Chủ Nhật, tháng 11 09, 2025

Năm thứ 2 – Ký ức môn học Địa lý kinh tế và vài suy ngẫm về nghề thầy

                                                              Nhân tháng 11, xin có vài lạm bàn về nghề thầy

 

Môn học thỉnh giảng – Địa lý kinh tế

Vào kỳ 2 năm thứ 2, chúng tôi háo hức đón nhận môn học có tính chuyên ngành đầu tiên – môn Địa lý kinh tế.

Hồi học phổ thông, Địa lý là môn học về các vùng đất, địa hình, dân cư và các hiện tượng trên trái đất, gồm Địa lý tự nhiên  Địa lý kinh tế - xã hội. Địa lý tự nhiên tập trung vào các hệ thống tự nhiên (khí quyển, thủy quyển, thạch quyển, địa quyển…), còn Địa lý kinh tế - xã hội nghiên cứu về dân cư, kinh tế và xã hội ở một quốc gia hoặc khu vực cụ thể. Học hết phổ thông nghĩa là người học đã được đi khắp thế giới qua môn Địa lý – nhưng không hiểu sao chẳng ai nhớ được mấy. Nay được học Địa lý kinh tế như kiến thức chuyên môn cho ngành Kinh tế nông nghiệp nên háo hức là tất nhiên rồi!

Địa lý kinh tế vừa thuộc kinh tế học ứng dụng vừa thuộc địa lý nhân văn, chuyên nghiên cứu về địa điểm, phân bố và tổ chức không gian của các hoạt động kinh tế. Phương pháp nghiên cứu kết hợp cả của kinh tế học lẫn địa lý học nhân văn. Đại loại chủ yếu là kinh tế các nguồn lực tự nhiên và sự bố trí sử dụng nguồn lực đó của con người. Tất nhiên chúng phụ thuộc vào trình độ “con người” từng quốc gia gắn với không gian sống của họ và càng tất nhiên hơn là gắn với điều kiện khai thác tự nhiên qua ứng dụng công nghệ của con người.

Thực ra tôi không nhớ gì nhiều về nội dung của môn học này, nhưng tôi lại có ký ức rất rõ về người dạy.

Hồi đó, môn Địa lý kinh tế được thiết kế cho ngành Kinh tế nông nghiệp nhưng Khoa Kinh tế nông nghiệp của ĐHNNI chưa có giáo viên dạy. Các khóa trước đều là giáo viên thỉnh giảng từ trường Đại học Kinh tế - Kế hoạch[1]. Từ năm 1976, Khoa Kinh tế nông nghiệp tuyển được giáo viên dạy môn này – đó là cô Nguyễn Thị Vang, tốt nghiệp ngành địa lý trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Năm chúng tôi học, cô Vang mới về nên chỉ đi dự giảng cùng lớp chúng tôi để học hỏi kinh nghiệm[2]. Chúng tôi được học với một giảng viên thỉnh giảng đến từ Đại học Kinh tế - Kế hoạch, nhưng không ai giới thiệu tên của thầy. Môn học có 60 tiết, mỗi tuần 3 tiết[3], xe đưa đón thầy thường đến muộn nên thời khóa biểu xếp 3 tiết cuối buổi sáng.

Thầy dạy là một nam trung niên, khoảng 50 tuổi, cao chừng 1,65m. Thầy mặc áo quần khá nghiêm chỉnh, thời đó có thể được coi là sang trọng. Đầu kỳ 2, sau Tết trời còn lạnh, thầy mặc áo khoác dạ dài bên ngoài, trong là comple hẳn hoi (không cà vạt) – nghe nói thầy đã từng đi nước ngoài. Khi dạy, thầy rất ít đi lại, viết bảng chỉ là ghi đề mục, còn lại là đọc – chép kiểu dạy phổ thông. Sinh viên KT20A-B thì chăm chú nghe thầy giảng nhưng thực ra là ra sức chép bài. Kiểu đọc của thầy khá rõ, nhưng hơi nhanh, phải tập trung chép mới kịp. Riêng tôi có cách “tốc ký” nên thường thầy vừa đọc xong thì tôi cũng đã “ký hiệu” xong, vì thế tôi có nhiều thời gian quan sát thầy.

Sự ngưỡng mộ ban đầu là kỳ vọng được học từ một người thầy có nhiều kiến thức từng được học ở nước ngoài, kỳ vọng được thấy một phong cách dạy từ trường khác nên có nhiều hứng thú lắm. Nhưng chỉ sau vài tuần là tôi thấy chẳng có nhiều thứ để kỳ vọng từ phong cách ông thầy này. Cứng nhắc đứng một chỗ, không giao lưu với sinh viên, không nhìn xuống lớp, chỉ chăm chăm đọc giáo án. Có một thứ đặc biệt từ ông thầy này: ông luôn luôn dùng từ “đương nhiên”, câu nào dường như cũng có từ “đương nhiên” nên hồi đó Tổ 1 chúng tôi gọi thầy là “ông đương nhiên”. Đương nhiên[4] là cái tất nhiên - chẳng lẽ thầy chỉ giảng những điều mà kết quả được quy ghép tất nhiên, không cần có những thảo luận hay khả nghi gì nữa. Mà câu nào cũng “đương nhiên” không cần bàn cãi thì bài học có gì là lý thú chứ!

Sau này tôi cũng có nhiều dịp được nghe giảng hoặc làm việc với nhiều giảng viên từ Đại học KTQD tôi mới biết nền tảng học thuật là một lẽ, quan trọng là cách truyền cảm hứng thì giảng viên KTQD cũng không phải là cao siêu gì lắm. Nghệ thuật sư phạm trước hết phải là khẳng định nền tảng học thuật (cái này dễ vì người học không thể theo được trình độ người dạy), nhưng việc quyết định là người dạy phải biết gợi cảm hứng để người học háo hức xông xáo tìm kiếm kiến thức làm lợi cho mình chứ không phải là cứ thiếu trách nhiệm đưa kiến thức ra là xong. Chúng tôi đi học hồi đó là “thẩm” cái kiến thức để sau lấy chỗ dựa kiếm cơm kiếm sống. Thú thật,“ông đương nhiên” này tôi nhận thấy chẳng có gì đáng học hỏi. Kiểm tra lại ký ức của bạn bè hồi ấy, tôi cũng thấy chẳng ai còn nhớ được gì hơn kiểu ông thầy khô khan truyền dạy“đương nhiên” khá vô hồn.

Môn này thi ngày 15-7-1977 theo kiểu thi viết và tôi được 4 điểm – tôi hết mọi kỳ vọng về giảng viên thỉnh giảng!

 

Một vài suy ngẫm về chuyện nghề thầy

Sau này, như một tình cờ hơn là chủ ý, tôi may mắn có 35 năm làm nghề thầy. Tôi cảm nhận nghề thầy[5] là cao quý, cả đời được nói những lời sang trọng trước những khuôn mặt háo hức sự trân trọng.

Vài điểm cũ – mới về nghề thầy

Trước đây ở nước ta, nghề thầy được tôn vinh kiểu "ông đồ" truyền thụ kiến thức chữ Nho và đạo lý Nho giáo. Quan hệ thầy-trò mang tính "trao - nhận", thầy vừa là người truyền kiến thức, vừa là người định hướng đạo đức, trò có bổn phận tôn kính, vâng lời. Thầy là chuẩn mực về tri thức, đạo đức, nhân cách, có vai trò định hướng lối sống cho học trò. Thầy đại diện quyền uy, có thể dùng roi vọt để răn dạy, trò có phận sự tôn kính, phục tùng. Nền giáo dục ấy có rất nhiều hạn chế: a/ "truyền thụ một chiều", tiếp nhận kiến thức thụ động; b/ tin tưởng tuyệt đối vào thầy: thầy dạy dỗ, không chỉ về chữ nghĩa mà còn về đạo đức và lối sống, "nhất nhất theo thầy"; c/ Thầy đóng vai trò như người cha thứ hai, luôn quan tâm, chăm sóc, nhưng cũng nghiêm khắc răn đe, trách phạt.

Điều dễ nhận ra nhất là không phải người thầy nào cũng đầy đủ đạo đức, đủ nhân cách để đại diện quyền uy và chuẩn mực! 

Ngày nay, nghề thầy đã có nhiều thay đổi a/ Thầy chuyển từ người “truyền thụ” kiến thức sang người định hướng, khơi gợi, đồng hành và truyền cảm hứng; b/ Thầy và trò cùng "đồng cảm, thấu hiểu"; c/ Người thầy nêu gương sáng tạo (chứ không hẳn coi mình là có đủ đạo đức và nhân cách để dạy người). Tấm gương sáng tạo và ứng xử cảm xúc có ảnh hưởng tích cực đến nhân cách học trò. 

Truyền thống đạo lý tôn sư trọng đạo

“Tôn sư trọng đạo” trở thành đạo lý “Lương Sư Hưng Quốc” – một xã hội muốn hưng thịnh, muốn phát triển thì phải coi trọng người thầy, coi trọng sự học. Thầy có “đạo làm thầy”, trò có “đạo làm trò”, mỗi người đều có bổn phận để làm tròn vai vị trí của mình. Giáo dục xưa nhấn mạnh lời nói, cử chỉ, hành động của thầy đều thể hiện tính “mô phạm” nên tạo ra người thầy “dĩ thân vì giáo”, “dĩ ngôn vi giáo”[6].

Nay “tôn sư trọng đạo” được hiểu theo hướng “dân chủ” hơn: người thầy ít bị ràng buộc vào những quan điểm “mô phạm” cứng nhắc. Trong môi trường giáo dục và trong cuộc sống, người thầy được tôn trọng qua tấm gương lao động sáng tạo và hiệu quả của lối sống hài hòa thân thiện với môi trường tự nhiên và con người.

Tuy nhiên, nghề thầy cả xưa và nay đều phải đi tới “Hối nhân bất quyện”[7] trong làm nghề - nghĩa là dành cho nghề với tất cả sức lực của mình.

 

Đôi chuyện về nghề thầy – tôi làm giảng viên thỉnh giảng

Thỉnh giảng[8] – một thuật ngữ trân trọng để nói nghề thầy. Thỉnh mời giảng – nghe sang trọng quá. Trong đời nghề nghiệp, tôi cũng từng là giảng viên thỉnh giảng của nhiều trường đại học, nhiều cơ sở giáo dục với nhiều “cấp độ” làm thầy.

Ở bậc nghiên cứu sinh tiến sĩ và cao học, người học rất thích người thỉnh giảng ở cái mới, cái khác biệt so với giảng viên của trường đại học họ đang học. Nhờ thế, muốn thành công nhất thiết phải bằng học thuật sâu sắc, công nghệ giảng dạy hiện đại và cập nhật thông tin “nóng hổi” vào bài giảng để tạo ra được vấn đề tham khảo và tranh luận… Từ đó người học rất dễ tương tác với người dạy bằng những gợi ý nghề nghiệp cho người học.

Ở bậc đại học, sinh viên rất háo hức “món thầy mới” – tôi cảm nhận được sinh viên coi thầy đến từ trường khác như là “món mới” trong ánh mắt các em. Sinh viên chỉ tìm ở thầy thỉnh giảng cái khác lạ của “món mới”. Đạt được thành công ở cấp độ này không hẳn vì học thuật vì kiến thức đại học không phải là quá cao đối với người dạy. Người thầy thỉnh giảng cần một giới thiệu độc đáo cho bài nhập môn, cần một giao tiếp tinh tế vừa phải nhưng nhất thiết phải thấu hiểu đặc thù vùng – miền. Lại rất cần những giao lưu nhớ đời, nhưng được nhìn từ trải nghiệm phong phú của người thầy. Chẳng hạn, tôi từng mời cả lớp khi dạy ở Đại học Huế đi ăn chè bụi bên sông Hương để nói về văn hóa chè của người Việt trong nghi lễ cúng, nhất là cúng chè trong dịp Tết ông Táo 23 tháng Chạp. Ở Đại học Tây Nguyên, tôi mời sinh viên uống cà phê (không đủ cả lớp mà vài nhóm) để kể về cà phê mùa đông Hà Nội. Ở Sài Gòn náo nhiệt, tôi ngồi cà phê với các em và nói về “lặng lẽ Sapa”… Đại loại thế, người thầy thỉnh giảng chỉ là một chốc một lát, không có điều kiện theo dõi sinh viên cả quá trình học tập nên mỗi giờ giảng cần để lại những dấu ấn tích cực cho họ. Dấu ấn đó phải mang ý thức thương hiệu cá nhân và đại diện cho thương hiệu cơ sở đào tạo của thầy thỉnh giảng.

Thỉnh giảng ở những cấp độ bậc thấp hơn như trung cấp, sơ cấp hoặc thậm chí thỉnh giảng ngắn ngày (training) khi dạy người lao động trực tiếp. Thông thường ở các bậc này, người học coi thầy là “cao siêu học thuật” nên không háo hức đón nhận mà thận trọng, cầm chừng không tự tin dám nhận hiểu biết. Người thầy thỉnh giảng phải biết chạm đến giá trị “chuyên gia” trong công việc của họ - lập tức họ sẽ xao động tâm hồn. Ai cũng tranh thủ khoe sự sáng tạo, sự tinh vi từ công việc hàng ngày. Nếu dạy nông dân, khi thầy thỉnh giảng chạm vào cuộc sống người lao động làm ra những sản phẩm mang từ đồng ruộng đến bàn ăn thì sẽ biết được bao điều mới lạ. Người đi giảng mà lại thu được rất nhiều kiến thức từ người học như một sự đổi ngôi thú vị, từ đó trò có thể hiểu ngay bài giảng của thầy, còn thầy thì “kiếm chác” được rất nhiều kinh nghiệm từ những người lao động giản dị cần cù.

 

*

* *

 

Rồi qua năm qua tháng, rất nhiều người học còn giao lưu tương tác với thầy trên những kênh giao tiếp xã hội và cuộc sống – Giao tiếp về học thuật có một phần, cảm hứng và những trao đổi khác biệt nghề nghiệp có một phần, đôi khi cả những câu chuyện rất riêng, rất riêng… để rồi nhiều lần tôi được nghe có em gọi điện từ Tam Đảo, Sapa nhắc lại câu chuyện hồi nghe thầy giảng. Từ khía cạnh cuộc sống, chuyện hỏi thầy có còn nhớ bên sông Hương món quà nhỏ chè Huế hay từ Tây Nguyên gọi hỏi thầy có còn nhớ chuyện cà phê đêm cao nguyên… Đó là những niềm vui bất tận từ nghề thầy qua thỉnh giảng. Đôi khi tự hỏi ta có lạm dụng nào quá đáng chăng trong cương vị người thầy thỉnh giảng!

 



[1] Nay là Đại học Kinh tế Quốc dân (KTQD)

[2] Từ KT21, cô Vang trực tiếp dạy môn Địa lý kinh tế cho đến khi cô về hưu, năm 2010.

[3] Mỗi kỳ thường có 20 tuần học

[4] "Đương nhiên" là một trạng từ dùng để diễn tả một điều gì đó hiển nhiên, rõ ràng và không cần bàn cãi. Có thể sử dụng từ này để nhấn mạnh tính tất yếu, hợp lý của một sự việc. 

[5] “Thầy” – một danh từ giống trung nói về người dạy học. Xưa không có giới nữ đi làm nghề dạy nên nói “nghề thầy” cũng đại diện cho cả người dạy là giới nữ ngày nay.

[6] “Dĩ ngôn vi giáo” là dùng lời nói để dạy người. “Dĩ thân vi giáo” là lấy chính thân mình, lấy chính nhân cách, đạo đức, lối sống của mình, làm một tấm gương để dạy. Nghe nói 8 chữ này là của Khổng Tử - vị thầy được mang danh “vạn thế sư biểu”. Xem thêm tại https://nongnghiepmoitruong.vn/tam-chu-cho-cac-nha-giao-d134852.html

[7] “Học nhi bất yếm, hối nhân bất quyện” là một trong những tư tưởng nổi bật của Khổng Tử thời Xuân Thu, Trung Quốc. Học nhi bất yếm (学而不): Học mà không biết chán. Hối nhân bất quyện (诲人不倦): Dạy người mà không mỏi mệt.

[8] Giảng viên thỉnh giảng là giảng viên được mời giảng từ nơi khác đến. “Thỉnh” – mời trang trọng mang nghĩa cầu xin, khẩn cầu (tiếng Anh visiting lecturer).

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét