Nhân ngày giỗ cụ Ông và cụ Bà Khởi Tổ (hay Đời Thứ nhất), ghi chép dưới đây cơ bản từ thông tin Tộc phả Lê Hữu Phúc Ấm.
1. Thông tin trang phả
1.1 Nguyên văn
Ảnh trang phả

Ảnh trang phả viết về Đời thứ nhất
Dịch từ trang phả Hán tự
Đệ Nhất đại tự Pháp Nghị
Thất nguyệt thập tứ nhật kỵ
Táng tại Cồn Nguộc
Tỷ hiệu Ân
Thất nguyệt thập tứ nhật kỵ
(Sinh hạ)
Tự Pháp Nghĩa
Tự Pháp Diệu
Tự Phúc Trực
1.2 Dịch nghĩa
Cụ Đời Thứ 1 có tên
tự[1] là
Pháp Nghị, mộ táng tại Cồn Nguộc, ngày giỗ là 14-7. Vợ cụ tên hiệu
là Ân, ngày giỗ 14-7.
Các cụ sinh hạ:
Trưởng nam[2]
tên tự là Pháp Nghĩa, thứ nam tên tự là Pháp Diệu và thứ nam (út)
tên tự là Phúc Trực.
2. Phân tích, bổ sung, cập
nhật thông tin
Các thông tin về cụ Đời
Thứ 1 (Khởi Tổ) ngắn gọn, giản dị nhưng rất quan trọng. Việc trang
phả có được đầy đủ như trên là rất quý giá bởi thông tin đó làm rõ
vị Khởi Tổ của Dòng họ Lê Hữu cư
trú tại Phúc Ấm được tính từ đây.
Vợ cụ ở trang phả chỉ
ghi hiệu là Ân, nhưng trong bia mộ ghi rõ Lê Lệnh thị[3] hiệu
Từ Ân đã làm rõ cụ bà cũng mang họ Lê, thuộc dòng dõi gia đình danh
giá. Các cụ đều có ngày mất là 14-7 (hội kỵ).
Tên tự cụ Khởi Tổ là
Pháp Nghị, vợ cụ tên hiệu là Từ Ân. Pháp (法)
nghĩa là phép tắc, gương mẫu, khuôn pháp, nghiêm túc, khéo léo (có
thuật, có tài ăn nói, xử thế). Nghị (議)
mang ý nghĩa nghị luận, bàn luận, sắp đặt trước. Ân (恩) có nghĩa ơn, ân cần, ân trời. Chồng
tên tự là Nghị, vợ tên hiệu là Ân, các con có tên tự là Nghĩa (義): có nghĩa, tình nghĩa; Diệu (妙): kỳ diệu và Trực (直): thẳng thắn, trung trực. Nghị – Ân;
Nghĩa - Diệu – Trực là những suy tôn của đời sau cho các cụ Đời Khởi
Tổ thật nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Thông tin mộ phần và
bia mộ
Tại phả có ghi mộ
các cụ Khởi Tổ táng tại Cồn Nguộc. Thực địa 2021 tại Cồn Nguộc,
mộ các cụ Khởi Tổ được giữ gìn nguyên vẹn, tôn tạo uy nghi. Mộ đã
được tu tạo và bồi đắp nhiều lần nên đây là ngôi mộ cao, to nhất ở
phần chính giữa Cồn Nguộc.
Ảnh
bia mộ cụ Ông-Bà Khởi Tổ: mặt trước (trái) và mặt sau (phải)
Mặt trước
Lê Hữu tộc bia
Nhất đại Khởi Tổ Lê Quý công tự Pháp Nghị
Tỷ Lê Lệnh thị, hiệu Từ Ân.
Thất nguyệt thập tứ nhật hội kỵ.
Mặt sau
Ất Sửu niên, nhị nguyệt thập tam nhật tu tạo
bia.
Dịch nghĩa văn tự bia
Mặt trước
Bia Dòng họ Lê Hữu
Đời Thứ 1 Khởi Tổ Lê Quý công tên tự là Pháp
Nghị;
Vợ: Lê Lệnh thị tên hiệu là Từ Ân. Giỗ 14-7 hội
kỵ (cùng ngày).
Mặt sau
Tu tạo bia ngày 13-2 Ất Sửu.
Bia khẳng định rõ
ràng sự suy tôn Khởi Tổ. Cụ bà Khởi Tổ cũng người họ Lê, "Lệnh
thị" khẳng định thêm ý nghĩa quan trọng của gia đình cụ bà. Các
cụ có gia sự tốt đẹp, được ca ngợi qua các từ Quý công, tự Pháp...,
Lệnh thị, hiệu Từ... (các từ dành cho người sống thọ, hưởng phúc,
gia thế yên ổn, phát triển).
3. Niên đại, bối cảnh xã
hội
Các thông tin trên không
thể có căn cứ để xác định niên đại một cách rõ ràng. Tuy nhiên, xét
về phả, thông thường cách tính mỗi đời là khoảng 20-35 năm (tùy theo từng
đời), suy ra cụ Khởi Tổ sinh khoảng 1670 ± 10, mất khoảng 1725 ± 10, tức
cụ sinh cách hiện nay khoảng 350 ± 10 năm (Xem thêm bài Nhìn lại lịch sử
phát triển Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm
– Phần thứ hai). Từ đó xác định các biến cố liên quan đến thời
đại, đến bối cảnh lịch sử đời Khởi Tổ. Vào thời đó, lịch sử đất
nước ở vào thời Lê Trung Hưng[4] nhà
Hậu Lê. Cụ Khởi Tổ đã chọn Đông Sơn làm nơi lập nghiệp, lấy Phúc Ấm
để an cư, coi là quê hương để cư trú khoảng 350 năm qua (Xem thêm Bài Làng
Phúc Ấm... Phần thứ hai).
4. Giá trị đóng góp
Đây là dấu mốc khởi
đầu cho Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm. Hồng phúc các cụ để lại là Dòng
họ Lê Hữu phát triển liên tục, cư trú an lạc tại làng Phúc Ấm kéo dài suốt
350 năm qua.
5. Giá trị di sản
- Nguồn gốc Dòng họ
Dòng
họ Lê Hữu Phúc Ấm được minh chứng rõ ràng, đặc biệt
chứng tích mộ các cụ Khởi Tổ, Khu mộ Cồn Nguộc cùng các ngôi mộ của Dòng
họ suốt hơn 3 Thế kỷ.
- Về sự hội mộ, hội
bia và hội kỵ
Các cụ đã được an
táng cùng nhau trong một ngôi mộ đất đắp to có ý nghĩa được tôn
giữ cho mai sau sự ổn định, tập trung, dễ nhận biết, dễ tìm kiếm
trong không gian tưởng niệm. Ngay nay, trong quy tập hoặc xây dựng mới,
rất nhiều gia đình, dòng họ cũng đang thực hiện để các cụ ông - cụ
bà cạnh nhau theo nguyên tắc "nam tả, nữ hữu" trong các nghĩa
trang hay các khu mộ phần gia đình. Việc các cụ xưa đã biết và thực
hiện điều này cho thấy tư duy về tầm nhìn mang giá trị lâu dài, bền vững.
Việc hội kỵ
cũng là điểm đặc biệt hiếm và may mắn. Tại phả và bia mộ đều nêu
rõ sự hội kỵ 14-7. Cũng như cách thể hiện hội mộ và hội bia, việc hội
kỵ có giá trị quan trọng về thông tin để sự hiếm có này trở
thành sự kiện dễ nhớ, dễ thực hiện nghi lễ khi Dòng họ cùng tôn
kính Đời Khởi Tổ, đồng nghĩa với việc cùng tôn kính cả 2 cụ, cùng
tưởng nhớ về cả cụ ông và cụ bà. Sự hội mộ, hội bia, hội kỵ
không chỉ thể hiện tính độc đáo có tư duy chủ kiến hướng về dài lâu
mà còn sự khôn khéo về lý lẽ, sự tinh tế về hành lễ, sự hợp nhất
kính trọng tôn thờ giới (không phân biệt nam nữ), không bị phân tán
không gian, thời gian... Chúng tôi đánh giá cao điều này trong việc nhất
quán, thống nhất tạo sức tập trung tưởng nhớ cội nguồn, tập trung
trong thực địa, trong ý chí, trong Tộc phả...
Ngày giỗ cũng rất
đặc biệt: 14-7. Trong dân gian, tháng 7[5] là
tháng báo hiếu. Quan niệm Rằm tháng 7 là báo ơn sinh thành: “Cúng cả
năm không bằng Rằm tháng 7”. Ngày 14 là ngày trước Rằm, ngày mà nhà
nhà chuẩn bị cúng tế tổ tiên, đốt hàng mã cho người đã khuất, tế
cô hồn... Với không khí chung đó, ngày giỗ các cụ Khởi Tổ thật nhiều
ý nghĩa.
Di sản từ các cụ Khởi
Tổ mặc dù giản dị ở phần phả, phần bia, phần mộ nhưng các yếu tố
Đời Thứ 1 bảo đảm sự trường tồn, phát triển và bền vững của Dòng
họ Lê Hữu.
6. Những điểm chưa
khảo cứu được
- Cụ Khởi Tổ từ đâu
đến?
Trong Lời
Tựa cuốn phả gốc, ông Lê Hữu Đát có ghi "Tổ tôn
ngưỡng Đông Sơn chi thịnh khí, tư Phúc Ấm dĩ an cư"... đã làm
rõ thêm việc cụ Khởi Tổ chọn Đông Sơn, Phúc Ấm là nơi cư ngụ, là nơi
có đất thịnh để ổn định và phát triển Dòng họ. Điểm quan trọng là
khoảng 350 năm qua, Dòng họ vẫn duy trì sự cư ngụ và phát triển tại
nơi lựa chọn ban đầu này. Trong văn hóa và lịch sử, Đông Sơn là một
trong những nơi sinh sống của người Việt cổ (di chỉ trống đồng Đông
Sơn, Văn hóa Đông Sơn) và Dòng họ Lê là một trong 3 dòng họ lớn nhất
của Việt Nam có nguồn gốc cư trú lâu đời tại Thanh Hóa. Suy ra, cụ Khởi
Tổ rất có thể là một chi dòng họ Lê tại Thanh Hóa khi đó đã sống ở
Đông Sơn hoặc lân cận và đã đến khai hoang lập ấp tại Phúc Ấm (Xem
thêm các bài ở Phần thứ hai).
- Bia mộ được lập mới,
vậy trước đó có bia cũ?
Các cụ Khởi Tổ đã
mất cách đây khoảng 300 năm, việc lập bia chắc chắn được tôn tạo từ
các đời sau. Trên bia mộ còn ghi được ngày tháng năm tu tạo. Đó là
ngày Xuân mùa Thanh Minh tảo mộ. Ất Sửu không chắc chắn được niên
đại, nhưng trên thực địa, đây là bia đá to, chữ khắc hai mặt đẹp, rõ
nét, đường bệ, nghiêm trang. Mặc dù được chôn sâu chìm chỉ hở đầu bia
nhưng khi tôn tạo năm 1991 cho thấy may mắn còn nguyên vẹn. Căn cứ trên
mức độ ăn mòn theo thời gian chúng tôi cho rằng bia được lập năm Ất Sửu,
tức là năm 1925 (tất nhiên nếu có thể suy ra các năm Ất Sửu trước đó là
1865, 1805, 1745...). Trong điều kiện sự ăn mòn của mưa gió cho thấy bia
rất có thể được tu tạo 1925, do Tộc trưởng Lê Hữu Đát (Đời Thứ 8) thực
hiện. Các bia được ông Lê Hữu Đát lập cùng thời như bia mộ bà Nguyễn
Thị Trạc (Đời Thứ 8), bia mộ Bà Cô Tổ, bia mộ ông Thuần Thủy (Đời Thứ
7)... cũng có mức độ rõ nét tương tự. Một thời điểm năm 1865 cũng
đáng chú ý vì có liên quan đến cụ Tộc trưởng Phúc Huy (Đời Thứ 4).
Tuy nhiên nếu cụ Phúc Huy có lập bia thì cũng đã bị mòn mất chữ, nên sau đó đã
được ông Lê Hữu Đát đã tu tạo lại vào 1925 là hợp lý. Vậy ngày ghi
tu tạo trên mặt sau của bia là 13-2 Ất Sửu chính là ngày 7-3-1925.
- Sự trùng hợp may mắn: Ai đã quy tập
đưa các cụ táng về một mối?
Rất có thể cụ Phúc
Huy, Tộc trưởng Đời Thứ 4 là người có công lao và có điều kiện dựng
lại cơ nghiệp, mồ mả dòng tộc. Đối với cụ Phúc Huy thì cụ Khởi Tổ
cách cụ 4 đời, nghĩa là cụ Phúc Huy là chắt nội (gọi cụ Khởi Tổ bằng
ông cố/kỵ).
Việc quy tập về một mối
ngày nay rất phổ biến, nhưng thời điểm xa xưa ấy mà táng đặt cả hai
cụ trong một ngôi mộ là có chủ ý định hướng rõ ràng. Ngoài ra cũng
có thể suy đoán việc này được quy tập từ nơi khác về Cồn Nguộc. Cụ
Phúc Huy đã chọn được Cồn Nguộc làm Khu mộ của Dòng họ rất có thể
từ sự kiện được truyền ngôn về Bà Cô Tổ. Đây là chứng cứ lấy Cồn
Nguộc làm nơi linh thiêng cho Dòng họ và cất bốc mộ các cụ Khởi Tổ
về đây làm dấu mốc cho Dòng họ về lâu dài.
* *
*
Mỗi lần nghĩ về Dòng họ,
mỗi lần thắp hương cúi đầu viếng mộ các cụ Khởi Tổ và các vị Tiên tổ khác, những
người con trong Dòng họ Lê Hữu đều tưởng
nhớ công lao to lớn của người Khởi Tổ và đều thầm nghĩ đến sự may mắn mà con
cháu đời sau được hưởng phúc từ các cụ. Ẩm Hà Tư Nguyên (uống nước nhớ nguồn)
là mỗi niềm thành kính của mỗi người con trong Dòng họ, dù đi đâu về đâu, sinh
cơ lập nghiệp trăm miền đều luôn hướng về nguồn cội Dòng họ Lê Hữu, nhớ về nơi phát tổ Phúc Ấm, nhớ về những giá trị di
sản cội nguồn còn vẹn nguyên từ thời cụ Khởi Tổ. Như một lời kính lạy, viễn
tôn hậu sinh Đời Thứ 10 xin được sự phù hộ của các cụ Khởi Tổ và các vị
Tiên tổ để ghi chép biên tập Tộc phả, mong có được nhiều điều bổ ích cho truyền
thống Dòng họ.
Kính dâng !
[1] Tên
tự và tên hiệu là cách gọi tên đã giải thích ở Phần thứ nhất. Một
số vị có ghi rõ húy (như Đời Thứ 4, Đời Thứ 7, Đời Thứ 8). Trường hợp
không ghi húy, nhất là các vị từ các Đời Thứ 1 – Đời Thứ 6 thì tên tự
và tên hiệu được đời sau suy tôn người đã khuất (hiểu như tên hèm hay tên
thụy) dùng để xưng khi tế lễ. Tuy nhiên một số trường hợp có thể lại chính
là tên tục (tên thường gọi).
[2] Cách viết trong
trang phả cũ: phía phải là giới nam: từ trưởng đến thứ, tính từ
giữa ra bên phải; trái là giới nữ: trưởng đến thứ, tính từ giữa ra
phía trái. Đây là cách viết phân rõ được thứ tự theo giới nhưng không
xác nhận được thứ tự sinh khi nhập cả 2 giới.
[3] Khi các vị dâu có thêm chữ Lệnh thị
được hiểu là thông gia của Dòng họ Lê Hữu
thuộc gia đình dòng dõi danh giá (gia đình có chức sắc, giàu có...)
[4] Thời Lê Trung Hưng nhà Hậu Lê.
Cụ sống ở các đời Vua Lê Huyền Tông (1663-1671); Lê Gia Tông (1672 – 1675);
Lê Hy Tông (1676-1705) và Lê Dụ Tông (1705-1729).
[5] Tháng 7 âm lịch (theo Phật giáo) nặng về báo ơn sinh thành, là tiết
xá tội vong nhân, nhờ ơn đức Phật mà tất cả các vong linh bị đoạ trong chốn khổ
đau được tế bạt, siêu thoát. Ở Việt Nam tháng 7 với đạo hiếu: báo hiếu cho tổ
tiên, ông bà, cha mẹ. Phật giáo quan niệm phải yêu thương tất cả mọi loài, kể cả
những người không mồ không mả, chết không thờ tự hay còn gọi là cô hồn.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét