Thứ Năm, tháng 12 04, 2025

Kĩ sư kinh tế nông nghiệp được học những gì về cây trồng (kì 1)

Mở đề

Chúng tôi được đào tạo để trở thành kĩ sư kinh tế nông nghiệp. Cái danh hiệu kĩ sư rất hay: kĩ sư[1] theo nghĩa Hán Việt là người thầy về kĩ thuật. “Người thầy về kĩ thuật” chuyên ngành kinh tế nông nghiệp tất phải biết rất nhiều thứ: đối tượng sản xuất (cây trồng, vật nuôi), công cụ sản xuất (máy móc, công cụ), tổ chức sản xuất (mô hình sản xuất, kế hoạch sản xuất, phân công lao động…), chỉ đạo quản lý sản xuất (điều hành, bố trí, đánh giá…) và tất nhiên là những thước đo (chỉ tiêu) về năng lực của công việc người kĩ sư.

Đối với lĩnh vực cây trồng chúng tôi được học những môn học sau đây: Trồng trọt đại cương (120 tiết kì 2 năm thứ 2), Trồng trọt chuyên khoa (180 tiết kì 1 năm thứ 3), Rau quả (45 tiết kì 2 năm thứ 3). Tổng số 345 tiết về cây trồng là một ưu tiên rất lớn cho nghề kĩ sư nông nghiệp. Người ta tách môn Rau quả sang kì 2 năm thứ 3 (đủ thời lượng 45 tiết để thành môn kiểm tra) có lẽ để môn Trồng trọt chuyên khoa không quá dài – với lại một kì học toàn cây trồng thành quá “khẳm”.

Trồng trọt đại cương học về những cơ sở nền tảng của cây trồng nông nghiệp: sinh lý cây, đất, nước, khí hậu… Cây lương thực gồm lúa – ngô – khoai lang, cây công nghiệp dài ngày có chè – cà phê, cây công nghiệp lưu niên có cói – mía, cây công nghiệp ngắn ngày gồm lạc – đậu tương và rau quả có cà chua – bắp cải – su hào cam, chuối, dứa. Riêng với tôi, vì sinh ra ở vùng đồng chiêm trũng nên không biết chè, cà phê, cói, lạc, đậu tương, dứa. Các cây khác thì đã biết và coi như từng quen thuộc. Nói chung cây trồng được trang bị như trên đã là một phổ rộng rãi cho quan sát ở đồng bằng, trung du.

Cũng nhờ được học nhiều thầy giáo Khoa Trồng trọt nên tôi có thêm hứng thú tiếp thu kiến thức hỗ trợ các nội dung môn học chuyên ngành. Hứng thú nhất là các nội dung mang tính kĩ thuật và kinh nghiệm trong chuyên môn được các môn học này tổng kết. Chúng dễ nhớ và nhớ lâu hơn các nội dung của Triết học hay Kinh tế chính trị Mác Lênin.

Môn Trồng trọt đại cương

Đây thực sự là môn học thuộc khoa học cơ sở[2] quan trọng cho cây trồng vì các kiến thức trang bị cho kĩ sư kinh tế nông nghiệp, đại loại có các phần sau (tôi nhớ “lốm đốm” không trật tự lắm): Sinh trưởng của cây trồng; Đất đối với cây trồng; Nước đối với cây trồng; Dinh dưỡng đối với cây trồng; Khí hậu trong trồng trọt;… Tôi rất thích học môn này vì nó thực sự rất căn bản cho việc trồng cây, có tính lý luận sâu sắc về cơ sở khoa học. Đây là nền tảng của việc thực hiện trồng cây theo mục đích con người.

Các thầy dạy là thầy Tuyền (không nhớ họ) và thầy Phùng Đăng Chinh. Nay tôi không còn chắc thầy nào dạy cụ thể phần gì, tuy nhiên còn nhớ được một số nội dung có liên quan đến các thầy dạy.

Kĩ sư Tuyền dạy 60 tiết phần đầu. Ông người gầy, thấp, đeo kính trắng tròn, nói vừa phải kiểu không nhanh, không chậm, không to, không nhỏ, không dài, không ngắn. Cái đầu thì hơi nhỏ nhưng cổ lại cao. Khi dạy rất ít cười nhưng có cái miệng tươi dạng “hàm tiếu” tự nhiên nên trông rất tin cậy, dễ gần khi giao tiếp. Theo tôi, chắc chắn khuôn mặt đó thuộc loại người hiền lành, chất phác, thật thà, có hậu.

Phần dạy của thầy liên quan đến sinh lý cây trồng và đất đối với cây trồng vì tôi còn nhớ mấy khái niệm như chu trình crep; keo đất; phương pháp làm đất tối thiểu; các hình thức canh tác trên thế giới.

Tôi nhớ thầy trình bày bằng phấn trắng trên bảng một hình tròn thể hiện chu trình crep với nhiều kí hiệu hóa học từ trên xuống, từ phải qua trái chiều kim đồng hồ. Khi cái vòng tròn ấy khép kín, phủ đầy các mũi tên và kí hiệu các chất hóa học vừa xong, thầy chưa kịp giảng thì kẻng hết giờ vang lên. Tiếc quá, chúng tôi tuy ghi kịp vào vở nhưng đáng ra được thầy nhắc lại lần nữa khi bảng vừa vẽ xong thì hay biết bao! Có thể là khi đó thầy cũng còn trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm. Với một giảng viên nhiều kinh nghiệm thì bao giờ cũng biết phân chia thời gian cho các mục giảng một cách hiệu quả. Trường hợp này nếu để mấy hôm mới đến thời khóa biểu môn của thầy thì chắc chắn thầy không có thời gian vẽ lại nếu muốn trình bày thêm gì đó. Một cái vòng tròn kết thúc chu trình nổi tiếng mà cơ bản chỉ mới chỉ được thấy “vẽ ra” rất đẹp, nhưng chưa được “tô điểm” thêm bằng giải thích về những phản ứng xoay vòng quyết định sự sống của tế bào!

Về sau tôi được biết chu trình crep[3] rất nổi tiếng liên quan đến sinh lý tế bào trong trao đổi chất. Chu trình crep (tiếng Anh là krebs cycle) còn gọi là chu trình acid citric hoặc chu trình TCA (Acid Tricarbocilic) là một chuỗi các phản ứng sinh hóa được xúc tác bởi các enzyme xảy ra trong ty thể để tạo thành carbon dioxide và coenzyme bị khử, tạo ra phân tử mang năng lượng hóa học của tế bào - cung cấp năng lượng cho mọi hoạt động sống. Chu trình diễn ra trong điều kiện hiếu khí ở bên trong của ty thể. Ngoài ra, chu trình còn cung cấp tiền chất của một số axit amin nhất định.

Tôi rất thích cái lôgic của nội dung thầy trình bày nhưng không hiểu lắm về chi tiết. Có lẽ chúng tôi không đủ kiến thức để đi sâu vào cơ chế hóa sinh phức tạp trong tế bào mà người ta dạy cho chúng tôi. Kĩ sư kinh tế cần đến thế là đủ, còn chi tiết dành cho kĩ sư trồng trọt - người bạn sẽ đồng hành cùng kĩ sư kinh tế trong công tác sau này.

Về keo đất, tôi còn nhớ thầy nói trong tính chất hóa học của đất. Đó là những hạt đất cực nhỏ (< 1 μm), không tan trong nước nhưng có thể lơ lửng (huyền phù). Keo đất có vai trò quan trọng như một "ngân hàng dinh dưỡng" của cây trồng, giúp cây trồng hấp thụ và giữ lại các chất dinh dưỡng. Mỗi hạt keo có một "nhân keo" ở trong, bao quanh bởi một "lớp điện kép" gồm các ion quyết định điện. Keo đất có nhiều tác dụng: a/ giữ dinh dưỡng (bề mặt keo đất thường mang điện tích âm, có khả năng giữ các ion dinh dưỡng mang điện tích dương, giúp ngăn rửa trôi và cung cấp cho cây khi cần); b/ giữ nước (keo đất có khả năng hút và giữ nước tốt, giúp đất giữ được ẩm cho cây trồng); c/ bảo vệ rễ (hạt keo đất bao quanh rễ cây như một lớp đệm, giúp bảo vệ rễ khỏi các tác động cơ học và dao động độ ẩm); d/ tạo độ phì nhiêu (tương tác giữa keo đất và các thành phần khác tạo nên cấu trúc đất có nhiều lỗ rỗng, cung cấp không khí cho rễ hô hấp và nước cho cây). 

Về các phương pháp làm đất, thầy có nói về phương pháp "làm đất tối thiểu", một phương pháp giảm thiểu việc xới đất hoặc chỉ thực hiện những thao tác cần thiết để trồng trọt, nhằm giảm chi phí, công sức và bảo vệ kết cấu đất. Mục đích: Tiết kiệm thời gian, công sức, và chi phí lao động; bảo vệ cấu trúc đất; giảm xáo trộn đất; hạn chế mầm bệnh. Thầy nêu ví dụ về người nông dân vùng cao lấy cây gậy chọc xuống đất để gieo hạt ngô là một dạng của “làm đất tối thiểu”.

Về các hình thức canh tác, tôi còn nhớ thầy nói về du canh, độc canh, đa canh, luân canh, xen canh. Độc canh là trồng duy nhất một loại cây ở cùng một mảnh đất trong nhiều năm liên tiếp, hậu quả là cạn kiệt chất dinh dưỡng của đất và tạo ra một quần thể cỏ dại và sâu bệnh cạnh tranh cao. Luân canh là trồng các loại cây khác nhau trên cùng một diện tích theo một trình tự thời vụ, có tác dụng giảm sự phụ thuộc vào các loại chất dinh dưỡng, giảm áp lực sâu bệnh và cỏ dại, giảm các loại sâu bệnh.

Cho đến nay kí ức trong tôi về thầy Tuyền vẫn còn rất rõ trong cơ sở nền tảng cho cây trồng ở vài nội dung thầy đã giảng. Chúng còn sót lại phải chăng vì tôi có hứng thú với môn học.

Phần sau 60 tiết do thầy Phùng Đăng Chinh dạy, tôi nghĩ là phần liên quan đến khí hậu đối với cây trồng và nước đối với cây trồng.

Kĩ sư Phùng Đăng Chinh dáng tầm thước, vai rộng, tóc dày chải cẩn thận, giọng nói rõ ràng và âm có điệu khá duyên. Thầy đọc khá nhanh nên lớp rất trật tự nghe và chép bài. Tôi cũng không có nhiều thời gian ngắm thầy khi thầy đọc, nhưng giọng nói của thầy thì vẫn còn nhớ rõ – một giọng đủ vang, rõ âm, rõ câu, biết dừng ngắt khi gặp dấu phẩy hay dấu chấm.

Khi lên lớp giảng cho chúng tôi hình như thầy đang có công việc quan trọng (nghiên cứu hay kiêm nhiệm công tác gì đó). Thầy vào lớp rất đúng giờ, kẻng báo hết giờ là ra rất nhanh. Thầy bước vào lớp là giảng tiếp ngay bài hôm trước, không có “mào đầu” hay nhắc lại vài phút để người học kịp logic những nội dung đã nghe tiết trước. Có lần thầy vào lớp, lớp đứng chào thầy chưa kịp ngồi hết thì thầy đã đọc ngay vào mục: gió mạnh. Số là bài hôm trước thầy đang giảng đến mục các loại gió, ý 1 - gió nhẹ thì hết giờ. Vào buổi tiếp, thầy đọc ngay ý 2 - gió mạnh thì nhiều người không kịp nghe nên phải hỏi lại. Thầy cảm thấy khó chịu và đọc lại rõ và to hơn bình thường: “gió mạnh”. Từ đó có người trong KT20A đùa gọi thầy là “ông gió mạnh”.

Đây cũng là một kinh nghiệm cho công việc giảng dạy của tôi. Tất nhiên người thầy khi giảng bài phải giỏi về cân chỉnh thời gian theo lượng kiến thức trình bày. Nhưng trong các buổi giảng bài, do cảm hứng các tiết giảng không giống nhau nên việc kết thúc có thể không như ý định. Nhưng người thầy phải biết giờ kết thúc để còn vài phút tóm lại những nội dung đã trình bày và hôm đến tiết tiếp sau thì nhất định phải có thời gian “nối lại” kiến thức đã giảng giúp người nghe “hồi tưởng lại” ít nhiều rồi mới thêm kiến thức mới. Đó là chưa kể đến việc phải biết tạo ngay một cảm hứng cho buổi giảng mới để người nghe “bớt đau tai” nhàm chán. Sau này (khoảng 5 năm làm giảng viên), tôi đã có kinh nghiệm biết để mỗi buổi giảng cần vài phút theo dõi cảm hứng người học và cố biết cách để có những “nhịp nghỉ” giúp người nghe tiếp được câu chuyện bài giảng – vì người giảng luôn tìm cách đưa cho người nghe một sự áp đặt nhất định – không hẳn có 100% thích nghe.

Phần thầy dạy có mục về khí hậu trong trồng trọt, trong có đề cập đến ánh sáng, nhiệt độ, ẩm đổ, mưa, gió. Tôi không nhớ được nhiều kiến thức thầy dạy nhưng có vài ý còn láng máng như có chuyện xác định nhiệt độ tối thấp, tối cao, tối thích với từng loại cây trồng, nhiệt độ và ánh sáng (số giờ chiếu sáng trong ngày) quyết định mùa vụ… Một nội dung khác cũng còn nhớ ít nhiều là cây trồng bị dịch hại do côn trùng, nấm, cỏ dại. Đại loại những thứ mà không cần học nhiều cũng biết!

Môn học này thi vấn đáp ngày 4/8/1977, tôi đạt 4/5 điểm.

Vài chuyện ngoài lề về thầy giáo dạy môn này

Thầy Phùng Đăng Chinh - tức “ông gió mạnh” - sau này có thời gian làm Trưởng phòng Hành chính của ĐHNNI hồi tôi mới về trường làm giảng viên (khoảng năm 1975-1976). Thầy vẫn giữ được phong thái rất hành chính (đúng giờ, nghiêm túc, đàng hoàng, ăn mặc gọn gàng, tóc chải mượt, chỉn chu). Khi làm công việc hành chính, thầy cười nhiều và nụ cười rất đẹp, xã giao. Anh Hợp hồi đấy làm ở Phòng tài vụ có vẻ khá thân với thầy Chinh. Hình như thầy Chinh sau đó cũng có thời gian đi chuyên gia châu Phi. Quê thầy ở Gia Lâm, Hà Nội (Phù Đổng hay Cổ Bi gì đó) – thảo nào có giọng nói rất Hà Nội.

Thầy Tuyền sau này cũng ở tầng 3 nhà tập thể cán bộ A1 với chúng tôi. Thầy cũng đi chuyên gia châu Phi. Những năm 1986-1990, các thầy đi chuyên gia về mua được rất nhiều xe máy cũ. Một lần tôi nghe nói thầy Tuyền mua được khá nhiều xe Honda Cub mang về. Hồi đó xe Honda Cub “bãi” bán rất có giá – người ngồi xe được ví như ngồi một tòa nhà di động. Chúng tôi khi ấy ở tập thể ngồi đùa với nhau rằng nếu tính số tiền bán xe của một chuyên gia chia theo lương trung bình một cán bộ Khoa Kinh tế như chúng tôi thì chúng tôi phải sống và hưởng lương cán bộ giảng dạy tới 240 năm mới tương đương số tiền bán xe đó!

Từ khoảng 1994-1995 về sau tôi không gặp và cũng không nghe tin về các thầy lần nào nữa. Hy vọng các thầy có cuộc sống bình an cuối đời.



[1] Nay người ta đổi thành danh hiệu rất “cổ hũ” thời phong kiến là cử nhân. Cử nhân là người được đề cử để làm quan. Thật là ngớ ngẩn cho cái giáo dục thời nay!

[2] Nhắc lại chút: trong một chương trình đào tạo, người ta chia thành 3 nhóm: khoa học cơ bản; khoa học cơ sở và khoa học chuyên ngành. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét