Đây là môn học trọng tâm trong chương trình đào tạo
kĩ sư kinh tế nông nghiệp - môn học kéo dài cả 2 kỳ trong năm thứ 4, có tới 240
tiết học. Đó là chưa kể có tới 8 tuần đi thực tập khu vực NTQD kiểm chứng lại
thực tiễn các nội dung đã học. Thời đó cái gì đã có trong thực tiễn thì cũng có
trong giảng dạy. Học xong ra trường là làm được việc ngay. Kiến thức học không
xa xôi viễn vông, chỉ cơ bản là các nội dung hướng dẫn người kĩ sư trong thực
hành công việc của mình. Hơn nữa, qua rà soát các chương trình thực tập giáo
trình, giáo viên có thể điều chỉnh nội dung giảng dạy hoặc cập nhật các thay đổi
kiến thức mới.
Tuy nhiên kiểu dạy này có nhiều cái không hay: tính
lí luận yếu, phần lớn học theo các chế độ, chính sách, quy định cứng nhắc. Mỗi
khi có chính sách mới là hàng loạt nội dung học bị lạc hậu, lỗi thời. Các chính
sách thì luôn thay đổi nên kĩ sư ra trường vài năm là mất hết các thứ đã học trong
trường, phải tự cập nhật tình hình để làm việc. Bản thân giáo viên đôi khi cũng
không kịp cập nhật chế độ, chính sách nên bị lạc hậu so với thực tiễn ngay từ
khi dạy cho sinh viên trong nhà trường.
Vài nét về Bộ môn Tổ chức quản lý xí nghiệp nông
nghiệp và các giáo viên khi chúng tôi học
Cho tới năm 1961, Trường Đại học Nông nghiệp I (khi
đó gọi là Học viện Nông Lâm) mới thành lập Khoa Kinh tế nông nghiệp, tức là chậm
hơn các khoa khác 5 năm. Trước đó, từ năm 1957, Trường cũng đã có Tổ Bộ môn
Kinh tế trực thuộc Học viện Nông Lâm. Đầu tiên Tổ Bộ môn Kinh tế nông nghiệp do
thầy Nguyễn Đăng phụ trách[1]
(1957-1958), sau đó đến thầy Nguyễn Văn Đỉnh[2]
(1958-1962). Tổ Bộ môn Kinh tế dạy cho các khoa nông nghiệp trong trường, nội
dung dạy nghe nói liên quan đến môn học Kinh tế nông nghiệp và Tổ chức quản lý
xí nghiệp nông nghiệp sau này.
Khi thành lập Khoa Kinh tế nông nghiệp, một số giáo
viên trong khoa khi đó vốn không phải tốt nghiệp đại học ngành kinh tế nông
nghiệp[3].
Tôi nghe một số thầy nói hồi đó thầy Trịnh Việt Lang có kiến thức rất thâm sâu
về Kinh tế nông nghiệp. Lớp KT6 (1962-1967) là những sinh viên khóa đầu tiên của
Khoa Kinh tế nông nghiệp ra trường. Có nhiều sinh viên giỏi được giữ lại làm
giáo viên như các thầy Tô Dũng Tiến[4],
Nguyễn Liễm[5], Hồ Ngọc Châu, Đinh Văn Hiến.
Từ khi thành lập Khoa Kinh tế nông nghiệp, môn học
quan trọng nhất là Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp. Các giáo viên
thường gọi đùa là môn “xương sống”, các môn khác là xương sườn, xương tứ chi…
Khi chúng tôi học môn này (1978-1979), các giáo viên trong môn học gồm các thầy
Trần Đình Đằng (TT1), Nguyễn Liễm, Hồ Ngọc Châu, Đinh Văn Hiến (KT6), Nguyễn
Nguyên Cự (KT7). Sau này bổ sung thêm các giáo viên khác như Nguyễn Văn Quý (KT15),
Đỗ Thành Sương (KT15), Phạm Văn Thiều (KT16)…
Từ năm 1977, Bộ Nông nghiệp thành lập Viện Kinh tế
nông nghiệp nên một số giáo viên của Bộ môn Tổ chức quản lý xí nghiệp như PTS
Chu Hữu Quý, PTS Nguyễn Lâm Toán, KS Nguyễn Trung Quế đã chuyển sang công tác tại
Viện Kinh tế nông nghiệp. Thời chúng tôi học, một số thầy được mời về thỉnh giảng
hoặc nói chuyện với sinh viên. Chúng tôi được nghe PTS Nguyễn Lâm Toán nói về
nông nghiệp Liên Xô, PTS Chu Hữu Quý cũng nói về quản lý nông nghiệp ở Việt Nam
liên hệ với các nước XHCN như Liên Xô.
Nội dung cơ bản của môn học
Môn học Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp có nội
dung rất rộng, tôi còn nhớ lơ mơ như sau: Đối tượng, mục tiêu, phương pháp nghiên
cứu môn học; Mô hình Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp; Tổ chức quản lý tư
liệu sản xuất; Tổ chức quản lý lao động; Tổ chức quản lý sản xuất ngành trồng
trọt; Tổ chức quản lý sản xuất ngành chăn nuôi; Tổ chức quản lý sản xuất ngành
nghề TTCN; Tổ chức quy hoạch đất đai; Tổ chức quản lý cơ khí hóa sản xuất; Tổ
chức phân phối sản phẩm; Tổ chức tài chính… Giờ nhớ lại theo giáo viên dạy
thì sẽ cụ thể hơn về nội dung các chương này.
Nhìn chung các nội dung này có nhiều trùng lặp nhất
định với môn học Kinh tế nông nghiệp (nhất là về mô hình tổ chức nông nghiệp là
NTQD và HTX, về đất đai và TLSX, về lao động, về phân phối sản phẩm…). Trình độ
chúng tôi khi đó thấy rất khó phân biệt đâu là kiến thức về kinh tế đâu là kiến
thức về tổ chức quản lý. Ví dụ cũng là đất đai nhưng không làm rõ được nội dung
nào thuộc môn Kinh tế nông nghiệp, nội dung nào thuộc môn Tổ chức quản lý sản
xuất. Cả hai đều nhấn mạnh đặc điểm của đất đai vừa là tư liệu sản xuất (TLSX)
vừa là đối tượng sản xuất (ĐTSX). Nhiều nội dung lí luận của 2 môn học này cũng
có nhiều trùng lặp nhất định.
Nội dung học kì 1
Thầy KS Hồ Ngọc Châu dạy chúng tôi ở kì 1 năm thứ 4.
Thầy tốt nghiệp KT6, khi đó đã ra trường được 12 năm. Thầy Châu quê ở Quỳnh
Lưu, Nghệ An, người thấp nhỏ, nói giỏi, rất thuộc giáo trình. Giọng xứ Nghệ xoắn
lại theo uốn lượn của môi dưới tạo cảm giác xây dựng âm điệu bài giảng điêu luyện.
Thầy không chú ý nhiều đến người học, gần như không có đối thoại khi giảng. Kiểu
“độc thoại” của thầy vừa giống kiểu cha đạo giảng kinh, vừa như người truyền thụ
tuyên huấn. Lúc đầu nghe rất khoái “lỗ nhĩ” và cũng có những lúc cả lớp nổ
thành những tràng cười theo nhiệt huyết giảng của thầy.
Sau khi giảng xong 3 chương đầu (Đối tượng, Mục
tiêu, Phương pháp nghiên cứu môn học; Mô hình tổ chức quản lý xí nghiệp nông
nghiệp; Tổ chức quản lý TLSX) thì thầy Châu dạy tiếp ngay vào chương Tổ
chức quản lý sản xuất ngành chăn nuôi. Lí do là kịp bổ sung những kiến thức
để tháng 11-1978 chúng tôi đi thực tập giáo trình tại NTQD Mộc Châu, nơi có
ngành chăn nuôi bò sữa.
Phần nội dung tổ chức chăn nuôi bò sữa được thầy
Châu chuẩn bị khá đầy đủ: gồm tổ chức chuồng trại, tổ chức đồng cỏ, công tác
chu chuyển đàn, công tác vắt sữa, công tác thú y… Tôi nhớ nhất là thầy giảng
chăn nuôi bò sữa có phương pháp chăn thả luân phiên tự động. Theo phương
pháp đó, người ta làm các hàng rào giữa các lô cỏ để khi cho bò ăn lô nào thì mở
cửa lô đó. Khi lô mở thì bò được tự động vào ăn, được tự do đi lại từ chuồng trại
ra đồng cỏ và về nơi vắt sữa. Vào mùa thời tiết thuận lợi, bò được ngủ tại đồng
cỏ không phải về chuồng… Một số ngày sau người ta lại mở lô khác để bò được vào
nơi có nhiều cỏ mới tươi ngon. Nghe nói kiểu chăn thả này được tổ chức ở Liên
Xô thời ấy.
Khi đi thực tập ở Mộc Châu năm 1978-1979 tôi cũng chỉ
biết sơ sơ về phương pháp này khi được “học chéo” ở đội Vườn Đào (nơi anh Nguyễn
Đăng Hợp làm nhóm trưởng nhóm sinh viên thực tập). Sau này khi tôi là giáo viên
của Khoa, vào năm 1987-1988 tôi được trực tiếp hướng dẫn khóa KT30 đi thực tập ở
Mộc Châu, tôi mới biết nhiều hơn về thực tiễn của phương pháp chăn thả luân
phiên tự động được học từ hồi thầy Châu dạy.
Nhân chuyện này tôi xin nói thêm về một số trải nghiệm
chuyện chăn nuôi bò sữa.
Năm 2011, tôi đến Australia lần thứ 3 trong một dịp học
tập và nghiên cứu ở trường Đại học Queensland, Bang Queensland[6].
Người ta cho tôi tới thăm 1 trang trại bò sữa và tôi có cơ hội thực sự thấy bò sữa
được chăn thả tự động. Đàn bò sữa ở đó “sướng hết cỡ”: được tự động nước uống sạch,
tự động ăn tùy thích những thức ăn tinh hay thô chất lượng cao. Đồng cỏ tươi
non trồng hữu cơ luôn có sẵn cho cả đàn trong tầm đi lại tự do. Cuộc sống đàn
bò được thiết kế cho mọi bản năng để tận hưởng những thứ trong lành nhất của
thiên nhiên nhằm bảo đảm cho sữa tốt nhất, cao nhất. Khi đó, tôi liên tưởng đến
đàn bò sữa ở NTQD Mộc Châu hồi chúng tôi học với thực tiễn một trang trại ở
Australia để thấy ngành chăn nuôi bò sữa đã được đầu tư phát triển thế nào.
Lại nhân chuyện này để có liên hệ khác về ngành chăn
nuôi bò sữa ở Việt Nam. Vào mùa hè năm 2019, tôi có dịp vào thăm trại chăn nuôi
bò sữa của TH True Milk ở Nghĩa Đàn, Nghệ An. Tôi thật bất ngờ thấy sự đầu tư
và phát triển công nghệ bò sữa. Đồng cỏ và thức ăn trên đồng chỉ như là nơi đi
dạo chơi của đàn bò. Người ta đeo vào chân mỗi con bò sữa một cái cảm biến theo
dõi sức khỏe: đo số bước chân trong ngày, số km vận động mỗi giờ, số lần bò nằm
nghỉ trên đồng cỏ, thời gian nghỉ… Khi nào bò thấy cần về vắt sữa thì lặng lẽ về
trại vắt, nơi có máy lạnh, có quạt thông gió, có đầy đủ thức ăn bổ sung, nước uống
sạch (ấm vào mùa đông). Bò vào khu chờ vắt sữa thì được nghe âm thanh những bản
nhạc du dương (nay tôi chưa có điều kiện tìm hiểu xem loại nhạc nào bò thích nghe?).
Chúng tôi phải trang phục riêng, đứng ở khu cách li từ trên cao nhìn xuống ngắm
bò lần lượt vào khu vắt sữa tự động. Máy vắt chỉ hoạt động khi cảm biến đánh
giá đó là bò có sức khỏe tốt. (Nếu bò đi lại ít, nằm nhiều… thì máy vắt sữa sẽ
tự động nhả vú ra, từ chối hoạt động). Nhìn ra cánh đồng hoa hướng dương bạt
ngàn gần khu trại bò mới biết người ta đầu tư lớn quá. Vùng tây Nghệ An gió Lào
nắng nóng mà nuôi được những trang trại bò hiện đại quá, công nghệ Israel từ giống,
các cảm biến tự động đến nhà vắt sữa và khu chế biến hiện đại khép kín trong một
không gian chỉ mấy km2. Tôi lại thấy những gì mình biết hồi đi tìm
hiểu ở Australia lại quá lạc hậu so với bây giờ ở ngay nước mình. Ôi, từ kiến
thức học và thực tập thời 1978 cho đến thực tiễn thấy ở Việt Nam năm 2019 như
những giấc mơ không tưởng!
Con bò thấy trong thực tế còn sướng hơn cả người
công nhân chăn bò. Thế mà lũ bò sữa còn bị căn bệnh bò điên nữa chứ. Bệnh
bò điên là do bò sữa bị chăm sóc và vắt sữa quá đáng gây là tổn thương “tinh thần”[7]
và trở nên điên. Nghĩ lại thấy thương cho người chăn nuôi bò sữa: chắc họ chưa
từng biết chuyện phải ăn thế nào để đủ tiêu chuẩn, phải sống thế nào để đủ sức
khỏe thì mới được cho con bú (và chắc cũng chưa từng biết phải nghe loại nhạc
gì khi con bú). Mà người ta chăm sóc đàn bò sữa (chứ không quan tâm đến đàn con
của nó) để mỗi năm vắt gần 300 ngày, cứ đẻ rồi vắt sữa hết lứa này đến lứa khác
nên trở thành … điên!
Trở về từ thực tập và thi cuối kì
Sau khi đi thực tập về thì chúng tôi còn học mấy tuần
nữa là thi. Tôi còn nhớ khi đó phải chuyển sang học khu Giảng đường CLB sinh
viên. Hai lớp KT20AB ngồi trong một phòng nhỏ hơn GĐ8 chúng tôi vẫn học. Thầy
Châu dạy một chương gì đó có nói đến chuyện thực tiễn không giống những gì
trong sách vở. Thầy nói về chuyện có thửa ruộng hình chữ thập ngoặc, hình khẩu
súng lục. Nét vẽ của thầy theo kiểu hình đó trên bảng đen và mô tả cách tổ chức
sản xuất trên những thửa ruộng đó phải thế nào để bảo đảm đạt yêu cầu của nguyên
tắc tổ chức phải thuận theo hướng gió, hướng nắng (?). Chúng tôi cười theo những
nét vẽ rất nhanh thành những hình ngộ nghĩnh trên bảng khi thầy say sưa giảng
bài.
Thi môn học này cũng có chuyện để nhớ. Từ năm học thứ
4 của chúng tôi, quy định cách cho điểm thi từ hệ thang điểm 5/5 được đổi sang cho
điểm thang 10/10. Môn Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp vốn nổi tiếng khó,
khó từ học cho đến thi cử. Ngày thi vấn đáp môn này là 18-2-1979, tôi đạt điểm
5/10. Kì đó cả lớp rất ít người đạt điểm 8, điểm 7 cũng hiếm lắm. Có lẽ các thầy
nghĩ thang điểm 10/10 phải làm cho sinh viên rất khó đạt điểm giỏi! À cũng cần
có thêm yếu tố nữa là cơ bản sinh viên lúc này cũng chỉ cần điểm đạt để không
phải thi lại mà thôi.
[1] Thầy Nguyễn Đăng (?-2008) khi đó là Hiệu trưởng kiêm
Trưởng Bộ môn Kinh tế. Sau này thầy từng giữ Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp, đại biểu
Quốc hội khoá I, khoá II, khoá III, khoá VI và khoá VII.
[2] Sau này Khoa Kinh tế nông nghiệp cũng có thầy tên Đỉnh
là Trưởng Khoa (KS Phan Trọng Đỉnh trưởng khoa từ 1978-1982).
[3] Chẳng hạn thầy Trần Đình Đằng ban đầu học ngành Trồng
trọt khóa 1. Sau này GS TS Trần Đình Đằng là Trưởng Khoa Kinh tế nông nghiệp từ
1984-1992.
[4] GS TS Tô Dũng Tiến sau này là Trưởng Khoa Kinh tế nông
nghiệp từ 1992-2001
[5] Sau này thầy Nguyễn Liễm chuyển vào Thành phố Hồ Chí
Minh dạy ở Trường Cán bộ quản lý Bộ Nông nghiệp. Thầy đã mất (khoảng năm 2014?).
[6] Đại học Queensland (thành lập 1909 thường
được gọi tắt là UQ) là một đại học nghiên cứu khoa học đa ngành hàng đầu tại Úc,
có trụ sở chính tại thành phố Brisbane, thủ phủ của tiểu bang Queensland.
[7] Không biết lũ bò có “tinh thần” không mà tổn thương tâm
lý?
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét