Thứ Ba, tháng 12 16, 2025

Kĩ sư kinh tế nông nghiệp được học những gì về cây trồng (kì 3)


Cây công nghiệp và rau quả

Chúng tôi có một nửa thời gian học môn Trồng trọt chuyên khoa gồm rất nhiều loại cây công nghiệp: nhóm cây công nghiệp lâu năm gồm chè và cà phê do thầy Nguyễn Ngọc Kính dạy (30 tiết), nhóm cây công nghiệp lưu niên gồm mía, cói do cô Đoàn Thị Thanh Nhàn dạy (30 tiết), nhóm cây công nghiệp ngắn ngày gồm lạc, đậu tương do thầy Lê Song Dự dạy (30 tiết).

Vào kì 2 năm thứ 3 còn có thêm môn Rau quả (45 tiết) gồm cà chua, bắp cải, su hào do cô Tạ Thị Thu Cúc và chuối, dứa do thầy Cao Anh Long dạy.

Phải nói ai từng được học thầy Nguyễn Ngọc Kính[1] đều thích những điều mình được nghe và đều yêu kính thầy. Hồi đó thầy là Phó tiến sĩ, đang quản lý Khoa Trồng trọt (Trưởng hay Phó gì đó), sau đó thầy chuyển sang Bộ Nông nghiệp, khi về hưu thầy là Vụ trưởng Vụ Khoa học Bộ Nông nghiệp.

Thầy cao chừng 1.67-1.68m, da trắng, khuôn mặt hơi vuông, thanh tú, rất đẹp trai. Nhìn chân râu cạo mịn thấy nét mờ xanh trên môi rất duyên với cái miệng rộng, bộ răng trắng đều, nụ cười nhẹ rất duyên mà tự nhiên không phô trương. Giọng nói ấm và vang, sang trọng, chuẩn âm xứ Bắc. Thầy luôn mang trang phục đẹp, không hào nhoáng nhưng rất hào hoa và hấp dẫn, xứng với thân hình và trình độ kiến thức của thầy.

Học cây chè là cơ hội chúng tôi được biết về trình độ người dạy đại học, cách dạy, sự tôn trọng người học, biết nhớ rất sâu không chỉ kiến thức dạy mà cả những câu chuyện của người dạy. Điều trước hết chúng tôi nhận ra là sự uyên thâm kiến thứckhông câu nệ người học là trong ngành hay ngoài ngành. Kiến thức về cây chè được nêu rất có căn cứ khoa học: quan hệ giữa tán lá và bộ rễ, tính chất sinh trưởng cây chè theo tuổi cây lâu năm, sự tạo tán và năng suất chè búp, lứa hái, phẩm cấp hái và quan hệ của chúng với chất lượng thành phẩm chế biến, đốn phớt đốn đau trong tạo tán và sự điều chỉnh tán lá tạo búp theo tuổi cây… Chỉ mươi tiết học về cây chè mà chúng tôi còn được biết về lịch sử cây chè ở Việt Nam, tuổi thọ vườn chè từ các đồn điền người Pháp, những truyền thống uống trà (chè) trên thế giới. Đó là người thầy giỏi chuyên môn, nhưng chính là giỏi truyền đạt và đưa cảm hứng của thầy vào người học một cách tài tình, tự nhiên mà truyền cảm. Với những tiết học như thế, chúng tôi như bị thôi miên của một nhà truyền thụ tài ba, hào hoa nhưng không hề tỏ ra khoe trương, phô diễn kiến thức hay tìm cách dụ dỗ lôi kéo người nghe. Kiến thức thầy dạy như những giọt mật ngọt thấm sâu vào não bộ để giữ mãi kí ức về những buổi dạy của thầy.

Tôi nhớ thầy dạy thường liên hệ chè Việt Nam với chè ở Miến Điện, Ấn Độ, Sri Lanka, Grudia và Trung Quốc. Sau này tôi biết thầy từng học đại học ở Trung Quốc, làm nghiên cứu sinh về chè ở Liên Xô (Cộng hòa Gruzia), từng nghiên cứu sâu về chè ở Miến Điện, và Ấn Độ - những “quê hương” của chè.

Trong một buổi dạy, thầy có đọc cho chúng tôi nghe một đoạn thơ cổ về uống chè, gọi là “Trà ca” được lược dịch theo kiểu dễ nhớ, dễ thuộc ở khổ thơ uống 7 chén trà. Nghe thầy đọc xong, anh Trần Duy Học thuộc gần hết bài này và về phòng anh cứ bàn tán mãi về “thất trản trà[2]của thầy. Anh Học nói chén thứ 6 mà thầy mở ý là người uống đã như “thông cảm được với các vị tiền bối” là câu có nhiều nghĩa nhất. Phải đến chén thứ 6, chè mới ngấm đến tâm can người thưởng trà để bỗng “ngộ ra” được rằng chất dẫn ấy đưa người uống đến với các vị tiền bối trong nhân gian. Các tiền bối tài ba, nhưng cũng nhiều khốn khó và bế tắc, ta biết thông cảm với họ thì họ đều là thần tiên cả!

(À, các anh chị KT20A có biết không: tôi viết bài này mấy buổi mới xong, mà khi viết những dòng này chính là giờ tôi đang thảnh thơi thưởng những chén trà tôi dành cho kí ức – những chén trà thông cảm với các vị tiền bối – trong đó có người thầy đáng kính của tôi).

Hồi đó thầy dự kiến 30 tiết dạy 3 cây: chè – cà phê – cao su, nhưng thầy nói ta tạm bỏ qua cao su vì nếu có nói cũng không đủ thời gian cho 30 tiết với 3 cây. Cây cà phê thầy cũng không dạy nhiều, tôi chỉ còn nhớ có những giống mà thầy nói dân ta thường gọi là cà phê chè, cà phê mít, cà phê vối[3] là cách gọi rất hay và chính xác.

Riêng về cà phê vối thầy nói nhanh về kĩ thuật tạo tán cho cây sẽ quyết định năng suất của cây. Thầy cũng kể vài câu chuyện về chế biến cà phê cùng thói quen uống của người châu Âu. Nói chung, chúng tôi thấy chuyện cây chè đã “át hết” chuyện về cây khác thầy muốn nói.

Cũng nhờ học đặc điểm chè và cà phê mà sau này tôi biết có nhiều phương pháp khấu hao vườn cây lâu năm. Vườn chè được coi là tài sản cố định (TSCĐ), có những vườn chè Pháp trồng ở phía Bắc nay đã trên 100 năm vẫn còn thu hoạch được như ở Phú Hộ, Phú Sơn (Phú Thọ ngày nay). Người ta đã nghĩ ra phương pháp khấu hao theo sản lượng (tức là gắn với tuổi cây). Còn về cà phê vối (Robusta) thì quá trình tạo tán rất công phu để cà phê ra nhiều cành, cho nhiều quả. Có thời Bộ Nông nghiệp quy định phân bổ chi phí tạo cành của cà phê vối và tạo tán bằng cách đốn phớt, đốn đau của chè là loại chi phí tương tự như chi phí “sửa chữa lớn TSCĐ” trong chế độ kế toán.

Nay thầy Kính vẫn còn khỏe, hàng năm vẫn về Khoa Cây trồng để dự ngày 20-11. Tôi dành cho thầy Kính những điều trang trọng trên mà vẫn tưởng mình vẫn còn quá khiêm tốn - thầy Kính còn là thầy trực tiếp của tôi nhiều năm sau nữa. Đối với thầy Kính, tôi có rất nhiều kỉ niệm vì từ 1991-1996, GS TS Nguyễn Ngọc Kính là người hướng dẫn thứ 2 cho luận án tiến sĩ của tôi khi tôi chọn cây chè làm đề tài nghiên cứu sinh (người hướng dẫn thứ nhất là GS TS Trần Đình Đằng). Có điều kiện tôi sẽ ghi chép trong hành trình 35 năm tôi dạy học để kể thêm về người hướng dẫn thứ hai rất đáng kính này. Dưới đây chỉ xin nói thêm vài nét ngắn.

Từ những gì học được của thầy Kính khi nghe giảng từ năm 1978, tôi đã giữ trong mình ấn tượng về một người thầy giỏi và tài hoa. Ra trường đi lính vào QK9, ngồi uống trà kiểu người Nam – kiểu trà ướp đậm hương hoa nhài – mỗi buổi lên phòng ngồi chờ hết giờ hoặc những lúc kéo nhau ra quán cà phê làm “cái đen”[4] để “ực” một nhát hết rồi uống ấm trà bằng nhôm màu trắng đục của quán mà “châm” đến mấy lần nước. Uống mãi mà không thấy có cảm giác chén nào như 7 chén của “trà ca”. Khi về trường làm giảng viên đại học, lâu lâu kiếm được ấm chè ngon thì uống kiểu HTX, có khi đến cả chục người đứng ngồi uống nói chuyện là chính nên chưa từng gặp được cảm giác “trà ca”.

Năm 1990, khi hết mộng đi nước ngoài vì Liên Xô tan rã (đã không còn nhận nghiên cứu sinh Việt Nam) tôi mới chuyển làm nghiên cứu sinh ở Việt Nam. Ngồi ngẫm nghĩ mãi những gì mình học hồi đại học chỉ thấy nhớ đến thầy Kính. Thêm nữa, khi đó đã có mấy lần đưa sinh viên đi thực tập về chè ở Mộc Châu, ở Thanh Sơn, tôi mới nghĩ đến hay là chọn nghiên cứu về kinh tế sản xuất chè.

Rồi được thấy chuyện nước ta xuất khẩu chè đen sang châu Âu, sang I rắc. Khi lên nông trường Mộc Châu tận mắt thấy kĩ thuật chế biến chè đen. Mỗi lần đưa sinh viên đi thực tập, dẫn tụi trẻ thích gọi “thầy bằng anh” vào nương hái chè với công nhân, tôi mới biết chuyện quy định lứa hái của nông trường: lệnh hái non hay già quyết định năng suất chè búp và quyết định phẩm cấp thành phẩm xuất khẩu. Tôi thống kê báo cáo về số lứa hái, sản lượng hái, phẩm cấp búp tươi trong từng lô chè và hình thành câu chuyện rất lý thú: quan hệ giữa năng suất, phẩm chất chè búp và phẩm cấp thành phẩm chế biến. Có nhiều vấn đề mâu thuẫn trong quan hệ số lượng, chất lượng. Đại loại là hái chè búp tươi dài ngắn khác nhau sẽ có thời gian lứa hái khác nhau, sản lương trung bình của vườn cây trong năm khác nhau và tất nhiên chế biến ra thành phẩm có phẩm cấp khác nhau, từ đó sẽ bán được giá khác nhau.

Tôi bàn chuyện này với thầy Kính nhân một lần hội thảo được gặp thầy. Thầy nói đúng như thế, nếu muốn quan tâm kĩ hơn thì thầy sẽ giúp được chuyện tư vấn cho tôi. Khi đó thầy Trần Đình Đằng đồng ý giúp tôi là người hướng dẫn thứ nhất, người hướng dẫn thứ 2 thì nhiều người khuyên tôi chọn một thầy ở Đại học Kinh tế Kế hoạch (nay là KTQD). Tôi cũng đã gặp nhiều GS ở Đại học Kinh tế - Kế hoạch và họ cũng sẵn sàng giúp. Tuy nhiên tôi nghĩ vấn đề nghiên cứu phải có một người tư vấn về kĩ thuật để sau này kết quả nghiên cứu sẽ không bị tranh cãi khi các vùng, các mảng kiến thức không đủ thấm đều cho các chuyên gia đánh giá trong hội đồng. Thế là tôi nhờ thầy Kính giúp. Từ đây mọi chuyện liên quan đến kĩ thuật cây chè đều được thầy Kính tư vấn rất rõ ràng và nhờ thế tôi đã dùng một thuật toán của bài toán quy hoạch tuyến tính kết hợp khâu sản xuất chè búp với khâu chế biến chè xuất khẩu (xanh, đen, vàng) để tối ưu mục tiêu hiệu quả sản xuất – chế biến. Phần toán thì thầy Kính không hiểu lắm nhưng các tư vấn về kĩ thuật chè giúp tôi bảo vệ thành công luận án ngày 16-1-1996. 

Khi làm nghiên cứu sinh về chè tôi mới được tiếp cận bài thơ hồi thầy dạy cách đầy đủ, đó là bài thơ nhiều người gọi là Trà ca của Lô Đồng. Nay thì tư liệu này rất dễ tìm thấy trên internet (xem tư liệu[5] và chi tiết ở đường link trong chú dẫn này).

Cây công nghiệp lưu niên: mía, cói cô Đoàn Thị Thanh Nhàn dạy.

Cô Nhàn[6] có khuôn mặt tươi tắn, khá cao và xinh, giọng nói rõ và giảng bài hay lại rất thuộc giáo án. Tuy nhiên các nội dung cô Nhàn dạy tôi không nhớ gì nhiều.

Người ta gọi những cây công nghiệp lưu niên hay lưu gốc vì chúng được trồng 1 năm có thể thu hoạch 2-3 năm. Trong kế toán người ta dùng kĩ thuật phân bổ chi phí chứ không khấu hao như cây lâu năm.

Cây công nghiệp ngắn ngày: đậu tương, lạc do thầy Lê Song Dự[7] dạy. Thầy Dự thấp bé, giọng Nghệ An đặc, nói khó nghe. Thầy là anh em gì đó với Hiệu trưởng Lê Duy Thước. Gọi là cây công nghiệp ngắn ngày vì trồng mấy tháng là thu hoạch, tính chất công nghiệp của nó vì có thể sử dụng sản phẩm chế biến công nghiệp (làm dầu).

Hồi đó tôi còn nhớ có giống lạc tên là cúc Lục Ngạn, cúc Nghệ An. Sau này được vài lần ăn lạc cúc Nghệ An. Nay giống này chỉ còn trong bảo tồn, không mua được vì dân đã không trồng nữa. Nhưng nếu từng được ăn lạc cúc Nghệ An (tôi chưa từng được nếm cúc Lục Ngạn) thì sẽ không bao giờ có thể quên được. Hạt lạc cúc Nghệ An màu vỏ lụa đỏ rất đẹp, hạt lại quá bé nhưng độ bùi và thơm của nó thì không loại nào sánh kịp.

Môn học Rau quả (45 tiết) do cô Tạ Thị Thu Cúc[8] dạy phần rau, thầy Cao Anh Long[9] dạy phần quả.

Cô Cúc sau này bảo vệ luận án tiến sĩ về giống cà chua xuân hè, một giải pháp để có thể trồng được cà chua trái vụ ở miền Bắc (trước chỉ có 1 vụ cà chua đông). Nhưng khi dạy thì tôi không nhớ ấn tượng gì, hay tại mấy cây rau này cũng không có gì xa lạ với chúng tôi. Tôi chỉ quan tâm cách phòng trừ bệnh cà chua mốc sương[10] thối quả vì hồi ở nhà, nhiều khi trồng được những vườn cà chua rất tốt mà gặp bệnh mốc sương là trắng tay.

Thấy Long dạy phần cây chuối và dứa. Tôi cũng chỉ còn nhớ một thông tin lý thú được thầy Long cho biết là trong dân gian người ta tình cờ tìm ra phương pháp cho dứa ra quả bằng cách “đạp dứa”, tức là giẫm lên cây cho dứa đổ nghiêng ra, các cây đổ nghiêng sẽ ra hoa. Sau này tình cờ người ta phát hiện ra các cây dứa gần chỗ bị đốt cỏ cũng nhiều quả, từ đó phát hiện ra khói có liên quan đến phát dục hoa dứa để sau này người ta biết cho dứa ra hoa bằng cách dùng đất đèn[11].

Đây là câu chuyện cũng được lớp KT20A dựng thành một “kịch bản” liên quan đến anh Vũ Đình Hòe, tổ 2. Hồi đó vợ chồng anh Hòe lấy nhau mãi chưa có con. Chị phải ra trường thăm anh mấy lần và đã sinh được cháu. Mấy anh lớn tuổi như anh Nguyễn Đức Trí, Phùng Đức Thoại nói rằng tại anh Hòe không biết kĩ thuật “đạp dứa”. Nhờ được học môn cây dứa mà anh Hòe đã biết vận dụng cách “đạp dứa” độc đáo để sinh em bé khi chị ra thăm anh ở trường.

*

*  *

Nhiều cây trồng thông dụng cho nông dân vùng đồng bằng Bắc bộ chúng tôi được học ở trường vì khi đó ĐHNN I được coi là nguồn cung cấp cán bộ cho khu vực đồng bằng sông Hồng (ĐHNN II cung cấp cán bộ cho Khu IV, còn ĐHNN III, tức Nông lâm Bắc Thái, cung cấp cán bộ cho miền núi trung du phía Bắc).

Nhìn chung, kiến thức về các cây trồng không nhiều về lý luận, cách trình bày cơ bản chỉ là thời vụ (ngày tháng cụ thể), bón phân (số kg/ha), số lần làm cỏ… thiếu hấp dẫn (kiến thức kiểu này học lúc nào chẳng được). Người dạy khi đó hầu như không thể hiện được những khác biệt về thời vụ ở 3 miền (khi đó miền Nam vừa giải phóng). Cho đến nay người ta đã tổng kết được nguyên lý sống nói chung, trồng cây nói riêng là “người Bắc chống lũ, người Trung né lũ, còn người Nam thì sống chung với lũ”. Chẳng hạn vùng quê tôi Thanh Hóa có nạn lũ tiểu mãn nên mùa vụ phải “né” vì thế thường sớm hơn miền Bắc rất nhiều. Từ “né” nghĩa là không thể chống chọi được (như lũ năm nay - năm 2025 ở miền Trung chẳng hạn). Học các cây trồng chủ yếu có giá trị thực thi “chỉ đạo sản xuất” khi ra trường, tất nhiên phải học thêm nhiều khi trực tiếp tổ chức sản xuất. Một nền tảng cho kiến thức người kĩ sư kinh tế nông nghiệp công tác trên các nông trường quốc doanh hay HTX sản xuất nông nghiệp.

Chuyện thi môn học Trồng trọt chuyên khoa cũng được coi là những đánh giá có tính “chốt” quan trọng. Thi hết môn ngày 30-1-1978 dưới hình thức thi viết và cũng chỉ hạn chế ôn tập cây lương thực và cây công nghiệp dài ngày. Kết quả thi hết môn tôi đạt điểm 5/5.

Khi tốt nghiệp còn có môn thi Kĩ thuật nông nghiệp (gồm phần cây trồng và chăn nuôi). Sinh viên ôn tập cả hai phần chừng 3 - 4 ngày thì tổ chức phụ đạo và bốc thăm phần thi: hoặc chăn nuôi hoặc trồng trọt. Dù sao cũng là dịp bắt sinh viên ôn lại kiến thức cây trồng vật nuôi cơ bản trước khi ra trường. Sau bốc thăm chọn được số người thi trồng trọt và chăn nuôi thì phần ôn tập còn lại (2-3 ngày) chỉ học sâu thêm nội dung riêng phần thi. Một kiểu đánh giá tốt nghiệp như tổng duyệt kiến thức trước khi đưa các kĩ sư vào cuộc sống!



[1] Khi dạy chúng tôi thầy là PTS khoa học. Thầy học Đại học ở Trung Quốc, làm nghiên cứu sinh về cây chè ở Gruzia (Liên Xô). Sau này GS TS Nguyễn Ngọc Kính qua Bộ Nông nghiệp làm đến Vụ trưởng Vụ Khoa học. Vợ thầy là con gái nhà ngoại giao Xuân Thủy nổi tiếng.

[2] “Trản” hay “oản” nghĩa là chén uống trà.

[3] Cà phê chè (Arabica), cà phê vối (Robusta) và cà phê mít (Liberica) là ba giống cà phê chính, khác nhau về đặc tính cây, hương vị và điều kiện trồng

[4] Ly cà phê đen được người Nam gọi tắt là “cái đen”.

[5] Đây là bài thơ có tên Thư viết nhanh tạ ơn quan gián nghị họ Mạnh gửi trà mới, hay Thất uyển trà ca (gọi tắt là trà ca).  Xem thêm tại https://www.thivien.net/L%C6%B0-%C4%90%E1%BB%93ng/T%E1%BA%A9u-b%C3%BAt-t%E1%BA%A1-M%E1%BA%A1nh-gi%C3%A1n-ngh%E1%BB%8B-k%C3%BD-t%C3%A2n-tr%C3%A0/poem-cwd22cTED0FtlMGOAisk5w

Đoạn thơ về uống trà như sau:

Nhất oản hầu vẫn nhuận/Lưỡng oản phá cô muộn/Tam oản sưu khô trường,
Duy hữu văn tự ngũ thiên quyển.
Tứ oản phát khinh hạn/Bình sinh bất bình sự/Tận hướng mao khổng tán.
Ngũ oản cơ cốt thanh/Lục oản thông tiên linh/Thất oản khiết bất đắc dã/Duy giác lưỡng dịch tập tập thanh phong sinh.

Dịch nghĩa

Chén thứ nhất trơn miệng thông họng/Chén thứ hai xua tan sự cô đơn phiền muộn/Chén thứ ba dốc sạch nỗi lòng
Chỉ còn năm nghìn cuốn sách/Chén thứ tư toát mồ hôi/Mọi nỗi bất bình trong đờ
i/Thoát hết ra ngoài theo lỗ chân lông.
Chén thứ năm xương thịt đều trong sạch/Chén thứ sáu thông lên cõi tiên/Chén thứ bảy không nhấp nổi.
Chỉ thấy lớp lớp gió mát sinh ra từ hai bên nách.

[6] PGS TS Đoàn Thị Thanh Nhàn năm 2025 vẫn còn khỏe.

[7] PGS TS Lê Song Dự nay đã mất.

[8] PGS TS NGƯT Tạ Thị Thu Cúc (tức vợ thầy Đằng) nay vẫn mạnh khỏe. Cô là người được Giải thưởng Co-va-lep-kai-a rất sớm trong giới khoa học nữ ở Việt Nam.

[9] KS Cao Anh Long sau này là Trưởng Phòng Khoa học của ĐHNN I. Thầy nay vẫn còn khỏe, năm 2025 vẫn đến dự 20-11 với khoa.

[10] Bệnh mốc sương (sương mai) cà chua do nấm Phytophthora infestans gây ra, rất nguy hiểm, tấn công lá, thân, quả, làm lá úa vàng, thâm đen, quả sượng và thối, có thể gây mất mùa toàn bộ, thường phát triển mạnh trong điều kiện ẩm ướt, mát mẻ, lây lan nhanh qua bào tử.

[11] Đất đèn hay khí đá là 𝐶𝑎𝐶2 dùng để tạo khí axetylen (C₂H₂). 


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét