Thứ Sáu, tháng 4 03, 2026

Năm thứ 4 và năm thứ 5 – “nốt lặng” một thời đại học

 

Tôi sẽ dành nhiều thời gian để ghi chép những sự kiện về cuộc sống sinh viên ở năm thứ 4 và 6 tháng của năm thứ 5 đại học mà chúng tôi trải nghiệm, nhất là những lắng đọng sâu sắc mà chúng tôi được vui sống bên nhau. Đây là những năm tháng tôi thật sự được sống với sự háo hức học hỏi, cảm nhận và cho đến nay vẫn thấy hồi đó mình đã có rất nhiều giá trị thu hoạch được.

Cũng nói luôn về những điểm rất yếu của chúng tôi thời đó – rất ít chuyện ái tình, rất ít chuyện thể hiện hơi thở thời cuộc của “trí thức” - chỉ thực tế là nhiều chuyện thời đói cơm thiếu áo, ít lí tưởng hoài bão cao xa. May mắn là vẫn còn giữ được chân chất hồn quê trong mỗi con người.

Nhìn lại những thay đổi ước mơ so với 3 năm đầu đại học

Nếu 3 năm đầu đại học, tôi dành rất nhiều thời gian rảnh rỗi để kiếm tìm di sản về Hà Nội thì sang năm thứ 4 bắt đầu có những cái nhìn về cuộc sống thực tế hơn.

Từ một thanh niên nông thôn lần đầu ra Hà Nội – mọi cái đều lần đầu: chuyến đi tàu hỏa đầu tiên, chuyến xe buýt, xe điện đầu tiên… Rồi có lần đầu biết mùi thơm của cái bánh mỳ pate có phết bơ ở Ngã tư Vọng, biết vị ngọt cái bánh chuối nóng sâu trong tận cổ họng ở góc hè chợ Mơ… Dần dần tôi tìm về các danh thắng, các di tích các bảo tàng. Chỉ bằng đi bộ và tàu điện, mỗi lần về nội thành là tôi có một kế hoạch được chuẩn bị kĩ: điểm đến là gì, đến để xem gì, cảm nhận cần ghi chép hoặc dấu ấn để nhớ là gì… Chỉ tiếc là không tìm được ai đi cùng vì không biết cách rủ được người có cùng mơ ước như mình và thực tế là không “bao nổi” ai đó dù chỉ tiền tàu điện hay bữa điểm tâm trưa[1]. Dù sao tôi cũng có điểm mạnh là các năm 1975-1976, gia đình anh trai đang sống ở một phần gian nhà tập thể (khoảng 8m2) ở phố Minh Khai nên cũng coi như có chỗ dựa ăn uống mỗi khi về thăm nội thành.

Nhớ lại 2 năm đầu, chuyến đầu tiên là phải đến Bờ Hồ để thấy được tận mắt Tháp Rùa, Đền Ngọc Sơn, Nhà Bưu điện, Nhà Thủy tạ, Tượng đài Lê Lợi[2], Nhà in báo Nhân dân rồi đi bộ lên Hàng Ngang, Hàng Đào vào chợ Đồng Xuân trước khi ra Bến Nứa đi xe ca về Trâu Quỳ. Tiếp đó là dành một chuyến đi để vào thăm Bảo tàng Lịch sử, Bảo tàng Cách mạng, dạo ngắm Nhà hát lớn, phố Tràng Tiền, Bách hóa Tổng hợp. Rồi có những chuyến đến các điểm xa hơn: khu Ba Đình, Vườn Bách thảo, Bảo tàng Quân đội, Bảo tàng Mĩ thuật Hà Nội (phố Nguyễn Thái Học), Văn Miếu Quốc Tử Giám[3]. Đến với khu Hồ Tây: chùa Quán Thánh, đường Thanh Niên, chùa Trấn Quốc, quán gió bánh tôm Hồ Tây. Cũng có một lần được vào Công viên Thống nhất và biết Rạp Xiếc Hà Nội. Còn chùa Quán Sứ thâm nghiêm thì vốn được nhìn thấy mấy lần khi phải xếp hàng mua vé và đợi tàu hỏa từ đây ra đến tận ga Hàng Cỏ mỗi khi về quê nghỉ Tết.

Cũng lần mò tìm được bạn bè để biết Đại học Tổng hợp, Đại học Kinh tế Kế hoạch, Đại học Thương nghiệp, Đại học Thủy Lợi… Đại loại đó là những điểm đến của một thời mơ ước khi ở quê từng được nghe nói đến.

Đến năm thứ 3 có lần được đến thăm em trai đang học ở Trường học số 1 Bộ Xây dựng, Thanh Xuân, Hà Nội[4] (gần Hà Đông), rồi cùng em đi bộ dạo một vòng nhỏ ở Thị xã Hà Đông. Chuyến đi lao động công ích cải tạo sông Tô Lịch cuối năm thứ 3 được biết thêm chút ít về Đình làng Cót, khu Cầu Giấy và Bách thú Thủ Lệ và có dịp ghé thăm Gò Đống Đa.

Đó là vốn hiểu biết của tôi về Hà Nội những năm đầu đại học. Chỉ có một số điểm đến ít ỏi đó mà phải dành dụm tới 3 năm để có dịp ghé thăm. Trong đầu khi đó chỉ là có “lơ mơ” chút về hồn dân tộc, hồn sông núi và những nơi linh thiêng của Thăng Long Hà Nội.

Đến năm thứ 4 thì hầu như không có dịp thăm thú nào nữa, coi như cơ bản đã biết về Hà Nội. Vả lại thời kinh tế khó khăn nên không dành được chút tiền đi lại. Những ngày cuối tuần chỉ loanh quanh ở trường, đi dạo hay đọc sách đợi giờ ăn.

À quên, hai năm cuối đại học của tôi có được lần đi cùng anh Khang đến quán làm bánh quy gia công ở phố Đinh Tiên Hoàng. Anh Khang kiếm được ít bột, trứng gà và đường cát, thế là anh rue tôi đi thuê làm bánh quy trước khi về Tết. Lần đó anh còn rủ tôi đi ăn cơm Phú Gia[5]. Có lẽ có dịp cũng nên ghi chép lại vài cảm nghĩ về chuyện này để thấy rõ hơn tình cảnh cuộc sống bấy giờ. Năm thứ 5 thì được đi xem phim cùng anh Nguyễn Ngọc Đĩnh ở rạp Bạch Mai gần chợ Mơ (hồi đó anh Đĩnh cùng tôi thực tập ở Trạm Máy kéo Hải Hậu, hôm về báo cáo thầy Nguyễn Văn Quý hướng dẫn, tôi và anh đã nghỉ đêm ở nhà anh trai tôi vì chiều tối không còn xe về Trâu Quỳ).

Bối cảnh đất nước và cuộc sống sinh viên

Năm học thứ 4 bắt đầu từ đầu tháng 8-1978 đến hết 7-1979, sau đó là năm thứ 5 (từ 8-1979 đến 5-1980). Bối cảnh đất nước lúc bấy giờ là chiến tranh biên giới Tây Nam, nạn Hoa kiều về nước và sau đó là chiến tranh biên giới phía Bắc (17-2-1979). Đất nước thiếu năng lượng, lương thực trầm trọng. Mô hình NTQD, HTX kém hiệu quả, dân đói lầm than.

Các khó khăn của đất nước ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống sinh viên: thiếu điện, mất nước triền miên. Cơm tập thể ban đầu giảm gạo, tăng mỳ, sau đó có khi không có cơm, chỉ còn bánh mỳ và hạt lúa mạch hấp. Thực phẩm khan hiếm, nhiều khi tiêu chuẩn có phiếu mà không mua được hàng nên bếp tập thể chủ yếu có canh “đại dương” và sang nhất là món cá biển kho, mùi cá biển kho mặn phủ kín cả khu KTX sinh viên mà đến nay tôi vẫn chưa từng quên.

Tình trạng chúng tôi hồi đó đã hiểu nhau hơn qua những lần cùng lao động học nghề, rèn nghề (kết thúc bằng việc liên hoan thành quả khoán quản năm 3). Rồi lần đi TTGT lần 1 (khối HTX), đi lao động công ích cải tạo sông Tô Lịch. Khi đó cơ bản mọi người biết được “sở trường sở đoản” của nhau, không chỉ trong tổ mà cả trong lớp. Tôi nhận ra lúc này anh em sinh nam trong lớp đã hình thành 2 nhóm khá rõ. Nhóm đa số gồm các anh chị lớn tuổi (bộ đội về, cán bộ đi học…) cơ bản an bài, không còn chí hướng phấn đấu mà chủ yếu chỉ là học cho xong. Một số anh em trẻ những năm đầu học khá, gia đình có điều kiện nhưng từ năm thứ 4 cũng không ham phấn đấu, dường như không còn động lực gì từ những gì đã trải sau 3 năm đại học. Nhóm đa số này chiếm tới khoảng 80-85%. Số còn lại là nhóm chỉ mấy anh em trẻ, có năng lực học, dường như chăm chỉ để có hi vọng đôi chút về tương lai sau khi ra trường.

Cả hai nhóm vẫn chung sống rất thân tình. Nhóm đa số vẫn có thái độ ngưỡng mộ nhóm trẻ nhưng chấp nhận sự hài lòng của mình. Thái độ là ngưỡng mộ mà không ganh ghét, không muốn nỗ lực theo đuổi, kiểu “mặc kệ” bọn bay, chúng tớ chỉ cần ra trường vào biên chế kiếm việc làm là được rồi!

Các tổ nam lớp KT20A và B vẫn ở KTX B3. Lúc này các nhóm ăn sáng cũng khó khăn, lúc có lúc không. Bắt đầu xuất hiện các quán nước “phố thối” thôn An Đào. Rất nhiều anh em trèo tường, vượt mương nước qua ngồi quán ăn kẹo dồi uống trà cả buổi. Có anh Đình lớp KT20B sau này còn quen lấy được cô vợ người trong thôn này.

Trong các tổ cũng không còn nhiều chuyện như những năm đầu. Thậm chí anh Khang hát mấy bài “tủ” nhất thì mọi người cũng đã thuộc. Bài anh Khang hát “Xa khơi” của Nguyễn Tài Tuệ say sưa thế mà câu “con chuồn còn bay nơi nơi, con giang chiều gọi bạn đường khơi” được bạn Trần Hữu Giang chỉnh lại thành “con Giang chiều nghé ọ mẹ ơi”. Anh Quân đọc thơ bài “Núi Đôi” của Vũ Cao có đoạn “Bảy năm về trước em 17/Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng/Xuân Dục - Đoài Đông hai cánh lúa/Bữa thì anh tới bữa em sang”. Trần Hữu Giang đổi câu cuối thành “Bữa thì anh tới bữa em lui.

Chuyện trêu đùa của anh Học và mọi người với anh Nội cũng không còn vui nhộn nữa. Các chuyện tiếu lâm thời bộ đội của anh Minh, anh Khang, anh Kình, anh Nội, anh Lục, anh Quân dường như cũng đã nghe hết. Chuyện kinh nghiệm sống của anh Ngọc, anh Xuân Trí, anh Chình, anh Lan hồi xưa hay thế mà nay cũng không còn hấp dẫn chúng tôi. Không khí học tập cũng chán nản nhiều, tâm lí học chỉ sao cho đạt điểm không phải thi lại. Đi học trên lớp vẫn rất nghiêm túc nhưng đã không còn các buổi điểm danh tối chủ nhật. Các “thủ tục” của phong trào “quê hương nội trú” mà thầy Trưởng khoa Phan Trọng Đỉnh phát động cũng nhạt nhòa dần vì điều kiện cuộc sống thực tế quá khó khăn. Anh Nguyễn Ngọc Minh cứ chiều chiều đợi anh Bổng, anh Đình qua rủ đi ngồi quán chè nước “phố thối”. Tuyệt nhiên không còn cảnh nô nức đi ôn thi trên giảng đường hay ra vườn thực vật học và truy bài. Cả rèn luyện thể dục buổi sáng quanh sân vận động cũng “tiệt chủng”. Phong trào lớp, đoàn, tổ trong thi đua mất dần không khí tranh luận sôi nổi về chuyên môn. Chỉ còn một số ít cá nhân có chí tiến thủ, các đối tượng Đảng và nhóm học sinh trẻ có thành tích còn duy trì nỗ lực. Ngay cả công tác cán sự các môn học cũng cơ bản chỉ làm cho có.

Chúng tôi thường xuyên phải tranh thủ đi tắm giặt bên ngoài. Anh Khang dành nhiều thời gian đến nhà chị Nghĩa ở Thạch Bàn giúp gia đình bà cụ làm vườn, dọn dẹp nhà cửa và nhiều lần ăn cơm cùng gia đình bà (chỉ không ngủ qua đêm). Tôi cũng nhiều lần đến cùng anh để nhờ tắm giặt mỗi khi trường mất điện, mất nước…

Về công việc học tập chuyên môn,

Năm thứ 4, các môn học lúc này không còn nhiều, chủ yếu các môn trong khoa. Cụ thể lịch học như sau:

Kỳ 1: Học 3 môn thi là Kế hoạch nông nghiệp (90 tiết), Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp (phần 1 - 120 tiết) và Chăn nuôi cơ bản (90 tiết). Trong kì 1 có chuyến đi thực tập giáo trình tại NTQD Mộc Châu 8 tuần (từ tháng 11/1978 đến 1/1979).

Chuyến đi TTGT ở Mộc Châu tôi đã ghi chép chi tiết rồi[6]. Qua chuyến đi đó, chúng tôi đã biết thêm chút ít về tổ chức và quản lý NTQD, về ngành chè, ngành chăn nuôi bò sữa ở một đơn vị quốc doanh trong nông nghiệp có quy mô Xí nghiệp Liên hợp Nông – Công nghiệp. Một số kiến thức môn Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp, nhất là phần chăn nuôi được quan sát thực tế để rõ thêm. Rất tiếc kiến thức Môn học Chăn nuôi cơ bản do cô giáo Nhàn dạy thì không áp dụng được mấy vì nội dung chỉ học 3 nhóm gia súc cơ bản là trâu bò, lợn và gia cầm, không có phần bò sữa. Cuối kì 1, sau khi đi Mộc Châu về thì chúng tôi học thêm mấy tuần nữa là thi.

Kì 2: Các môn học thi gồm Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp (phần 2 - 120 tiết), Tài chính tín dụng xí nghiệp nông nghiệp (90 tiết) và Lịch sử Đảng (60 tiết). Các môn kiểm tra gồm Thú y (30 tiết) và Chính sách đất đai (30 tiết).

Đến thời gian này, các giáo viên chuyên môn trong Khoa Kinh tế Nông nghiệp thì cơ bản chúng tôi đã biết hết các thầy, cô qua giảng dạy hoặc qua các lần thực tập. Thái độ cơ bản là kính trọng, không còn sợ cũng như không ngại gặp các thầy, cô như những năm đầu.

Sau khi cơ bản học xong các môn ở kì 2 năm thứ 4 thì vào cuối tháng 5 chúng tôi được tập trung ôn thi gấp môn Lịch sử Đảng để huy động đi thực tế đột xuất. Môn thi Lịch sử Đảng là môn thi chung toàn Khóa 20 nên tổ chức thi viết sớm, vào ngày 28-5-1979. Ngay sau đó là đi chuyến thực tập (ngoài kế hoạch chương trình) tại Hải Hậu theo yêu cầu đánh giá cơ khí hóa toàn huyện. Tôi không rõ các ngành học khác có phải đi không nhưng 2 lớp KT20 được huy động đến huyện Hải Hậu và Khoa bố trí sinh viên đến đủ 40 HTX toàn huyện. Tại Hải Hậu hồi đó tôi cũng có gặp một số anh em sinh viên và giáo viên ngành trồng trọt (lớp nông hóa thổ nhưỡng[7]). Nghe nói cũng có lớp đi huyện Nam Ninh[8], huyện được mệnh danh là “trái bom cơ khí hóa nông nghiệp” thí điểm toàn quốc.

Sau 1 tháng tìm hiểu cơ khí hóa, chúng tôi về học tiếp và thi, kiểm tra các môn cho đến hết tháng 7-1979. Sau đó có kì nghỉ hè ngắn hơn bình thường và mọi người đến trường gặp giáo viên hướng dẫn để nhận đề tài và địa điểm thực tập tốt nghiệp.

Năm thứ 5 và kì thi tốt nghiệp

Năm thứ 5 chỉ còn thời gian đi thực tập, hết thực tập xong thì về trường để thi tốt nghiệp, kết thúc khóa học. Thời gian thực tập và rút về trường cũng không rõ ràng cho các nhóm. Một số sinh viên được cử tiếp đi thực tập tốt nghiệp tại Hải Hậu. Thầy Nguyễn Văn Quý hướng dẫn tôi và anh Dương Ngọc Đĩnh. Chúng tôi được phân công đến Trạm Máy kéo huyện Hải Hậu để tiếp tục các đề tài về cơ khí hóa nông nghiệp. Trần Hữu Giang (thầy Đinh Văn Hiến hướng dẫn) được cử về xã Hải Đường, Hải Hậu. Ngoài ra còn có anh Nguyễn Văn Tường (Tường Cận) trước học KT19 được cử về xã Hải Phương, Hải Hậu (không rõ ai hướng dẫn). Hồi đó, có anh Thìn lớp CK19 cũng thực tập tại Trạm Máy kéo Hải Hậu, nhưng chúng tôi chỉ ở với anh chừng hơn 1 tháng thì anh về trường để thi tốt nghiệp ra trường.[9] (Sau này tôi cũng có vài lần gặp lại anh Thìn trong các đợt công việc, khi đó anh là cán bộ của Bộ Nông nghiệp). Nhóm đi thực tập ở Hải Hậu từ tháng 9-1979 đến cuối tháng 3-1980 (dịp Tết thì các thầy hướng dẫn đều cho chúng tôi về quê nghỉ mấy ngày).

Từ tháng 4-1980, các nhóm lác đác kéo về trường và được bố trí ở nhà KTX A1 chờ thi. Sinh viên tiếp tục làm việc với giáo viên hướng dẫn để hoàn thiện Báo cáo Khóa luận tốt nghiệp[10]. Các nội dung cuối khóa gồm tổ chức ôn thi 3 môn tốt nghiêp, gồm môn Chính trị, gọi đầy đủ là môn Lí luận Mác Lênin, môn Kĩ thuật nông nghiệp và Bảo vệ Báo cáo khóa luận tốt nghiệp. Từ ngày 29-4 thi môn Chính trị, đến hết ngày 10-5-1980 hoàn thành bảo vệ Báo cáo Khóa luận tốt nghiệp.

Trước khi ra trường còn có mấy ngày học chính trị cuối khóa rồi mọi người về nhà chờ kế hoạch phân công công tác.

Trong năm thứ 5, tôi gặp biến cố đau thương là mẹ tôi mất ngày 15-Giêng năm Canh Thân (dương lịch là ngày 1-3-1980). Sau khi về nghỉ Tết vui vẻ thì từ ngày mồng 4 Tết, mẹ tôi ốm nặng phải đi Bệnh xá theo dõi. Tôi chăm sóc mẹ ốm thấy mẹ cũng đỡ dần, ăn được cơm. Mẹ giục tôi đi kẻo ảnh hưởng đến học tập vì mẹ đã khỏe rồi. Ngày Mồng 8 tôi trở về Hải Hậu để chuẩn bị kết thúc tốt nghiệp. Mẹ tôi mất sau khi tôi đi 1 tuần, nhưng do điều kiện thông tin và đi lại khó khăn nên tôi không biết tin mẹ mất. Khi đi thực tập về đến Hà Nội tôi mới nhận được tin dữ và vội vàng về quê viếng mẹ. Còn nhớ tôi và Giang đi từ Hải Hậu về đến nhà anh trai tôi ở Hà Nội lúc chiều tối mới biết tin này. Sáng hôm sau Giang qua trường sớm, còn tôi ra ga mua vé tàu về quê viếng mẹ. Một mất mát rất đau xót ở những ngày cuối cùng thời gian đại học của tôi.

Các ghi chép ở 2 năm học cuối tôi sẽ cố gắng chi tiết theo một số môn học và những hoạt động còn nhớ được trong thời gian đi thực tế và thực tập tốt nghiệp trong các bài tiếp theo. Hi vọng còn sống lại được những kí ức của bản thân và thời cuộc trong những ngày đáng nhớ cuối thời gian đại học.

Ra trường, số phận chuyển đổi cuộc đời

Chúng tôi ra trường khi đất nước đang khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Đa số các anh chị được huy động đi các đoàn “khoán quản” của Bộ Nông nghiệp về các địa phương phía Bắc. Nhóm anh em trẻ đi học Sĩ quan dự bị cho đến tháng 10-1980, sau đó 7 anh em trong lớp đi bộ đội vào các Quân khu phía Nam. Những chi tiết chuyện đi học Sĩ quan dự bị và nhập ngũ ngày 15-12-1980 tôi cũng đã có ghi chép rất đầy đủ trong blog[11] từ năm 2025.



[1] Hồi đó không có hàng quán bán đồ ăn trên phố như bây giờ. Đa số các buổi lang thang là không ăn gì, có chăng chỉ mua được vài cái kẹo dồi ở quán nước trên hè phố.

[2] Ở phố Hàng Trống ngay bên hồ Hoàn Kiếm.

[3] Hồi đó chưa mở Hoàng Thành Thăng Long, Lăng Bác Hồ chưa xây dựng xong.

[4] Khu Thanh Xuân, nay là phố Trần Phú, gần Học viện An ninh nhân dân.

[5] Chuyện này cũng đáng nhớ lắm. Nhà hàng Khách sạn Phú Gia phố Hàng Trống khi đó vốn là một nơi rất nổi tiếng - nổi tiếng từ thời Pháp cai trị. Thế mà hai sinh viên nghèo vào chỉ đủ tiền gọi món cơm canh.

[7] Hồi đó Khoa Trồng trọt có ngành Nông hóa Thổ nhưỡng, sau này tách ra thành Khoa Quản lý Ruộng đất (từ Khóa 22 hay 23(?).

[8] Huyện Hải Hậu và Nam Ninh khi đó thuộc tỉnh Hà Nam Ninh, nơi trung ương thí điểm phát triển cơ kí hóa nông nghiệp theo tinh thần Nghị quyết ĐH IV của Đảng.

[9] Ngành Cơ khí nông nghiệp học 5 năm nên họ ra trường vào tháng 10 hàng năm.

[10] Tên gọi tùy theo trường, có trường gọi Đề án tốt nghiệp, có trường gọi Báo cáo Tốt nghiệp…

[11] Tôi đã có 14 ghi chép liên quan đến thời gian từ 6-1980 đến 3-1981 khi chúng tôi học Sĩ quan dự bị và đi bộ đội. Tham khảo chi tiết tại mục dưới đây: https://lehuuanhghichep.blogspot.com/search/label/Nh%E1%BB%AFng%20ng%C3%A0y%20%C4%91%E1%BA%A7u%20qu%C3%A2n%20ng%C5%A9

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét