Thứ Hai, tháng 10 13, 2025

Năm học thứ 2 đại học – vài ký ức chung

  

Hết năm thứ nhất đại học mà chưa thấy cái “học thuật đại học” từ phía người học là gì, vẫn như kiểu học “phổ thông cấp IV”. Phòng nghe giảng bài thì gọi là giảng đường, chỉ khác với cấp III là ai muốn ngồi đâu thì ngồi chứ không bị phân công theo giáo viên chủ nhiệm. Ở KTX thì tất nhiên có giường tầng, ăn cơm bếp tập thể và tối chủ nhật hàng tuần có điểm danh tập trung từ 7.00-7.30pm (đôi khi có giáo viên chủ nhiệm).

Bối cảnh năm thứ nhất là khi đất nước vừa hòa bình thống nhất, đời sống kinh tế từ góc nhìn sinh viên năm 1975 là tạm ổn (thấy qua bữa ăn tập thể, điện, nước ở KTX) nhưng qua 1976 thấy khó khăn dần. Các buổi tối những năm 1976 – 1980 thường xuyên mất điện và nước. Có điện khoảng 9.30pm, loa trong KTX phát buổi thời sự tối, các phòng ầm ấm xô chậu tranh nhau đi lấy nước. Điện sáng bừng một lúc thì mờ yếu dần vì hàng mấy trăm cái may-xo đồng loạt đun trộm nước uống. Ai cũng có cái đèn dầu bé tẹo để đi học tối, nhất là kỳ ôn thi.

Sau năm thứ nhất, ai cũng đã biết chút kinh nghiệm về học và thi, nhất là thi vấn đáp. Còn nhớ hồi trước khi thi, Khoa có tổ chức cho KT20 một buổi nghe báo cáo kinh nghiệm học tập của khóa trước. Mấy anh chị KT19 đến “báo cáo” nhưng tôi chẳng học được kinh nghiệm gì. Sinh viên đại học năm thứ hai 2 khi đó (hơn chúng tôi một năm) mà đến cũng chỉ là nhìn vào tờ giấy rồi đọc chừng 5p, không dám ngẩng mặt lên nhìn xuống người nghe. Tôi còn nhớ KT19 có 2 “diễn giả[1] là Kim Thị Dung và Vũ Thị Phương Thụy đến đọc kinh nghiệm, mắt len lét không dám nhìn thẳng, chẳng ra cái kinh nghiệm gì có thể học được. Tôi nghĩ phải tự mình làm thì mới có được kinh nghiệm cho chính mình!

Sau khi thi xong năm 1, tôi thấy có vấn đề khá rõ trong lớp là những môn học năm đầu được nhiều người cho là không có tác dụng lắm cho nghề nghiệp sau này. Đa số cảm thấy kém tinh thần phấn đấu, học kiểu cầm chừng để sao cho khỏi thi lại, nhất là những môn được cho là “vô bổ” mà lại quá khó nữa.

Có điều rất quan trọng là hết năm thứ nhất tôi không thấy có ai trong “những thằng trẻ tuổi” Tổ 1 của tôi biết cái trò yêu đương. Tất nhiên thời đó thì khó rồi: tối không được vào KTX nữ, nghe nói những cặp đôi đi dạo quanh trường mà bị thanh niên cờ đỏ bắt được là gay lắm. Cái tuổi trẻ đầy năng lượng thế mà lại bị cái cấm bâng quơ bất thành văn nào đó để không dám đòi hỏi yêu thương – vô lý quá! Hay tại thiếu năng lượng do ăn uống không đủ chất mà kìm hãm được bản năng sinh lý - như kiểu các nhà sư học đạo ăn chay để không đòi hỏi sinh lí?

Nghỉ hè lên, vào học năm thứ 2 không thấy khí háo hức gì mấy. Tuy nhiên ai cũng như có cái mới hơn chút vì ít ra cũng đã được dùng phiếu vải 5m để mua được 1 bộ đồ mới: vải nilon hoặc simili bền hơn mấy cái quần vải bông. Vài anh có lương (hay phụ cấp) đã đóng được đôi giày đen đi cộp cộp oai lắm. Áo quân phục bớt dần trong các buổi học trên giảng đường, nhất là các chị em trong lớp.

Khu KTX nam chuyển từ tầng 1 nhà A2 lên tầng 2 nhà A1. Tổ 1 của tôi ở phòng 15 tầng 2 ngay cạnh cầu thang, bên trên là lưu học sinh nam Lào. KTX A1 có vẻ tốt hơn chút so với A2, nhưng thiếu nước nghiêm trọng quá, cái vòi bé tẹo ở bể nước trước nhà A1 chỉ có nước mấy giờ trong ngày mà nhà A1 (trừ 4 phòng sinh viên Lào) còn 44 phòng, mỗi phòng 14 người thì tức là có hơn 600 người tranh nhau. Cần vài ca nước đánh răng buổi sáng cũng khó, còn tắm thì vẫn phải chờ đêm muộn để đến cái nhà tắm tập thể to đùng phía sau KTX B1 nữ.

À, còn chuyện này: giữa kỳ 1, Ban cán sự (hay Ban Chủ nhiệm Khoa) có chủ trương thay đổi thành viên các tổ học tập để mọi người giúp đỡ nhau tốt hơn. Tổ tôi có anh Ngọc được chuyển sang tổ 2, Cao Ngọc Đức[2] được chuyển sang Tổ 3 và được chuyển về 2 người mới là anh Phùng Đức Thoại (từ Tổ 2) và anh Lê Xuân Trí (từ Tổ 2), còn anh Kông Phương Kình về Tổ 1 từ hồi anh Hợp không còn tiêu chuẩn giữ giường ở KTX nữa vì anh đã ngoại trú hẳn rồi. Anh Lê Xuân Trí khi đó mới có cháu trai, cháu lại có căn bệnh gì đó bẩm sinh nên anh rất hay nói chuyện về bài thuốc có hạt vải khô có thể chữa được và anh rất công phu đi tìm phương thuốc này. Cả 2 anh mới đến đều có nhiều quần áo đẹp, nhất là anh Trí có tới 5-6 áo vải nilon nhiều màu rất lịch sự. Anh Thoại thì có cái áo len xanh mặc ngoài cái sơ mi trắng cổ to rất đẹp so với khuôn mặt và dáng người điển trai của anh.

Vài kí ức sống sót trở lại sau gần 50 năm – nhớ đâu viết đó, viết cả điều vui và không vui theo kiểu vui ít thì khéo dùng cách nói để vui nhiều, không vui thì cũng nêu sao cho nhẹ bớt cái không vui. Từ năm thứ 2, lớp chỉ còn mỗi kỳ 1 tuần lao động ở trại, đa số vào thời vụ cấy. Còn nhớ một chuyện không vui  hồi ấy: hôm đó trời mưa rét, lớp được cử đi cấy ngoài cánh đồng số 6. Mấy anh có dép nhựa tiền phong để trên bờ ruộng bị bọn trộm trong làng đóng giả “trẻ trâu” đi qua quơ hết. Hồi đó đôi dép nhựa trắng tiền phong là của hiếm, ai có thì oai lắm. Tôi còn nhớ mấy anh em đi tìm một cách tuyệt vọng là vào làng Cửu Việt dò thám. Rồi anh Hợp (?) còn nghĩ ra “diệu kế” là hôm sau vẫn giả vờ để đó mấy đôi dép mới xem bọn trộm hôm qua có lảng vảng qua không. Nếu chúng định làm lại “kịch bản cũ” thì chắc chắn trúng kế và sẽ bị bắt vì đã có kế hoạch vây bắt từ các phía rất cẩn thận. Nhưng bọn trộm đâu có dại mà ra lần nữa vì chúng biết hôm qua khua hết dép tốt rồi!

Lại còn vài chuyện làng nhàng kể nốt. Hồi đó vào mùa rét, mấy đám ruộng trước nhà A1, các thầy cô tăng gia trồng rau xanh, chủ yếu là su hào, cải, hành... Có đêm bọn sinh viên đói mò ra nhổ trộm rau của các thầy về luộc chấm muối[3]. Sau này khi tôi đã là giảng viên, tôi nghe thầy Tô Dũng Tiến có nhắc về chuyện này. Thầy nói, năm nào trồng rau cũng có chuyện chưa kịp ăn là bọn trộm nhổ hết. Thầy nghĩ bọn sinh viên ấy đói, khổ quá (mà các thầy cũng đói). Rồi thầy nói câu này tôi cứ nhớ mãi: “Chúng nó đói nó trộm mấy cây rau, bọn mình dạy cho chúng nó kiến thức kiếm sống mà mình còn chả tiếc thì tiếc gì mấy cây rau nhỏ!”

Có vụ đang đêm nghe kêu có trộm. Mọi người ra hành làng nhìn thì thấy mấy anh em KT20B đang phóng theo tên trộm buồng chuối ở bờ đám ruộng gần Trạm xá trường. Tên trộm nhờ đêm tối lủi mất nhưng phải vứt lại buồng chuối còn xanh. Tôi thấy anh Vũ Mạnh K. lớp KT20B vác lên phòng (làm vật chứng), quần áo anh dính đầy bùn đất do anh chạy đuổi theo tên trộm nhảy qua mấy đám ruộng[4]. Một lần khác cũng vào đêm nghe kêu trộm, tôi ra cửa sổ nhìn mấy cả mấy chục người chạy trước KTX B2. Thế là cũng lao xuống xem chuyện gì. Ra đến cổng vườn thực vật thấy một đám đông đang lao vào đánh đá một người nằm trên mặt đất. Kẻ bị đánh nằm co người lại không chống cự gì. Một hồi có kẻ kêu to: “Coi chừng nó chết!”. Thế là mọi người bỏ tên bị đánh nằm đó mà về cả. Không biết số phận tên đó ra sao… Đánh hôi “kiểu hội đồng” thì có sống chắc chắn kẻ đó cũng tàn tật suốt đời. Mà không biết là tên này ăn trộm gì từ khu KTX nữ, chị em kêu lên và anh em nam không rõ là gì nhưng có kẻ chạy là đều theo để đánh đấm… Nguy hiểm thật, chẳng biết có đánh nhầm không nhỉ?

Ở năm thứ 2 chúng tôi học và thi 2 kỳ. Kỳ 1 thi 3 môn: Vật lý đại cương, Toán (vận trù, điều khiển) và Kinh tế chính trị 1 (phần Tư bản chủ nghĩa). Có 2 môn kiểm tra là Nga văn (kiểm tra lần 2) và Thể dụng dụng cụ. Kỳ 2 chúng tôi thi 4 môn: Kinh tế chính trị 2 (phần Xã hội chủ nghĩa), Nga văn, Địa lý kinh tế và Trồng trọt đại cương. Cũng có 2 môn kiểm tra là Thể dục và Quân sự lần 1. Nay có điều kiện tôi sẽ ghi chép thêm một số kí ức về học và thi, kiểm tra những môn học năm thứ 2.

Chuyện sinh hoạt tập thể thì cũng có thêm vài “hoạt động”. Trừ cái chuyện điểm danh tối chủ nhật nhạt nhẽo “vô duyên” làm cho mấy anh có nhà gần trường rất ghét vì không được ngủ thêm 1 đêm ở nhà. Có lần thầy Giang Quốc Úy là giáo viên chủ nhiệm (thay thầy Khôi đã chuyển về Vĩnh Phú) đến dự, tôi thấy thầy có vài phát biểu kiểu chung chung động viên. Thầy Úy có đôi mày đen rậm, đôi mắt khá đẹp nhưng sao thầy toàn nhìn xuống (kể cả sau này tôi được gặp thầy ở Ty Nông nghiệp Thái Bình vẫn vậy). Cái nhìn xuống của thầy có lẽ làm mấy chị em trong lớp tôi nghĩ rằng thầy thiếu tự tin trước vẻ đẹp và sự mạnh bạo của nữ sinh lớp KT20A chăng?

Có một buổi Đại hội đoàn thanh niên năm thứ 2 ngay vào đầu năm học. Đêm đó tổ chức ở Giảng đường 8 nơi 2 lớp KT20A và B vẫn thường học. Đại hội diễn ra thế nào tôi không nhớ nhiều lắm vì một lí do đặc biệt: mọi người trêu tôi nên cử tôi làm thư kí Đại hội cùng với Kiều Tuyết Nga. Tôi nhớ Chử Tiến Hành vỗ tay to lắm khi chúng tôi được mời lên ngồi bàn thư kí. Tôi không nhớ ai là chủ tọa và khi đó ai Bí thư đoàn. Ngồi bên cô bạn Nga xinh đẹp mà không dám nói gì. Nga phân công tôi viết Nghị quyết kiểu như “Quyết tâm thư” ngày ấy, còn Nga viết Biên bản diễn biến cuộc họp. Tôi chẳng biết gì về chuyện làm thư kí nên nài bạn chô tôi ghi biên bản. Cái món viết Nghị quyết thì kết thúc phiên Đại hội phải đọc để thông qua, còn biên bản thì không phải thông qua - tức là tôi không phải đứng trước Đại hội để đọc. Thoát hiểm một công việc chưa từng làm. Tôi cứ giả vờ cúi ghi những ý kiến phát biểu, không dám ngẩng lên nhìn mọi người (nhát quá chừng). Nhưng nhờ đó tôi biết cô bạn Tuyết Nga khi đến Đại hội mới gội đầu, tóc còn se ướt. Phần tóc đen dày trải sau lưng áo trắng tinh làm cho cái áo trắng ẩm mờ hơi nước. Và cái mùi thơm của lá gội đầu gì đó lẫn với mùi con gái mới lớn tạo thành mùi hương kỳ diệu lắm (mà cho đến nay tôi cũng chưa từng gặp lại cái mùi ấy trong đời). Sau này có mấy dịp đi cùng cả nhóm, tôi có hỏi Nga (trước cả nhóm) về mùi hương ấy, Nga nói: “Tớ làm sao mà nhớ được gội bằng lá gì!” (hồi đó Nga đã có nhiều yêu là anh Hải).

Có một chi tiết khác về Đại hội: Mấy anh lớn tuổi cứ tranh luận về chỉ tiêu 5 hay 10% không phải thi lại (tức là thi phải đạt điểm trung bình trở lên là 90 – 95%). Tôi chẳng biết sao lại tranh cãi hăng thế. Ý kiến anh Trần Duy Học thì cho rằng cao quá, khó đạt. Nhiều anh cho rằng phải có quyết tâm cao để phấn đấu. Không thấy chị nào phát biểu. Mãi đến khi anh Lê Xuân Trí (Trí trắng) phát biểu tôi mới rõ về tranh luận này. Cái giọng Diễn Châu, Nghệ An của anh pha nhiều giọng Bắc do anh đã ra Hà Nội nhiều năm nên rất nhẹ nhàng, dễ nghe và thuyết phục. Anh nói đại ý rằng dù 5 hay 10% trượt thì vẫn là những người trượt cụ thể. Vấn đề là ai dám nhận mình trượt để có được 5 hay 10% ấy. Rõ ràng chỉ tiêu này không thể quyết được nếu không có người xung phong trượt (!) Tôi thấy ý kiến này rất hay và nhớ mãi cái miệng cười khi anh phân tích chuyện này.

Vào năm 2 cũng có thay đổi Ban cán sự lớp: vào kỳ 2 anh Hợp xin thôi lớp trưởng vì vợ chồng anh đã kịp sinh 2 cháu bé trong 2 năm (?) nên quá bận. Anh Nguyễn Đình Chình thay anh Nguyễn Đăng Hợp. Bí thư Chi bộ là anh Ngô Văn Ly. Hồi này lớp bắt đầu cử Ban cán sự môn học. Tôi được cử tham gia Ban cán sự môn Nga văn cùng … ai đó. Môn thi Nga (kỳ 2) tôi sẽ có một ghi chép về những việc của Ban cán sự môn học này.

Riêng tôi, vào đầu năm thứ 2 (tháng 9/1976) tôi đã bắt đầu định hình chiều cao. Chưa đầy một năm thoát li mà tôi đã cao thêm 18cm (từ 1.53cm lên 1.71cm) và nặng thêm 15kg (từ 32kg lên 47kg). Thật là điều kì diệu đối với tôi, không ai có thể giải thích rõ được. Sau này, khi ra trường tôi vẫn còn cao thêm 2cm nữa (cân đo khi khám sức khỏe vào quân đội).



[1] Cả 2 sau này đều là giảng viên khoa Kinh tế Nông nghiệp.

[2] Đã viết ở ghi chép https://lehuuanhghichep.blogspot.com/2025/07/lop-va-to-hoc-tap-nhung-nam-ai-hoc-cua.html

[3] Đây là những chuyện rất “phổ biến” hồi ấy. Sau này tôi gặp nhiều cán bộ lãnh đạo địa phương từng học ở ĐHNNI, có anh kể chuyện trộm rau các thầy, như những “chiến công” hồi đi học để trải nghiệm tạo nên thành đạt sau này (?)

[4] Một khảo dị về chuyện này: nghe nói kẻ trộm và người đuổi theo có những bàn bạc trước để trốn thoát (?)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét