Thứ Hai, tháng 4 13, 2026

Năm thứ 4 – Học môn Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp (post kì 2)

 Nội dung học ở kì 2

Vào kì 2, môn học có tới 3 giáo viên giảng bài.

·       Nghe thầy Liễm dạy

Phần chuyên môn ở kì 2 môn học này chủ yếu do thầy KS Nguyễn Liễm dạy. Các chương quan trọng nhất thầy Liễm dạy là Tổ chức lao động; Tổ chức quản lý sản xuất ngành Trồng trọt; Tổ chức quản lý sản xuất ngành tiểu thủ công nghiệp; Tổ chức phân phối sản phẩm nông nghiệp… 

Thầy Nguyễn Liễm quê xứ Huế, giọng Huế của thầy ban đầu nghe hơi khó chút, nhiều âm nuốt vào trong cổ. Miệng thầy có kiểu cười tách nhếch nửa môi dưới hơi lạ. Cười mà như không cười, lại như kiểu “cười diễu”, “cười gẩy” vào những vấn đề thầy đang nghĩ. Khuôn mặt thầy khá vui nhưng không dễ gần. Thầy có đôi mày rậm làm cho đôi mắt tưởng sâu hơn trong khuôn mặt luôn cười nhẹ của thầy khi giảng bài. Thầy giảng hay, liên hệ sâu nhưng khá nghiêm túc, ít tình huống gây cười cho người nghe như lối dạy của thầy Châu. Tôi rất thích kiểu dạy của thầy và cảm nhận học được rất nhiều kiến thức trong nội dung bài giảng mà không có trong quy định giáo trình.

Nhưng chuyện tôi nhớ nhất về bài giảng của thầy Liễm là ở chương Tổ chức quản lý lao động trong xí nghiệp nông nghiệp. Thầy nói về định mức lao động trong nông nghiệp: đại loại là người lao động trình độ nào thì bố trí vào công việc tương ứng với trình độ của họ. Như vậy các công việc có độ phức tạp khác nhau được phân tích thành các quá trình riêng biệt để đánh giá độ khó khi thực hiện chúng. Mỗi độ khó của công việc cần phải được bố trí những lao động có trình độ nhất định để giải quyết chúng tốt nhất. Muốn làm được việc đó cần phải có phương pháp định mức lao động. Định mức lao động kết hợp độ khó của công việc với tổ chức bố trí trình độ người lao động phù hợp vào đúng chỗ. Như vậy, người lao động cũng cần phải được đánh giá trình độ (thành thạo, có kĩ năng xử lý…) theo bậc công nhân. Quy định thời đó có các bậc công nhân từ 1 đến 7. Bậc 7 là trình độ cao nhất, thường là phải gần cuối đời lao động mới đạt được bậc 7/7. Phải thường xuyên tổ chức thi nâng bậc công nhân. Tiếp đến là trả lương cũng phải theo các bậc khác nhau. Bậc công việc (độ khó của công việc) là cơ sở để người tổ chức lao động bố trí được bậc công nhân phù hợp, từ đó xác định được tiền lương tương ứng.

Chuyện thường xảy ra trong thực tiễn là người có trình độ cao thì có thể làm được công việc có độ khó từ cao đến thấp (tất nhiên không có chuyện ngược lại). Tuy vậy trong thực tiễn sản xuất, các công việc lại đan xen khó – dễ với nhau. Vậy phải làm sao kết hợp được các bậc công nhân theo những loại công việc có tính khó dễ đan xen hợp lý. Ví dụ chuyện thu hoạch gặt lúa thì cần người đi gặt, người vận chuyển, người đập, phơi thóc, phơi rơm, cắt rạ. Rõ ràng trong những việc đó có độ khó rất khác nhau. Người có bậc nông nhân thấp có thể làm việc vận chuyển, hay phơi thóc, phơi rơm... Tuy vậy chuyện này cũng gặp vấn đề là có thể gây ra sự bố trí lãng phí nhân công hoặc có khi không đủ việc cho những công nhân bậc cao…

Một vấn đề khác: có những công việc diễn ra thường xuyên trong năm nhưng có độ khó không khác nhau mấy, chẳng hạn việc vắt sữa bò, việc hái chè… Khi hái chè, công nhân nào cũng hái được nhưng người có trình độ, có kinh nghiệm sẽ hái được nhiều chè trong 1 giờ hơn người mới vào nghề. Như vậy vấn đề bố trí lao động lại cần phải tính thêm định mức cơ bản cho người có trình độ lao động trung bình để người ít kinh nghiệm phải cố gắng mới đạt được, còn người nhiều kinh nghiệm thì thường vượt định mức và tất nhiên sẽ được đánh giá kết quả khác nhau.

Tính kết quả cũng khá phức tạp: thường thì phải dùng phương pháp bình quân gia quyền để xác định kết quả bố trí công nhân có các bậc khác nhau vào một công việc có tính tổng hợp. Lại thêm định mức thưởng khi vượt mức cơ bản để sao cho thời gian hoàn thành của mỗi người đều có những nỗ lực cố gắng nhất định và phải có thù lao tương ứng.

Nhân học về chương này, hồi đó tôi mua được cuốn sách “Tổ chức lao động khoa học” của một tác giả nào đó ở Liên Xô có bàn về chuyện này, nhưng chủ yếu là nói về ngành công nghiệp. Tác giả mô tả kiểu tổ chức lao động định mức và phê phán kiểu lao động dây chuyền Taylor[1]. Ông mô tả cách xây dựng định mức cho người lao động có tính đến các yếu tố tăng năng suất như môi trường sản xuất, tính tổ chức hợp lí để tiết kiệm di chuyển trong sắp xếp các công việc. Lại bàn chuyện khoa học thiết kế không gian, ánh sáng, âm thanh nơi làm việc. Tôi rất ấn tượng là tác phẩm này, chỉ suy nghĩ là làm kiểu đó phù hợp với công nghiệp chứ không hợp với sản xuất nông nghiệp. Môn học Kinh tế nông nghiệp đã dạy chúng tôi đặc điểm của nông nghiệp là con người lao động tiếp xúc với các sinh vật sống (đối tượng lao động là sinh vật sống) nên không giống nguyên vật liệu là đối tượng sản xuất như trong công nghiệp. Sự tương tác phải làm sao thích nghi với đối tượng sản xuất sinh vật chứ không thể đối xử như với máy móc, vật tư vô tri được.

·       Nghe thầy Hiến dạy  

Chúng tôi còn được nghe người dạy lâu năm khác của môn này là thầy KS Đinh Văn Hiến. Thầy dạy chương Tổ chức quy hoạch đất đai nông nghiệp.

Thầy Hiến quê Hà Tĩnh, tốt nghiệp KT6, cùng lớp với thầy Châu, thầy Liễm. Giọng thầy to, cao vút, âm điệu xứ Nghệ rắn rỏi. Cũng đôi mày rậm trên khuôn mặt xương xương gầy, nhưng thầy rất ít cười. Cái nhìn thẳng khá trung thực. Khi giảng thầy có vẻ như hơi căng thẳng, kiểu ưu tiên dành nhiều năng lượng cho giảng bài (chứ không có vẻ nhàn nhã như thầy Liễm).

Thầy chỉ dạy một chương mà tôi vẫn còn nhớ mãi sau này. Thầy nói về tổ chức quy hoạch đồng ruộng, nào là có kích thước lô thửa, có đường đi hợp lý giữa các lô thửa, trên các đường đi có trồng cây để hạn chế gió bão. Trên các lô thửa khi trồng (làm luống, đặt cây) phải theo hướng ánh sáng để cây nhận được ánh sáng chiếu đến nhiều nhất nhưng lại phải làm sao để cản được gió bão tốt nhất. Rồi chuyện đường đồng mức, chuyện chống xói mòn, bảo vệ dinh dưỡng đất… Nghe đến đây, tôi lại nghĩ đến cánh đồng quê tôi: nhấp nhô cồn bãi với ruộng xen vũng, bờ bụi thì quanh co uốn lượn theo lối mòn có từ ngàn xưa. Bây giờ làm sao thiết kế được như thầy nói hôm nay. Nhưng nghĩ về chuyện đi thực tập ở Mộc Châu thì các đồi chè hình như người ta cũng đã áp dụng tốt nguyên tắc này.

Tôi có một kỉ niệm về nội dung dạy của thầy Hiến: Khi tôi là Trưởng Khoa Kế toán và Quản trị Kinh doanh, khoảng năm 2009, Khoa có việc tuyển dụng giáo viên mới. Tôi nghe một ứng viên giảng thử một bài liên quan đến môn học Kinh doanh nông nghiệp. Tôi bỗng thấy bài giảng thầy Đinh Văn Hiến được nêu lại gần như toàn bộ ở đây. Lạ quá, tôi được học các nội dung nay từ 1979 mà nay là 2009, tức là hơn 30 năm sau lại thấy gần y nguyên nội dung (tất nhiên lúc này thầy Hiến đã về hưu). Đối với người giảng thử thì hội đồng không đánh giá khắt khe về chất lượng chuyên môn mà quan trọng nhất là xem các ứng xử khi giảng bài của một người giáo viên tương lai. Anh ta trả lời các câu hỏi rất linh hoạt và đã đạt tiêu chuẩn tuyển dụng giảng viên của Khoa năm 2009. Sau này anh ta học thạc sĩ và tiến sĩ ở Nhật Bản. Khi tôi về hưu được vài năm thì anh ta chuyển sang Đại học Quốc gia (năm 2024).

Nhân chuyện thấy bài giảng năm xưa sống lại, tôi có dịp hỏi anh ta đã tham khảo bài giảng này từ đâu. Anh ta nói rằng một giảng viên (tạm gọi tên X) cho mượn bài giảng và hướng dẫn để phát triển thành nội dung giảng thử. Ông thầy X này trước học KT18, khi đó đang là giảng viên của Khoa tôi. Có rất nhiều điều hạn chế ở nội dung chuyên môn trong bài giảng: chuyện từ hồi mô hình kinh tế bao cấp (NTQD và HTX) 30 năm trước mà nay vẫn giữ y nguyên trong môi trường kinh tế nông nghiệp hiện đại. Thấy vô lý quá nên nhân chuyện Khoa rà soát cập nhật nâng cao kiến thức chuyên môn, chúng tôi đã bàn chuyện viết lại bài giảng, giáo trình cho từng môn học để đổi mới kiến thức. Thì ra nội dung một bài giảng sau 30 năm vẫn còn. May mà người nghe (là chúng tôi khi đó) đã kịp thời cập nhật thực tiễn và từ bỏ các kiến thức lạc hậu ra khỏi chương trình giảng dạy. Nếu người nghe như những sinh viên 19-20 tuổi thì họ sẽ nghĩ sao khi tiếp thu các kiến thức này!

·       Nghe thầy Quý dạy

Chương cuối chúng tôi được nghe thầy KS Nguyễn Văn Quý dạy. Thầy Quý đi bộ đội về, là thương binh, học KT15. Khi đó thầy là giáo viên vừa xong tập sự chuyên môn. Thầy dạy chương Tổ chức cơ khí hóa trong xí nghiệp.

Thầy cũng chỉ dạy 1 chương, tôi không có nhiều ấn tượng lắm về nội dung. Đại loại nói về máy kéo lớn, các công việc của máy kéo lớn trong HTX, NTQD là tư liệu sản xuất “đa dụng”, có thể làm với nhiều máy nông nghiệp khác nhau. Cách tính định mức tổ chức máy móc theo khối lượng công việc. Chẳng hạn quy mô như bao nhiêu ha thì cần trang bị bao nhiêu máy, lượng tiêu thụ trong dân bao nhiêu thì cần trang bị một máy xay xát gạo…

Sau này thầy Nguyễn Văn Quý là người hướng dẫn tôi và anh Dương Ngọc Đĩnh đi thực tập tốt nghiệp ở Hải Hậu. Tôi đã nhờ thầy mượn thêm một số sách để khi làm đề tài tốt nghiệp biết cách tính toán nhu cầu máy, nhất là máy móc cơ khí nhỏ trong các HTX. Nhờ đó khi bảo vệ đề tài tốt nghiệp tôi được một số thầy trong hội đồng đánh giá là có tham khảo thêm nhiều tài liệu liên quan.

 

Hỏi thi môn này luôn có tới 5 bàn hỏi vấn đáp vì Bộ môn dạy có nhiều giáo viên. Nhóm các thầy lâu năm gồm Trần Đình Đằng, Hồ Ngọc Châu, Nguyễn Liễm, Đinh Văn Hiến, Nguyễn Nguyên Cự. Các giáo viên trẻ hồi chúng tôi học gồm Nguyễn Văn Quý (KT15), Đỗ Thành Sương (KT15), Phạm Văn Thiều (KT15) Bùi Thị Gia (tốt nghiệp từ CHDC Đức về, tương đương KT16), lại còn Đỗ Văn Viện (KT18) lúc đó cũng được dự bị hỏi thi.

Các thầy hỏi chúng tôi nhiều, toàn chuyện trong thực tiễn nên chúng tôi khó trả lời. Vốn quen học và nhớ hết các nội dung bài giảng nhưng kiến thức thực tiễn ít ỏi nên điểm cả lớp không cao. Không có ai trong lớp được điểm 9/10.

Thi lần 2 vào ngày 24/7/1979, tôi được kết quả 7/10, khá hơn kì 1 (kì 1 chỉ đạt 5/10). Tôi nghĩ không phải chúng tôi học tốt hơn mà chính các thầy đã suy nghĩ lại cách cho điểm thang 10/10. Từ kì này, các thầy “nới tay” cho nhiều điểm 7, điểm 8 hơn. Rõ ràng kết quả người học phụ thuộc rất nhiều vào sự ra tay “nặng- nhẹ” của các thầy!



[1] Lao động dây chuyền theo phương pháp Frederick Taylor là mô hình quản lý khoa học tối đa hóa năng suất bằng cách chia nhỏ quy trình sản xuất thành các thao tác đơn giản, lặp đi lặp lại. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét