Sau Triết học, Kinh tế chính trị cũng là môn học cho
tất cả các ngành học trong trường. Riêng ngành Kinh tế nông nghiệp, môn Kinh tế
chính trị học 240 tiết chia 2 kì, nhiều hơn các ngành kĩ thuật tới 60 tiết.
Phần Kinh tế chính trị tư bản chủ nghĩa thầy Công dạy
(kì 1)
Tôi còn nhiều kí ức về thầy Công. Thầy Công quê miền
Trung, Quảng Nam hay Quảng Ngãi gì đó. Khi đó thầy khoảng trên 50 tuổi, có
dáng khắc khổ như người lính chuyển ngành. Người tầm thước vừa phải, da hơi
ngăm đen, môi thâm, mặt có nhiều vết hằn gian khó một thời. Giọng thầy nhỏ, kiểu
phát âm như bị nuốt mất từ ở cuối câu nên nghe rất khó. Hồi đó tôi phải mất mấy
tuần mới nghe kịp và nhiều người vẫn phải hỏi nhau khi không chép được. Ví dụ từ
“manh mún” thầy phát âm nghe như “mông mún” nên có khi lại bị hiểu
ra “mong muốn”(!) Thầy giảng bài rất ít khi cười, hàm răng nói không lộ trong
lúc phát âm nên nếu nghe theo kiểu nhìn miệng sẽ thấy “như người ngậm hột thị” rất
khó mà đoán biểu thị giọng nói qua cách mấp máy môi. Thầy ăn mặc kiểu “nửa đại
cán”, áo ngoài dạ nâu may kiểu Tôn Trung Sơn, thường có cái khăn len nâu và
đôi khi cái mũ cát-két da đen cũ trông “cả cây” nâu đen trên bục giảng,
nhất là những tiết đầu giờ sáng mùa đông rất thiếu nắng. Cảm giác như thấy lờ mờ
một mục sư đứng yên trên mục đang truyền đạo kiên nhẫn và tận tình. Một dạng khắc
khổ nhưng không giống kiểu khắc khổ của thầy Thủy dạy Triết: thầy Thủy thì nói
to, hào sảng hay cười chứ không có giọng trầm lặng như thầy Công.
Tuy vậy, tôi lại rất nhớ những nội dung mà thầy dạy.
Tất nhiên, cũng như mọi môn học khác, Kinh tế chính trị có chương đầu là Đối
tượng, phương pháp nghiên cứu của môn học. Đây là Kinh tế chính trị Mác –
Lênin nên tất nhiên là duy vật, là biện chứng, là khách quan… Sau đó là các
vấn đề cơ bản của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Tôi ghi ra ở đây vài tóm
tắt các vấn đề thầy dạy mà chắc nhiều người trong lớp sẽ vẫn còn nhớ:
Hàng hóa có 2 thuộc tính: giá
trị và giá trị sử dụng.
Có 2 loại lao động: lao động
cụ thể và lao động trừu tượng: Lao động trừu tượng là lao động xã hội kết
tinh trong hàng hóa nghĩa là hao phí lao động xã hội cần thiết.
Tiền tệ có 5 chức năng: thước
đo giá trị, phương tiện trao đổi, phương tiện lưu thông, phương tiện cất trữ và
tiền thế giới (vàng).
Các quy luật kinh tế cơ bản
của kinh tế thị trường là quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh
tranh…
Kinh tế chưa có tiền tệ: H-H;
Kinh tế hàng hóa có tiền tệ: H-T-H
Lý luận của Mác về giá trị
thặng dư: các chủ thể tham gia thị trường sẽ ứng tiền để tìm kiếm giá trị,
tức là T-H-T’ sao cho T’>T càng nhiều càng tốt. Chênh lệch T’>T liên quan
đến giá trị thặng dư. Công thức C+v+m với C là giá trị tư bản vật hóa, v là giá
trị lao động và m là giá trị thặng dư. Biểu hiện của m là lợi nhuận, lợi nhuận
bình quân, lợi nhuận thương nghiệp, lợi tức cho vay, địa tô (trong nông
nghiệp)
Phần tích lũy và tái sản xuất
TBCN, thầy giảng về tích lũy có được là do năng suất lao động, do tỷ suất
giá trị thặng dư, do chênh lệch tư bản sản xuất và tư bản tiêu dùng, do quy mô
tư bản ứng trước. Hậu quả của tích lũy TBCN dẫn đến tăng cấu tạo hữu cơ[1], tăng tích tụ tập trung tư
bản, chênh lệch giàu nghèo…
Các khâu của quá trình tái sản
xuất: sản xuất – lưu thông – phân phối – tiêu dùng.
Khủng hoảng kinh tế có tính chu
kỳ: khủng hoảng – tiêu điều – phục hồi – hưng thịnh – khủng hoảng…
Phần chương cuối thầy nói về
các dạng công ty độc quyền và tính chất độc quyền nhà nước.
Sở dĩ phần thầy Công tôi còn nhớ nhiều nội dung như trên
vì hồi đó thầy yêu cầu sinh viên làm 3 bài tiểu luận. Sau này tôi mới thấy rõ sự
tận tâm của người thầy qua cách cho sinh viên làm tiểu luận môn học. Các bài tiểu
luận của tôi đều được thầy có bút tích phê khen chê - nghĩa là thầy đã đọc rất
cẩn thận. Ta thử tính: 2 lớp có 120 sinh viên, mỗi sinh viên làm 3 bài, vị chi
thầy phải đọc 360 bài (chưa kể thầy dạy các ngành khác). Mà tiểu luận thì ít nhất
cũng 4-5 trang. Các bài tôi viết thường có tới 6-8 trang. Có một trong 3 bài của
tôi được thầy phê: “Tốt, chịu khó đọc tài liệu”. Nhờ thế tôi càng viết
dài hơn và nghiêm túc hơn.
Tôi còn nhớ hôm thi vấn đáp môn thầy Công là ngày
7-2-1977, trời khá rét. Các thầy ngồi trong khăn áo ấm đầy đủ, còn chúng tôi
thì rét run vì sợ hỏi thi, vì áo quần không đủ ấm. Thi vấn đáp nhưng chưa được trả
điểm ngay vì nghe nói thầy còn kết hợp với điểm tiểu luận. Chắc nhờ thế tôi được
4/5 điểm.
Phần Kinh tế chính trị xã hội chủ nghĩa thầy Cấn dạy
(kì 2)
Thầy Cấn quê Thanh Hóa, người nhỏ thấp, da trắng hơi
xanh xao. Thầy đeo kính trắng mắt tròn, gọng đen. Đầu kỳ 2 còn rét nên thấy thầy
mặc cả áo khoác dạ tây. Thầy cỡ gần 60 tuổi, sắp về hưu. Khi thầy cười, cái cười
khó tả, chỉ “hơ hơ” hai tiếng rồi thôi, không ra kiểu cười gì cả. Tôi không
biết tả nó ra làm sao nhưng tạm so sánh thế này: nếu tả kiểu cười “sằng sặc”
là cười tự nhiên không khống chế được cảm xúc gây cười, mang tính “ngặt nghẽo”
sung sướng của người cười thì cười “hơ hơ” của thầy có lẽ trái ngược với “sằng
sặc”. Cười chỉ cất lên 2 từ “hơ hơ” như một kiểu cười bôi bác, chủ động điều
khiển âm lượng và độ dài của cảm xúc, mang tính chế nhạo, coi thường, khinh bạc…
nhiều lắm. Cho đến nay tôi vẫn không ngừng nghĩ đến cái cười “hơ hơ” đầy
tinh quái của thầy.
Thầy có hàm răng trắng, dáng vẻ nhỏ thó, mặt sáng và
sang trọng. Nghe nói thầy từng là công chức tỉnh Thanh Hóa trước khi là giảng
viên đại học. Giọng thầy nói rất to, khỏe,
rất vang và không ngại từ địa phương Thanh Hóa. Chẳng hạn thầy nói loại đó “mê
ra”, các anh chị trong lớp không hiểu là gì – “mê ra” tiếng địa phương
Thanh Hóa nghĩa là loại đó thì có đầy ra, nhiều lắm. Có thể nói thầy dạy
rất hay, không có cảm giác buồn chán, lại còn được cười nhiều khi thầy kể
chuyện ngoài lề. Nhưng… điều đặc biệt là tôi lại nhớ rất ít về các nội dung thầy
giảng. May mắn thay chăng (nếu nhớ chắc còn khổ biết bao)?
Tôi chỉ còn láng máng thầy dạy về năng suất lao động
của chủ nghĩa xã hội sẽ cao hơn chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản sẽ bị thay
thế vì quy luật cơ bản của chủ nghĩa xã hội là năng suất lao động ngày càng
cao (nhờ công hữu về tư liệu sản xuất!). Cũng lơ mơ láng máng về giai đoạn
chủ nghĩa đế quốc là tư bản “giãy chết” nghĩa là giai đoạn cuối cùng của
chủ nghĩa tư bản, là “đêm hôm trước” của chủ nghĩa xã hội. Nhưng thực ra
trong giọng của “ông già” gần 60 này có cái gì đó mang ý khiên cưỡng, không
tin cậy, không thuyết phục khi giảng về kinh tế chính trị xã hội chủ nghĩa.
Chắc “ông già” đã có nhiều kinh nghiệm nên cố diễn đạt cho chúng tôi thấy những
thứ thầy nói “còn lâu mới có thật”, chúng là điều “không thể có” ở
Việt Nam. Các bạn có nghe thì rất nên “nghi hoặc” trước tình cảnh hiện
hành… Đối với tôi, ngay từ khi đó tôi đã nghĩ “ông thầy này đang phù phép”
một cách kín đáo để chúng tôi tự biết cái lý thuyết “đêm hôm trước” hay
“giãy chết” gì đó là không chắc lắm(?)
Tuy bài giảng thì nhớ ít nhưng tôi lại rất nhớ nhiều
câu chuyện thầy Cấn kể. Thầy nói vừa qua thầy được chuyến đi thăm phía Nam, đến
Đại học Thủ Đức và thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu trong một chuyến “tập huấn”
gì đó. Vài ghi chép của tôi dưới đây qua những buổi thầy nói rất say sưa.
Thầy nói về
Vũ Quốc Thúc[2]
tham gia chính quyền Sài Gòn và sách của Vũ Quốc Thúc được thầy xin một bộ về tặng
Thư viện trường ĐHNNI. Nhờ có thầy mà tôi đã được đọc quyển này của Vũ Quốc
Thúc[3].
Sách khổ A4, bìa
xanh cũ, rất dày, in roneo khó đọc trên giấy nâu (không rõ NXB nào). Sách nêu
mô tả khái quát quy mô kinh tế của miền Nam thời chiến và những triển vọng phát
triển sau chiến tranh. Tất nhiên là tò mò đọc cho biết chứ không học hỏi được
gì, nhờ đó biết rõ thêm về tác giả và những tiểu sử của tác giả.
Khi nói chuyện thăm thư viện Đại học Thủ Đức, thầy có
liên hệ Thư viện trường ĐHNNI. Thầy nói trường ta có thư viện lớn, có tới 50
vạn đầu sách. Cho đến nay tôi vẫn nghĩ là thầy nhầm hay chuyện đó của ngày
xưa nào đó chăng? Chỉ một kho bé tẹo ở tầng 4 nhà Hành chính lấy đâu ra nơi chứa
50 vạn đầu sách (chắc là 5 vạn đầu sách cũng đã khiếp rồi). Hồi năm thứ 2, nhờ
thầy Công yêu cầu làm tiểu luận nên tôi đã thường xuyên lên thư viện nên tôi
khá rành chuyện mượn sách ở đây.
Thầy kể rằng ở Đại học Thủ Đức có những con bò giống
rất quý hiếm trên thế giới. Thế nhưng quân giải phóng tiến vào đã nổ súng “cải
thiện” mất rồi. Chuyện ở miền Nam đã rất hiện đại thời Mỹ tham chiến: Một
hóa đơn xuất kho ở Sài Gòn, 1 giờ sau đã có hóa đơn in ra ở Tây Nguyên (chắc
máy fax[4] đã có từ hồi đó). Rồi chuyện
tư sản mại bản sản xuất bom, dây thép gai cung cấp cho quân đội đánh nhau với
ta thì dứt khoát phải tiêu diệt vì có tội với nhân dân, nhưng người dân làm
kinh tế tư nhân có nên coi là có tội không, có nên quy là tư bản không?
Còn hai chuyện vui của thầy tôi còn nhớ:
Một lần có mấy anh nói thầy ăn mặc ra vẻ sang trọng.
Thầy bảo: Tớ thì “trên Tây thải – dưới Tàu cho”, có gì là sang với trọng!
Ý nói áo và giày đều do con cái hay ai đó biếu tặng hoặc dùng lại của ai đó.
Một lần thầy dạy công thức Mác: một cái rìu =
20kg thóc để nói sự trao đổi ngang giá trong kinh tế thị trường. Thầy cười “hơ
hơ”, tại sao Mác lại dùng ví dụ cái rìu, hay ngày đó chợ toàn bán rìu búa. Ở
ta cũng có từ “chợ búa”[5] phải chăng chợ thường bán
búa?
Nói chung cái hay của thầy Cấn là dạy mật
ngữ dành cho chúng tôi. Cho đến nay, phần kinh tế chính trị xã hội chủ
nghĩa hồi đó đều không có thể vận dụng cho nền kinh tế nước ta hiện nay. Hôm
nay cả nước đang khẳng định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của
đất nước. Thầy là người dám “chê” rất khéo chế độ ngay từ khi chúng tôi học.
Một người thầy dám “chê” nền kinh tế XHCN là nền kinh tế “xếp hàng cả ngày”
hồi đó hiếm lắm, cực hiếm!
Môn của thầy thi ngày là 22-7-1977, cũng thi vấn đáp
và tôi cũng đạt điểm 4/5.
Những kiến thức từ môn học Kinh tế chính trị liên
quan đến nghề nghiệp
Chuyện chức năng của tiền
Sau này tôi có giảng môn Tài chính – Tiền tệ cho
sinh viên các ngành Kinh tế, Kế toán và Quản trị kinh doanh nên có điều kiện tiếp
tục được mở rộng và sâu thêm các chức năng của tiền tệ. Tài liệu chúng tôi sử dụng
là một tác phẩm rất hiện đại và nổi tiếng là Kinh tế học về tiền tệ, ngân
hàng và thị trường tài chính của Ferideric S. Mishkin[6].
Mishkin cho rằng tiền tệ có 3 chức năng gồm phương
tiện trao đổi (medium of exchange), đơn vị tính toán hay thước đo giá trị
(unit of account) và dự trữ giá trị (store of value). Về tên gọi thì
3 chức năng này cơ bản cũng giống Mác, nhưng thiếu đi 2 chức năng là phương
tiện thanh toán và tiền thế giới. Vì những vấn đề thời đại nên Mishkin đã lờ
đi 2 chức năng của Mác. Cái khác là Mishkin trình bày 3 chức năng này là cách
nhìn thực tiễn chứ không đi sâu vào khái quát như Mác. Chẳng hạn ở chức năng
thước đo giá trị, Mác nói về lao động trừu tượng hay lao động xã hội cần
thiết tạo ra giá trị hàng hóa, còn Mishkin thì nhấn mạnh tính tiện ích của tiền
trong đo lường. Ví dụ của ông đi từ những cái rất cụ thể: giả sử có 4 hàng hóa A,
B, C, D đem ra trao đổi. Nếu không có tiền (trong kinh tế H-H) thì sẽ có tới 6
giá so với nhau: A-B, A-C, A-D, B-C, B-D, C-D. Nhưng nếu có tiền (trong H-T-H) thì
chỉ còn 4 giá vì cả A, B, C, D đều đo được bằng tiền.
Công thức hóa chuyện đó thành [n*(n-1)]/2 (chẳng
hạn nếu 4 hàng hóa thì n=4, 4(4-1)/2 = 6). Theo công thức đó, giả sử một cửa
hàng có 10 loại mặt hàng thì người bán hàng phải nhớ 45 giá, nếu có 100 mặt hàng
thì người bán hàng phải nhớ tới 4950 giá! Nền kinh tế có 1000 mặt hàng thì có tới
44950[7] giá. Thật quá phiền khi nền
kinh tế có cả triệu, cả tỉ mặt hàng. Trong H-T-H thì có bao nhiêu mặt hàng sẽ có
bấy nhiêu giá, tiện lợi biết bao.
Ở chức năng này, Mác tập trung nhấn mạnh khía cạnh nhờ
tiền mà hàng hóa được đo bằng giá trị lao động xã hội kết tinh. Hồi chúng tôi đi
học, tôi nghĩ rằng khi đó không ai hiểu (kể cả thầy dạy) vì “hiểu được là chết
liền”! Thầy Công dạy lao động trừu tượng là sự tiêu hao sức lực chung của
con người (cơ bắp, thần kinh), là yếu tố tạo ra giá trị hàng hóa. Lao động
trừu tượng khác lao động cụ thể. Lao động cụ thể là lao động có hình thức xác định,
tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa.
Khía cạnh Mác đề cập là giá trị hàng hóa là giá
trị lao động xã hội kết tinh. Chuyện này đặt ra vấn đề: làm sao tính lao
động xã hội kết tinh? Ví dụ người công nhân sản xuất ra cái búa thì lao động
xã hội kết tinh (cơ bắp và thần kinh) ở đấy là bao nhiêu để định giá cho nó. Đó
là chưa kể thợ vụng so với thợ khéo. Mác rất tinh quái đã không đưa
ra cách đo giá trị lao động xã hội kết tinh trong hàng hóa. Nhưng kinh tế thị
trường thì đã có cách rất hay: đem cái búa đó ra chợ (cung) người mua (cầu) sẽ
mặc cả. Giả sử cái búa được người mua và người bán chốt giá 100đ, tức là cung và
cầu đã gặp nhau – cái búa bán được – thế là đo ngay được giá trị lao động xã
hội kết tinh trong cái búa là 100đ. Haha, kinh tế thị trường đã rất tài tính
tìm ra giá trị cái búa bằng mặc cả chứ không cần suy nghĩ lao động xã hội kết
tinh đó là bao nhiêu, không liên quan đến thợ vụng hay thợ khéo… Tuyệt quá cái
kinh tế thị trường!
Đó là chưa có điều kiện bàn sâu về giá trị sử dụng
tạo ra từ lao động cụ thể. Người sản xuất nghĩ ra hàng hóa được sử dụng để
làm gì, khi sử dụng mới là giá trị thực tế của người dùng. Nhưng ôi thôi, đâu
phải cái người sản xuất nghĩ ra đã giúp người mua làm được hết tiện ích của cái
giá trị sử dung đó. Cái búa để đập đá nhưng người sử dụng còn có thể dùng búa để
đập đầu người (đánh nhau). Ngày nay cái điện thoại di động thông minh ngày nay có
cả trăm ứng dụng mà các cụ U70 chỉ dùng để nghe và gọi. Cái giá trị sử dụng
thì người bán nghĩ ra, còn người mua thì nghĩ khác lắm, khác lắm thay!
Chuyện công thức C+v+m
Đa số cho là công thức không chính xác
và quá đơn giản hóa, vì nó không giải thích đầy đủ nguồn gốc của giá trị thặng
dư và bỏ qua vai trò của lao động sống trong quá trình tạo ra giá trị. Các điểm
chính phê phán công thức là không thể phân tích quá trình sản xuất: C+v+m chỉ cung cấp một phép đo về
đầu ra của quá trình sản xuất, nhưng không giải thích cách thức giá trị được tạo
ra. Ví dụ, nó chỉ nói rằng sản phẩm cuối cùng có giá trị bằng tổng giá trị của
các yếu tố đầu vào, nhưng không giải thích được nguồn gốc của giá trị thặng dư
(m).
Công thức này cho rằng giá
trị thặng dư (m) được tạo ra bởi lao động sống (v) và máy móc (C). Tuy nhiên,
nó bỏ qua vai trò quan trọng của lao động sống trong việc chuyển đổi giá trị các
yếu tố đầu vào thành giá trị mới. Ngoài ra công thức này không giải thích được
sự phân hóa của giá trị thặng dư thành lợi nhuận, tiền thuê và lãi suất.
Hai người thầy dạy Kinh tế chính trị: Một người thầy
dạy cho tôi nhớ nhiều về chuyên môn và sau này nghề nghiệp cũng dùng đến nhiều
lần, còn một người thầy dạy tôi biết ngầm phản biện thực tiễn cuộc sống.
Cho đến nay tôi thầm cám ơn 2 người thầy đã giúp tôi trong công việc và cuộc sống!
[1]
Tức C/v ngày càng lớn (hay dùng máy móc là chính),
công lao động ngày càng ít đi trong chi phí sản xuất nên lao động thất nghiệp nhiều.
[2] Vũ Quốc Thúc (1920 – 2021) là giáo
sư, nhà kinh tế học và chính khách Việt Nam Cộng hòa. Ông là người góp phần
quan trọng trong việc đào tạo môn kinh tế học tại trường Đại học Luật khoa và
Trường Hành chính Quốc gia Việt Nam Cộng hòa. Ông từng giữ chức Thống đốc
Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (1955–1956).
[3] Vũ Quốc Thúc là
đồng tác giả cuốn "Kế hoạch
Lilienthal – Vũ Quốc Thúc" - Kế hoạch phát triển kinh tế miền Nam Việt Nam
10 năm sau chiến tranh của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa.
[4] Ngay từ 1964,
hãng Xerox đã bán máy fax thương mại có thể kết nối với đường dây điện
thoại.
[5] Từ
"búa" trong cụm từ "chợ búa" có nguồn gốc Hán-Việt có nguồn
từ chữ "phố"
(鋪) có nghĩa là cửa hàng, nơi buôn
bán. Xem thêm ở https://cophong.vn/cat-nghia-tu-cho-bua/
[6] F.S. Mishkin, giáo
sư nổi tiếng viết cuốn The Economics of
Money, Banking, and Financial Markets
[7] Nguyên văn ví dụ của Mishkin: If the economy has only
three goods, say, peaches, economics lectures, and movies, then we need to know
only three prices to tell us how to exchange one for another: the price of
peaches in terms of economics lectures (that is, how many economics lectures
you have to pay for a peach), the price of peaches in terms of movies, and the
price of economics lectures in terms of movies. If there were ten goods, we
would need to know 45 prices in order to exchange one good for another; with
100 goods, we would need 4950 prices; and with 1000 goods, 499 500 prices.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét