học ở Giảng đường 8 (CLB cán bộ), vào giờ giải lao tôi thấy mọi người xì xào rằng thầy Lữ vừa đi vào phòng nhỏ cạnh giảng đường. Tôi nhìn người viết giáo trình cây lúa khi đó mà ngưỡng mộ thầy quá. Một người nhỏ cao (hình như thế), chỉ là giảng viên Khoa Trồng trọt mà viết được giáo trình đáng nể quá – chắc kiến thức về cây lúa của thầy rất uyên thâm[3]. Lúc này thầy Lương Đình Của,[4] một bậc thầy về lúa - học từ Nhật Bản theo tiếng gọi của Bác Hồ về nước - đã mất. Thầy Lương Đình Của từng là Hiệu phó của Học viện Nông Lâm (tên gọi trước đây của ĐHNNI) từ 1956-1962. Mặc dù thầy Của đã tạo ra nhiều giống cây các loại, trong đó có 2 giống lúa nổi tiếng là NN8 và 314[5], nhưng ông lại không kịp viết sách hay giáo trình. Chúng tôi nghĩ thầy Lữ viết được sách dạy cây lúa phải là người nổi tiếng.

Tuy nhiên khi học về cây lúa thì tôi lại không có ấn tượng gì nhiều lắm. Thầy Giao chỉ dạy những thứ như thời vụ, bón phân, các thời kì sinh trưởng của lúa… Hồi đó chúng tôi nhớ nhất là nhiệt độ phù hợp đến cây lúa: lúa ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ môi trường dưới 13 độ C và trên 35 độ C. Những ngày rét, chúng tôi là sinh viên nghèo thiếu áo ấm nên những hôm rét dưới 13 độ C thì chúng tôi co ro ví mình như cây lúa Việt Nam bị ngừng sinh trưởng – không chịu nổi cái rét này!

Lại nhớ chuyện hồi bé đi chăn trâu, trẻ con quê tôi từng tuốt trộm những đòng lúa non, bóc ra ăn rất thơm ngon, nhất là đòng lúa nếp. Cái ngon khó tả: khi nhai thấy mùi thơm lên mũi và mềm mại trong khoang miệng, lúc nuốt xuống thấy êm trong thực quản và rất lành cho dạ dày khi bụng rỗng. Nay học về sự phân hóa đòng thấy thương cho cây lúa quá – thì chính mình đã “giết những đứa con của cây lúa” hiền hòa khi chúng còn trong bào thai, ác độc quá! Quê tôi có câu vè nói về tội ác của con người: thứ nhất là tội giết con, thứ nhì tội bẻ măng non, thứ ba là tội ăn non đòng đòng. Hồi đó vì đói mà chúng tôi đã từng làm điều ác độc!

Lại còn chuyện đi “lỏn lúa” ở quê tôi những ngày giáp hạt. Người đói lả đứt bữa, da xanh xao vàng vọt, ngày ngày ra đồng nhìn ruộng lúa thấy bông lúa đang vào chắc mà mong ngày lúa chín. Bông lúa chỉ vào kì đông sữa vài ngày mà những bông chắc nhất đã được “lỏn” về. “Lỏn” là lấy lưỡi hái nâng bông lúa lên rồi cắt ngang cổ bông. Lội quanh ruộng “lỏn” chừng một túm to thì mang về rang lên cho cứng hạt, sau đó giã nhẹ để bóc vỏ trấu còn non, sảy bay hết vỏ trấu để lấy nhân hạt gạo non đó nấu cháo. Đó là món ăn rất bổ vì lúa chín sữa chắc có rất nhiều dinh dưỡng. Những người bị cái đói không cơm cháo nhiều ngày thì chỉ vài lần cháo lúa “lỏn” đã thấy như hồi tỉnh lại, nhanh nhẹn hẳn lên, da mặt bắt đầu bớt xanh xao và thớ bắp, đường gân như đã chắc lên trông thấy trong từng bước đi. Kì diệu thay bông lúa kì chín sữa!

Làm như thế đối với lúa nếp thì chính là quy trình làm cốm. Cái thơm ngon của nếp khác rất nhiều so với lúa tẻ. Vả lại cái khác nữa là cốm nếp là món nếm, món quà ăn khi đã no bụng, còn món gạo non rang của lúa tẻ (hay cốm tẻ) là thứ chống đói cầm hơi. Còn nhớ một kỉ niệm tôi được nghe từ một người bạn[6] của anh Đỗ (anh Đỗ là anh trai tôi) kể: Hồi đó nhà tôi hết gạo mà lúa chưa đến vụ gặt, bố mẹ tôi cũng làm món đi “lỏn lúa” về làm “cốm tẻ” cho anh tôi mang đi trọ học. Khi góp gạo nấu cơm chung với bạn cùng trọ, mấy anh thấy túi gạo của anh tôi thơm lừng. Thế là rủ nhau đến ăn hết luôn món “cốm tẻ” ấy. Suất gạo anh tôi mang đi ăn cả tuần bị mấy bạn xơi quà hết, thế là mọi người phải góp gạo đền cho anh tôi. Ôi, một kỉ niệm ngọt ngào, thơm mãi trong lòng những bạn học trò biết mùi “cốm tẻ”!

Phần về cây ngô do thầy Bùi Thế Hùng dạy. Thầy Hùng còn trẻ, trắng trẻo, đậm thấp, khá đẹp trai. Hồi dạy chúng tôi thầy đang là Bí thư Đoàn thanh niên trường. Các buổi dạy thầy luôn kêu bận vì công việc thanh niên và tôi có cảm giác thầy cũng không hứng thú lắm với việc dạy cho các lớp sinh viên ngoài ngành[7]. Tôi thấy bài giảng của thầy có nội dung rất khoa học là người ta chia quá trình phân hóa cờ (hoa đực) và hình thành bắp (hoa cái) của cây ngô thành nhiều bước rất dễ nhớ nhưng khi giảng thầy lại luôn có “sự cố” xin lỗi vì nhớ nhầm hoặc không chính xác nên cuối cùng thầy chăm chăm nhìn vào giáo án mà đọc. Những gì tôi ghi chép được hồi đó tôi gần như thuộc ngay trên lớp mà sao giáo viên dạy lại “ắc ứ” với các bước phân hóa hoa và bắp rất dễ nhớ ấy?

Rõ ràng thầy đang có “vấn đề” gì đó về sự chuyên tâm đến dạy học. Một giảng viên đi dạy luôn phải đạt được mấy điều tối thiểu: nhớ chính xác giáo án chuyên môn, nhớ cấu trúc nội dung giảng và điêu luyện về kĩ thuật truyền đạt. Thầy bận gì đó là công việc của thầy, còn những điều tối thiểu khi giảng bài cho chúng tôi thì rõ ràng chưa thuyết phục lắm.

Cái còn nhớ đến nay là thầy giảng khi cây ngô non mới có 3-5 lá thì quá trình phân hóa hoa và bắp đã xảy ra. Sớm quá nhỉ, hình như việc “sinh đẻ” của ngô đã xuất hiện ngay khi mới trồng được vài tuần! Có ý rất hay mà thầy lại không dạy kĩ lắm: hoa đực của ngô thường trổ và tung phấn trước khi bắp phun râu. Như vậy, tiến hóa trong tự nhiên đã tạo ra một sự lệch pha nhất định trong một cá thể cây. Tại sao thế chứ, hay vấn đề là để bắp của chính cá thể ấy còn có cơ hội nhận phấn hoa từ cây khác? Chi tiết này được Tổ 1 của tôi tranh luận rất sôi nổi, lại có ý liên hệ với người, nhưng không “ngã ngũ” được nguyên nhân gì mà “ông trời” đã sinh ra cây ngô như thế!

Quê tôi vùng chiêm trũng nên ít đất trồng ngô. Hồi còn học cấp 3, có lần người ta yêu cầu cả học sinh cấp 3 đi lao động đắp đê sông Chu. Chiều tối, bọn trẻ chúng tôi đi ra bãi sông Chu thấy người ta trồng ngô sát mép nước. Cây ngô đã có bắp to, nướng ăn sẽ rất ngon, nhưng cả bọn không ai dám bẻ vì có chòi canh trên cao. Thế là một cậu “quỷ học trò” nghĩ ra mẹo lấy chân đạp vào bắp cho bắp rơi xuống rồi đá bắp ngô ra mép nước sông. Khi giả bộ lội sông thì cúi xuống kéo quần mới dám thò tay lấy bắp ngô giấu vào người (vì nếu cúi xuống trong vườn ngô sẽ bị nghi là bẻ bắp nên các bảo vệ trên chòi canh sẽ biết). Cái đói đã làm bọn “quỷ học trò” biết qua mặt các bác bảo vệ trên chòi canh để được cảm giác ngô non nướng thơm ngon ngay tối hôm đó.

Cây khoai lang được thầy Đinh Thế Lộc[8] dạy. Thầy Lộc quê Nghệ An, cao to, ngăm đen khỏe mạnh. Thầy là cầu thủ bóng đá, một trung vệ nổi tiếng một thời trong đội bóng đá ĐHNNI hồi chúng tôi học ở trường.

Thầy dạy về khoai lang có lẽ cũng không có nhiều điểm mới lắm so với những gì chúng tôi đã từng biết hồi trồng khoai ở quê. Thầy nhấn mạnh củ khoai được hình thành từ một loại rễ cái của cây khoai lang. Điều này thì tôi cũng biết rất rõ vì khi ở quê, vào dịp đầu Xuân sau Tết là cả làng hết gạo, đói ăn. Khi đó đi làm cỏ cho khoai lang thì ai cũng hái về một nón lá khoai non đầu mùa về luộc ăn chống đói. Lá khoai sau Tết gặp nắng ấm, lại có mưa xuân nên cứ tươi mơn mởn trên các luống khoai được trồng từ trước Tết. Ngoài ra, nông dân khi đó còn làm cỏ cho khoai đi kèm bón phân, vun đất để luống khoai xốp ra nhiều củ. Lúc vun đất nếu gặp các củ còn rất non chưa có bột thì cũng có thể bị ngắt non về ăn chống đói rồi. Một hành động ăn trộm những đứa khoai non còn non dại là rất phi lý. Tuy nhiên hành động này được khoai “trả thù” bằng cách ở những chỗ đó sẽ phát triển rễ rất mạnh và sau này thường có những củ khoai rất to, rất ngon (tuy thưa củ hơn).

Tôi còn nhớ thầy nói về một giống khoai có tên khoai lang Lim, là giống có nguồn gốc từ xứ Lim, Từ Sơn, Hà Bắc. Đây là loại khoai vỏ đỏ, củ dài rất ngon, nhưng khi đó tôi chưa từng được ăn. Hồi còn nhỏ, ở quê chỉ phổ biến giống khoai gọi là Hoàng Long, củ to, màu vàng nhạt, không ngon lắm nhưng quan trọng là giống này cho năng suất cao, giúp dân chống đói.

Từ chuyện học cây khoai lang, chúng tôi đều biết cách người ta chế biến củ khoai thành khoai lát phơi khô. Có khi khoai củ tươi để gầm giường ăn dần. Khi ăn không kịp khoai mọc mầm non nhưng vẫn ăn được, không bị độc như củ khoai tây.

Ở quê ngoại tôi – Tân Ninh, Triệu Sơn – có cách bảo quản khoai lang rất ngon và công phu: người ta chọn những củ khoai ngon, luộc chín, bóc vỏ rồi cho vào cối giã nhuyễn ra. Đem bột nhuyễn đó ra nong phơi khô. Khi phơi thì xoa đều để bột thành các cục nhỏ như hạt ngô, hạt lạc cho mau khô. Những cục bột khoai đã khô cho vào chum giữ làm thành một dạng lương khô dành cho người đi lên rừng đốn gỗ. Phải nói là khi ăn vẫn còn mùi vị thơm ngon nhưng rất cứng, có khi phải ngậm một lúc mới tan dần. Mặt khác cần chú ý khi phơi vì trên các nong phơi khoai bột giã thường có rất nhiều ruồi. Người ta phải lấy vải màn phủ lên để tránh lũ ruồi đậu vào nong khoai bột trắng thơm ngon ấy.

Một chuyện sau này tôi được nghe từ một giáo viên (tên Nguyễn Văn Tuấn) ở Khoa Kinh tế nông nghiệp trường ĐHNN III kể. Thầy Tuấn[9] quê Phú Bình, Thái Nguyên. Vùng quê nghèo chỉ có khoai lang, rất ít đất trồng lúa gạo nên ai cũng “ăn khoai dài cổ” vì ăn khoai bột phải vươn cổ ra mới nuốt được! Nhà nghèo nên lát giường thì gãy, chiếu thì rách. Đêm nằm thấy mầm khoai mọc từ gầm giường chọc qua chiếu rách đâm vào lưng mát lạnh không ngủ được! Chuyện hay quá, rất ấn tượng. Sau này, khi tôi dạy Tuấn chương trình cao học Kinh tế nông nghiệp, rồi là thành viên hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho Tuấn, tôi cứ cảm phục cái anh tiến sĩ kinh tế từng thấy cái lạnh của mầm khoai chạm vào lưng trần đêm nằm giường chiếu rách. Chuyện nghe ai cũng hiểu nhưng cảm được như tiến sĩ Tuấn thì mấy người có được!  Thì ra có nơi cũng khổ như quê tôi – quê tôi thì không có khoai để ăn nhưng lúa vẫn là chính, còn quê anh thì khoai quanh năm, rất ít khi được ăn cơm. Ôi cái nghèo ngày ấy!

Thế đấy, đi học về cây lúa – ngô – khoai thời đói kém, mà thấy ai cũng trải nhiều kỉ niệm với “bọn lúa – ngô – khoai” này.



[1] Các cây lương thực, xem tại https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A2y_l%C6%B0%C6%A1ng_th%E1%BB%B1c Mít cũng đã được coi là cây lương thực (xem thêm tại https://www-theguardian-com.translate.goog/environment/2014/apr/23/jackfruit-miracle-crop-climate-change-food-security?_x_tr_sl=en&_x_tr_tl=vi&_x_tr_hl=vi&_x_tr_pto=tc Năm 1974, đồng chí Lê Duẩn về thăm Thanh Hóa có đến Triệu Sơn và được nghe giới thiệu về mít, thời đó, báo chí cũng có đề cập đến ý định đưa mít thành cây lương thực (vì hạt mít nhiều dinh dưỡng).

[2] Đinh Văn Lữ (1978), Giáo trình cây lúa, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội.

[3] Hồi đó tôi cứ nghĩ là người viết được sách phải là các vị nào đó trên trung ương chứ các thầy khó có thể viết được sách để dạy. Nay cuốn vẫn được nhiều người trích dẫn trong các nghiên cứu về cây lúa, chẳng hạn Luậnn án tiến sĩ của NCS Mai Ngọc Lan đã trích dẫn Đinh Văn Lữ, xem thêm tại https://clrri.org/ver2/uploads/Toan%20van%20luan%20an.pdf

[4] Thông tin về GS Lương Đình Của, xem thêm tại https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C6%B0%C6%A1ng_%C4%90%E1%BB%8Bnh_C%E1%BB%A7a

[5] GS Lương Đình Của là tác giả của nhiều giống cây trồng. Lúa có NN8-388, NN75-1 (lai giữa giống 813 với NN1), Nông nghiệp 1 (lai giữa Ba Thắc, Nam Bộ x Kunko, Nhật), Giống lúa mùa muộn Saibuibao, giống lúa chiêm 314 (lai giữa dòng Đoàn Kết và Thắng Lợi). Giống cây trồng khác: khoai lang, đu đủ, dưa leo, xương rồng, rau muống, dưa hấu không hạt...

[6] Bạn của anh trai tôi tên là Lê Đình Ảnh. Ông Lê Đình Ảnh được cử đi  học ở Trung Quốc, sau do "Cách mạng Văn hóa" nên phải về nước và học tại Đại học Bách khoa, Khoa Địa chất, sau này Khoa Địa chất tách ra để thành lập Trường Đại học Mỏ - Địa chất. Ông công tác tại Tổng cục Địa chất, trước khi về hưu là Vụ trưởng. Bố tôi biết ơn anh Lê Đình Ảnh đã giúp đỡ anh trai tôi nên đã xin được lấy tên anh đặt tên cho tôi (Lê Hữu Ảnh). Sau này tôi gặp anh Lê Đình Ảnh nhiều lần. Khi tôi được công nhận PGS 2002, anh nói tôi đã không phụ mang tên anh!

[7] Tức là không phải sinh viên ngành trồng trọt.

[8] Thầy Đinh Thế Lộc sau này bảo vệ luận án tiến sĩ tại ĐHNN I và là PGS năm 1991. Thầy nguyên là Hiệu phó của ĐHNNI.

[9] TS Nguyễn Văn Tuấn, nay là giảng viên Trường Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên