Học về lúa – ngô – khoai lang
Môn học Trồng trọt chuyên khoa
Môn Trồng trọt chuyên khoa rất dài (180
tiết) với nhiều giáo viên dạy.
Phần cây lương thực (90 tiết) được
học 3 cây: Thầy Giao dạy cây lúa (30 tiết), Thầy Bùi Thế Hùng dạy cây
ngô (30 tiết) và Thầy Đinh Thế Lộc dạy cây khoai lang (30 tiết). Đây
là 3 cây lương thực chủ yếu, phổ biến ở miền Bắc. Chúng tôi không được học về
cây sắn và những cây cũng được coi là từng lương thực như khoai tây, khoai
môn, khoai sọ, kê, dong riềng, thậm chí cả mít[1].
Về cây lúa, tôi còn nhớ thầy
Giao người xứ Nghệ, dong dỏng cao, da trắng (có vợ tên Phương làm ở Văn phòng
Khoa Kinh tế nông nghiệp). Thầy hiền lành, nói chậm, giọng xứ Nghệ nhưng rõ âm
điệu nên dễ nghe.
Khi thầy viết tên latinh của lúa là Oryza
Sativa L. lên bảng xong là tôi nhớ ngay cái tên này cho đến ngày nay (mà
cũng chỉ nhớ mỗi tên latinh về cây lúa). Hồi đó ở Thư viện trường có cuốn giáo
trình cây lúa[2] của
Kĩ sư Đinh Văn Lữ viết. Cuốn giáo trình này khá dày, khổ rộng, in giấy trắng, rất
nặng. Khi cầm cuốn sách trên tay mới thấy chất nặng của nó: nặng về trọng lượng,
nhưng dường như còn nặng về sự quan trọng của khoa học đối với cây trồng chính
trong nông nghiệp nuôi sống con người Việt Nam, nhất là lúc học môn này chúng
tôi lại đang rất thiếu gạo trong các bữa ăn hàng ngày.
Một hôm chúng tôi đang học ở Giảng đường
8 (CLB cán bộ), vào giờ giải lao tôi thấy mọi người xì xào rằng thầy Lữ vừa đi
vào phòng nhỏ cạnh giảng đường. Tôi nhìn người viết giáo trình cây lúa khi đó
mà ngưỡng mộ thầy quá. Một người nhỏ cao (hình như thế), chỉ là giảng viên Khoa
Trồng trọt mà viết được giáo trình đáng nể quá – chắc kiến thức về cây lúa của
thầy rất uyên thâm[3].
Lúc này thầy Lương Đình Của,[4]
một bậc thầy về lúa - học từ Nhật Bản theo tiếng gọi của Bác Hồ về nước - đã mất.
Thầy Lương Đình Của từng là Hiệu phó của Học viện Nông Lâm (tên gọi trước đây của
ĐHNNI) từ 1956-1962. Mặc dù thầy Của đã tạo ra nhiều giống cây các loại, trong
đó có 2 giống lúa nổi tiếng là NN8 và 314[5],
nhưng ông lại không kịp viết sách hay giáo trình. Chúng tôi nghĩ thầy Lữ viết
được sách dạy cây lúa phải là người nổi tiếng.
Tuy nhiên khi học về cây lúa thì tôi lại
không có ấn tượng gì nhiều lắm. Thầy Giao chỉ dạy những thứ như thời vụ, bón
phân, các thời kì sinh trưởng của lúa… Hồi đó chúng tôi nhớ nhất là nhiệt độ phù
hợp đến cây lúa: lúa ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ môi trường dưới 13 độ C và
trên 35 độ C. Những ngày rét, chúng tôi là sinh viên nghèo thiếu áo ấm nên
những hôm rét dưới 13 độ C thì chúng tôi co ro ví mình như cây lúa Việt Nam bị
ngừng sinh trưởng – không chịu nổi cái rét này!
Lại nhớ chuyện hồi bé đi chăn trâu, trẻ
con quê tôi từng tuốt trộm những đòng lúa non, bóc ra ăn rất thơm ngon, nhất là
đòng lúa nếp. Cái ngon khó tả: khi nhai thấy mùi thơm lên mũi và mềm mại trong
khoang miệng, lúc nuốt xuống thấy êm trong thực quản và rất lành cho dạ dày khi
bụng rỗng. Nay học về sự phân hóa đòng thấy thương cho cây lúa quá – thì chính
mình đã “giết những đứa con của cây lúa” hiền hòa khi chúng còn trong bào thai,
ác độc quá! Quê tôi có câu vè nói về tội ác của con người: thứ nhất là tội
giết con, thứ nhì tội bẻ măng non, thứ ba là tội ăn non đòng đòng. Hồi
đó vì đói mà chúng tôi đã từng làm điều ác độc!
Lại còn chuyện đi “lỏn lúa” ở
quê tôi những ngày giáp hạt. Người đói lả đứt bữa, da xanh xao vàng vọt, ngày
ngày ra đồng nhìn ruộng lúa thấy bông lúa đang vào chắc mà mong ngày lúa
chín. Bông lúa chỉ vào kì đông sữa vài ngày mà những bông chắc
nhất đã được “lỏn” về. “Lỏn” là lấy lưỡi hái nâng bông lúa lên rồi cắt
ngang cổ bông. Lội quanh ruộng “lỏn” chừng một túm to thì mang về rang lên cho
cứng hạt, sau đó giã nhẹ để bóc vỏ trấu còn non, sảy bay hết vỏ trấu để lấy
nhân hạt gạo non đó nấu cháo. Đó là món ăn rất bổ vì lúa chín sữa chắc có rất nhiều
dinh dưỡng. Những người bị cái đói không cơm cháo nhiều ngày thì chỉ vài lần cháo
lúa “lỏn” đã thấy như hồi tỉnh lại, nhanh nhẹn hẳn lên, da mặt bắt đầu bớt xanh
xao và thớ bắp, đường gân như đã chắc lên trông thấy trong từng bước đi. Kì diệu
thay bông lúa kì chín sữa!
Làm như thế đối với lúa nếp thì chính
là quy trình làm cốm. Cái thơm ngon của nếp khác rất nhiều so với lúa tẻ.
Vả lại cái khác nữa là cốm nếp là món nếm, món quà ăn khi đã no bụng, còn
món gạo non rang của lúa tẻ (hay cốm tẻ) là thứ chống đói cầm hơi.
Còn nhớ một kỉ niệm tôi được nghe từ một người bạn[6]
của anh Đỗ (anh Đỗ là anh trai tôi) kể: Hồi đó nhà tôi hết gạo mà lúa chưa đến
vụ gặt, bố mẹ tôi cũng làm món đi “lỏn lúa” về làm “cốm tẻ” cho anh tôi mang đi
trọ học. Khi góp gạo nấu cơm chung với bạn cùng trọ, mấy anh thấy túi gạo của
anh tôi thơm lừng. Thế là rủ nhau đến ăn hết luôn món “cốm tẻ” ấy. Suất gạo anh
tôi mang đi ăn cả tuần bị mấy bạn xơi quà hết, thế là mọi người phải góp gạo đền
cho anh tôi. Ôi, một kỉ niệm ngọt ngào, thơm mãi trong lòng những bạn học trò biết
mùi “cốm tẻ”!
Phần về cây ngô do thầy Bùi Thế
Hùng dạy. Thầy Hùng còn trẻ, trắng trẻo, đậm thấp, khá đẹp trai. Hồi dạy chúng
tôi thầy đang là Bí thư Đoàn thanh niên trường. Các buổi dạy thầy luôn kêu bận vì
công việc thanh niên và tôi có cảm giác thầy cũng không hứng thú lắm với việc dạy
cho các lớp sinh viên ngoài ngành[7].
Tôi thấy bài giảng của thầy có nội dung rất khoa học là người ta chia quá trình
phân hóa cờ (hoa đực) và hình thành bắp (hoa cái) của cây ngô thành nhiều bước rất
dễ nhớ nhưng khi giảng thầy lại luôn có “sự cố” xin lỗi vì nhớ nhầm hoặc không
chính xác nên cuối cùng thầy chăm chăm nhìn vào giáo án mà đọc. Những gì tôi
ghi chép được hồi đó tôi gần như thuộc ngay trên lớp mà sao giáo viên dạy lại “ắc
ứ” với các bước phân hóa hoa và bắp rất dễ nhớ ấy?
Rõ ràng thầy đang có “vấn đề” gì đó về sự
chuyên tâm đến dạy học. Một giảng viên đi dạy luôn phải đạt được mấy điều tối
thiểu: nhớ chính xác giáo án chuyên môn, nhớ cấu trúc nội dung giảng và điêu
luyện về kĩ thuật truyền đạt. Thầy bận gì đó là công việc của thầy, còn những
điều tối thiểu khi giảng bài cho chúng tôi thì rõ ràng chưa thuyết phục lắm.
Cái còn nhớ đến nay là thầy giảng khi
cây ngô non mới có 3-5 lá thì quá trình phân hóa hoa và bắp đã xảy ra. Sớm quá
nhỉ, hình như việc “sinh đẻ” của ngô đã xuất hiện ngay khi mới trồng được vài
tuần! Có ý rất hay mà thầy lại không dạy kĩ lắm: hoa đực của ngô thường trổ
và tung phấn trước khi bắp phun râu. Như vậy, tiến hóa trong tự nhiên đã tạo
ra một sự lệch pha nhất định trong một cá thể cây. Tại sao thế chứ, hay vấn
đề là để bắp của chính cá thể ấy còn có cơ hội nhận phấn hoa từ cây khác? Chi
tiết này được Tổ 1 của tôi tranh luận rất sôi nổi, lại có ý liên hệ với người,
nhưng không “ngã ngũ” được nguyên nhân gì mà “ông trời” đã sinh ra cây
ngô như thế!
Quê tôi vùng chiêm trũng nên ít đất trồng
ngô. Hồi còn học cấp 3, có lần người ta yêu cầu cả học sinh cấp 3 đi lao động đắp
đê sông Chu. Chiều tối, bọn trẻ chúng tôi đi ra bãi sông Chu thấy người ta trồng
ngô sát mép nước. Cây ngô đã có bắp to, nướng ăn sẽ rất ngon, nhưng cả bọn
không ai dám bẻ vì có chòi canh trên cao. Thế là một cậu “quỷ học trò” nghĩ ra
mẹo lấy chân đạp vào bắp cho bắp rơi xuống rồi đá bắp ngô ra mép nước sông. Khi
giả bộ lội sông thì cúi xuống kéo quần mới dám thò tay lấy bắp ngô giấu vào người
(vì nếu cúi xuống trong vườn ngô sẽ bị nghi là bẻ bắp nên các bảo vệ trên chòi
canh sẽ biết). Cái đói đã làm bọn “quỷ học trò” biết qua mặt các bác bảo vệ
trên chòi canh để được cảm giác ngô non nướng thơm ngon ngay tối hôm đó.
Cây khoai lang được thầy Đinh Thế
Lộc[8]
dạy. Thầy Lộc quê Nghệ An, cao to, ngăm đen khỏe mạnh. Thầy là cầu thủ bóng đá,
một trung vệ nổi tiếng một thời trong đội bóng đá ĐHNNI hồi chúng tôi học ở trường.
Thầy dạy về khoai lang có lẽ cũng không
có nhiều điểm mới lắm so với những gì chúng tôi đã từng biết hồi trồng khoai ở
quê. Thầy nhấn mạnh củ khoai được hình thành từ một loại rễ cái của cây
khoai lang. Điều này thì tôi cũng biết rất rõ vì khi ở quê, vào dịp đầu Xuân
sau Tết là cả làng hết gạo, đói ăn. Khi đó đi làm cỏ cho khoai lang thì ai cũng
hái về một nón lá khoai non đầu mùa về luộc ăn chống đói. Lá khoai sau Tết gặp
nắng ấm, lại có mưa xuân nên cứ tươi mơn mởn trên các luống khoai được trồng từ
trước Tết. Ngoài ra, nông dân khi đó còn làm cỏ cho khoai đi kèm bón phân, vun
đất để luống khoai xốp ra nhiều củ. Lúc vun đất nếu gặp các củ còn rất non chưa
có bột thì cũng có thể bị ngắt non về ăn chống đói rồi. Một hành động ăn trộm
những đứa khoai non còn non dại là rất phi lý. Tuy nhiên hành động này
được khoai “trả thù” bằng cách ở những chỗ đó sẽ phát triển rễ rất mạnh và sau
này thường có những củ khoai rất to, rất ngon (tuy thưa củ hơn).
Tôi còn nhớ thầy nói về một giống khoai
có tên khoai lang Lim, là giống có nguồn gốc từ xứ Lim, Từ Sơn, Hà Bắc.
Đây là loại khoai vỏ đỏ, củ dài rất ngon, nhưng khi đó tôi chưa từng được ăn. Hồi
còn nhỏ, ở quê chỉ phổ biến giống khoai gọi là Hoàng Long, củ to, màu vàng nhạt,
không ngon lắm nhưng quan trọng là giống này cho năng suất cao, giúp dân chống
đói.
Từ chuyện học cây khoai lang, chúng tôi
đều biết cách người ta chế biến củ khoai thành khoai lát phơi khô. Có khi khoai
củ tươi để gầm giường ăn dần. Khi ăn không kịp khoai mọc mầm non nhưng vẫn ăn
được, không bị độc như củ khoai tây.
Ở quê ngoại tôi – Tân Ninh, Triệu Sơn –
có cách bảo quản khoai lang rất ngon và công phu: người ta chọn những củ khoai
ngon, luộc chín, bóc vỏ rồi cho vào cối giã nhuyễn ra. Đem bột nhuyễn đó ra
nong phơi khô. Khi phơi thì xoa đều để bột thành các cục nhỏ như hạt ngô, hạt lạc
cho mau khô. Những cục bột khoai đã khô cho vào chum giữ làm thành một dạng
lương khô dành cho người đi lên rừng đốn gỗ. Phải nói là khi ăn vẫn còn mùi vị
thơm ngon nhưng rất cứng, có khi phải ngậm một lúc mới tan dần. Mặt khác cần
chú ý khi phơi vì trên các nong phơi khoai bột giã thường có rất nhiều ruồi. Người
ta phải lấy vải màn phủ lên để tránh lũ ruồi đậu vào nong khoai bột trắng thơm
ngon ấy.
Một chuyện sau này tôi được nghe từ một
giáo viên (tên Nguyễn Văn Tuấn) ở Khoa Kinh tế nông nghiệp trường ĐHNN III kể.
Thầy Tuấn[9]
quê Phú Bình, Thái Nguyên. Vùng quê nghèo chỉ có khoai lang, rất ít đất trồng
lúa gạo nên ai cũng “ăn khoai dài cổ” vì ăn khoai bột phải vươn cổ ra mới
nuốt được! Nhà nghèo nên lát giường thì gãy, chiếu thì rách. Đêm nằm thấy mầm
khoai mọc từ gầm giường chọc qua chiếu rách đâm vào lưng mát lạnh không ngủ được!
Chuyện hay quá, rất ấn tượng. Sau này, khi tôi dạy Tuấn chương trình cao học
Kinh tế nông nghiệp, rồi là thành viên hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho Tuấn,
tôi cứ cảm phục cái anh tiến sĩ kinh tế từng thấy cái lạnh của mầm khoai chạm
vào lưng trần đêm nằm giường chiếu rách. Chuyện nghe ai cũng hiểu nhưng cảm
được như tiến sĩ Tuấn thì mấy người có được! Thì ra có nơi cũng khổ như quê tôi – quê tôi
thì không có khoai để ăn nhưng lúa vẫn là chính, còn quê anh thì khoai quanh
năm, rất ít khi được ăn cơm. Ôi cái nghèo ngày ấy!
Thế đấy, đi học về cây lúa – ngô –
khoai thời đói kém, mà thấy ai cũng trải nhiều kỉ niệm với “bọn lúa – ngô –
khoai” này.
[1] Các cây lương thực, xem tại https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A2y_l%C6%B0%C6%A1ng_th%E1%BB%B1c Mít cũng đã được coi là cây lương thực (xem thêm tại https://www-theguardian-com.translate.goog/environment/2014/apr/23/jackfruit-miracle-crop-climate-change-food-security?_x_tr_sl=en&_x_tr_tl=vi&_x_tr_hl=vi&_x_tr_pto=tc Năm 1974, đồng chí Lê Duẩn về thăm Thanh Hóa có đến Triệu Sơn và được nghe giới thiệu về mít, thời đó, báo chí cũng có đề cập đến ý định đưa mít thành cây lương thực (vì hạt mít nhiều dinh dưỡng).
[2] Đinh Văn Lữ (1978), Giáo trình cây lúa, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội.
[3] Hồi đó tôi cứ
nghĩ là người viết được sách phải là các vị nào đó trên trung ương chứ các thầy
khó có thể viết được sách để dạy. Nay cuốn vẫn được nhiều người trích dẫn trong
các nghiên cứu về cây lúa, chẳng hạn Luậnn án tiến sĩ của NCS Mai Ngọc Lan đã
trích dẫn Đinh Văn Lữ, xem thêm tại https://clrri.org/ver2/uploads/Toan%20van%20luan%20an.pdf
[4] Thông tin về GS
Lương Đình Của, xem thêm tại https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C6%B0%C6%A1ng_%C4%90%E1%BB%8Bnh_C%E1%BB%A7a
[5] GS Lương Đình Của
là tác giả của nhiều giống
cây trồng. Lúa có NN8-388, NN75-1 (lai giữa giống 813 với NN1), Nông nghiệp 1
(lai giữa Ba Thắc, Nam Bộ x Kunko, Nhật), Giống lúa mùa muộn Saibuibao, giống
lúa chiêm 314 (lai giữa dòng Đoàn Kết và Thắng Lợi). Giống cây trồng khác:
khoai lang, đu đủ, dưa leo, xương rồng, rau muống, dưa hấu không hạt...
[6] Bạn của anh trai tôi tên là Lê Đình Ảnh. Ông Lê Đình Ảnh được cử đi học ở Trung Quốc, sau do "Cách mạng Văn hóa" nên phải về nước và học tại Đại học Bách khoa, Khoa Địa chất, sau này Khoa Địa chất tách ra để thành lập Trường Đại học Mỏ - Địa chất. Ông công tác tại Tổng cục Địa chất, trước khi về hưu là Vụ trưởng. Bố tôi biết ơn anh Lê Đình Ảnh đã giúp đỡ anh trai tôi nên đã xin được lấy tên anh đặt tên cho tôi (Lê Hữu Ảnh). Sau này tôi gặp anh Lê Đình Ảnh nhiều lần. Khi tôi được công nhận PGS 2002, anh nói tôi đã không phụ mang tên anh!
[7] Tức là không phải sinh viên ngành trồng trọt.
[8] Thầy Đinh Thế Lộc sau này bảo vệ luận án tiến sĩ tại
ĐHNN I và là PGS năm 1991. Thầy nguyên là Hiệu phó của ĐHNNI.
[9] TS Nguyễn Văn Tuấn, nay là giảng viên Trường Nông Lâm,
Đại học Thái Nguyên
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét