Ở kỳ thứ 2 năm thứ 3 chúng tôi vẫn được học những môn học đã được thiết kế và bổ sung mới trong chương trình đào tạo. Tôi thấy cũng nên chép lại cho hết những ký ức còn vương vấn. Thực chất của môn học này không có nhiều kỷ niệm và cũng không được áp dụng nhiều kiến thức trong công việc của tôi sau này.
1. Học môn Cơ khí nông nghiệp
Tôi nghĩ rằng người ta thiết kế chương trình học môn cơ khí nông nghiệp để kỹ sư kinh tế cần biết kiểu “thập cẩm võ ban”. Năm thứ 3 vào kỳ 2 chúng tôi được học 120 tiết cơ khí nông nghiệp. Môn học bao gồm phần động lực ô tô máy kéo (45 tiết) và phần máy công tác trong nông nghiệp (45 tiết), trong đó có cả mấy tiết điện nông nghiệp. Ngoài ra chúng tôi còn được thực hiện 30 chi tiết.
Thầy giáo kỹ sư Bùi Văn Bốn dạy phần động lực ô tô, máy kéo. Thầy Bốn khoảng 40 tuổi, người Nghệ, cao tầm thước (cỡ 1,65m). Khuôn mặt hơi xương, nhiều chiều dài. Mắt rõ ràng nhìn thẳng thực và nguy hiểm. Thầy nói giọng hơi trúng thưởng nhưng khá nói sưa. Có nhiều chi tiết phải vẽ bằng phấn trên bảng đen được trình bày “Rất cơ khí”: phác thảo có ý, các bánh răng, các bộ phận bên trong như được bổ sung từ một phần của Máy khách. Nói chung thầy vẽ nhanh và khá đẹp, tất nhiên là cân đối. Rõ ràng đây là công việc của một giáo viên có kinh nghiệm trong nghề. Hồi đó chúng tôi nghe nói thầy đã được đi Đức tu nghiệp, nhưng hãy luận luận PTS của thầy chưa được bảo vệ vì có chuyện gì đó liên quan đến tài liệu sử dụng cần được bảo mật chưa bảo đảm bổ sung đúng (?) Tuy nhiên chúng tôi chủ yếu quan tâm đến nội dung học và điều này, không có điều kiện chú ý đến môn học chuyên sâu của học viên, nhất là các học viên khoa học bên ngoài.
Tôi thấy phần thầy dạy chủ yếu đi sâu động cơ DT-75 - một động cơ máy kéo bánh xích của Liên Xô nổi tiếng thời đó mới được nhập vào Việt Nam. Theo những gì tôi được nghe, thầy Bốn nói về động cơ DT-75 như một sự hoàn mỹ về những ưu việt công nghệ. Vì không có đối tượng so sánh nên chúng tôi chấp nhận điều đó như một sự thật thực sự được đặc ân “lưu ái hiểu biết”.
Những tiết đầu tiên dạy về động cơ đốt trong 2 thì, 4 thì . Đại loại là nguyên tố hoạt động của các loại thiết bị cơ khí, cam trục, van đóng khí vào, khí cụ ra, kỳ tích nổ có kích thích nhờ bugi đánh lửa… Nhờ đó, quay xẹp để tạo ra công suất cho các hoạt động như chuyển động trên mặt đất, hoạt động của các máy công tác theo các mục đích sản xuất sản phẩm khác nhau.
Một điều chắc chắn tôi nhớ lâu từ bài
giảng của thầy Bốn là khi dùng động cơ trong ô tô máy kéo, người ta chế ra bộ
li hợp (còn được gọi là côn) để nối hoặc ngắt kết nối giữa động cơ với phần
chuyển động qua các bánh xe. Bộ li hợp giúp người lái khởi động, chuyển số và dừng
xe êm ái bằng cách kết nối và tách rời trục khuỷu động cơ khỏi hệ thống truyền
động. Vai trò chính của li hợp khi chuyển số là ngắt truyền lực tạm thời để
chuyển số dễ dàng. Còn khi muốn dừng xe, bộ li hợp tách động cơ khỏi bộ phần
truyền động, khi đó xe dừng mà động cơ vẫn hoạt động.
Rồi thầy nói về người ta đã chế tạo ra cái
vi sai chuyển hướng như là sự phát minh rất đặc biệt để khi vận động
quay vòng (không đi thẳng). Vi sai chuyển hướng trong ô tô là bộ phận
truyền động giúp các bánh xe quay với tốc độ khác nhau khi vào cua hoặc đi trên
địa hình không bằng phẳng mà xe vẫn êm ái và ổn định. Nguyên lý hoạt động:
nếu đi thẳng thì bánh xe quay cùng tốc độ, bộ vi sai phân phối lực đều. Khi vào
cua thì bánh xe ngoài cần đi quãng đường dài hơn nên quay nhanh hơn bánh xe
trong. Bộ vi sai cho phép điều chỉnh tốc độ giữa hai bánh để xe vào cua êm ái,
không bị trượt.
Trong phần dạy của thầy Bốn, tôi thấy
có 2 buổi (6 tiết) thầy Quế dạy. Phần thầy Quế dạy liên quan đến bộ truyền động
của ô tô máy kéo từ động cơ đến các bánh xe. Thầy Quế tốt nghiệp CK16 của ĐHNN I,
đang tập sự chuyên môn nên đi giảng các khoa ngoài ngành là một kiểu thử việc.
Phần mô tả bài giảng được thầy Quế vẽ minh họa bằng tay khá nhanh và đẹp như thầy
Bốn.
Phần máy công tác trong nông nghiệp do
thầy Thái dạy. Thầy Thái tốt nghiệp CK15 ĐHNN I, bắt đầu hết tập sự và được phân
công đi dạy. Thầy Thái giọng nói có âm khá rộng nhưng hơi ề à kiểu nông dân chứ
không có lối nói dứt khoát như thầy Bốn. Nhìn chung thầy Thái là giáo viên trẻ nhưng
nắm bài khá vững, trình bày sáng sủa các minh họa. Tất nhiên cách diễn đạt dẫn
người học vào bài còn nhiều hạn chế so với các giảng viên có kinh nghiệm.
Các loại máy thầy Thái dạy liên quan đến
máy làm đất (cày, lồng, xới), máy bơm tưới (trục đứng, trục ngang), máy thu hoạch
(khoai tây, gặt đập liên hợp lúa mì), máy ấp trứng... Có một số tiết phần điện
nông nghiệp được thầy Thái mô tả là có các trục ở 2 đầu bờ để kéo các máy thực
hành nông nghiệp trên ruộng (bón phân, làm cỏ…).
Mỗi loại máy đều được thầy Thái mô tả cấu
tạo, nguyên lý hoạt động kết hợp với động cơ trong quá trình thực hiện các nhiệm
vụ nông nghiệp. Các phần dạy của thầy cũng có nhiều hình ảnh minh họa khá đẹp.
Nhiều hình ảnh được vẽ sẵn trên giấy cỡ A0 được treo cho lớp nhìn khi giảng bài.
Thường các minh họa kiểu ấy chúng tôi không phải vẽ vào vở mà chỉ nhìn cho biết.
Học nhiều loại máy nhưng nói chung khó nhớ vì ngoài máy bơm, bánh lồng đất thì
các loại máy khác bản thân tôi chưa từng thấy nên không hình dung được nhiều.
Xưởng cơ khí và phần thực hành môn học
Xưởng cơ khí là một khu gồm nhiều nhà chuyên
dụng được xây để các máy móc do Liên Xô giúp xây dựng. Trừ một vài loại máy
bơm, bánh lồng do Việt Nam chế tạo còn phần lớn máy móc ở đây được chuyển từ
Liên Xô qua. Xưởng đặt trong một khu đất rộng khoảng vài ha, được thiết kế
thành những khối nhà có mái cao, rộng rãi. Các nhà để máy vừa như là ga-ra lại vừa
như nơi trình diễn hướng dẫn nên khá đẹp và tiện lợi.
Phần hướng dẫn thực hành do thầy kĩ
sư Nghiễn phụ trách. Thầy Nghiễn cho chúng tôi đi xem các máy cụ thể
có trong xưởng cơ khí. Thực hành (30 tiết) chỉ là được dẫn đi xem, nghe giới
thiệu sơ qua các cỗ máy đứng im, ngắm nghía một lát rồi đi (chứ không được như
sinh viên cơ khí thực hành trực tiếp lái máy kéo trên đồng ruộng).
Trong các buổi thực hành, mỗi buổi chừng
hơn 3 giờ (tính giờ như một buổi 5 tiết). Khi đến một gian nhà chứa máy, đầu
tiên thầy Nghiễn giới thiệu loại máy, công dụng, cấu tạo, cách hoạt động. Chúng
tôi nhìn, nghe, ghi chép và… hết. Rất nhiều người thậm chí không ghi chép gì vì
có thể không biết cách ghi hoặc có thể không ghi kịp vì thầy thì nói
nhanh, còn người thực hành thì lố nhố cao thấp đứng quanh, kẻ thấy, người không
thấy. Cứ thế qua một số buổi, chúng tôi xong phần thực hành.
Có một vài ấn tượng về phần thực hành:
một số loại máy có lẽ mấy chục năm chưa được sử dụng nay đã cũ nát, bụi và mạng
nhện chăng đầy phòng máy. Tôi nhớ nhất là máy liên hợp gặt đập, máy thu hoạch
khoai tây và máy ấp trứng.
Gian phòng chứa máy liên hợp gặt đập
khá cao vì có cái ống cao tít phía trên được thầy Nghiễn nói là ống dẫn hạt lúa
mì được dùng băng chuyền xoắn đưa lên để từ đó đổ ra thùng xe khi đến bờ hoặc
khi xe đi cùng máy liên hợp trên cánh đồng. Thầy nói đây là máy thu hoạch lúa
mì trên cánh đồng nông trang bên Liên Xô rộng hàng trăm ha chứ không phải máy
thu hoạch lúa ở Việt Nam. Nguyên tắc hoạt động là có bộ phận phía trước quay
tròn “vơ” ngọn lúa mì vào trong cho bộ phận cắt (kiểu tông đơ), sau đó được đưa
vào bên trong buồng đập tách rơm, thu hạt, quạt gió bay bụi và trấu để đưa hạt vào
một buồng chứa. Khi đổ hạt ra thì đưa lên cái ống cao như cái vòi phun hạt ra
thùng xe tải. Chúng tôi nhìn như một sự mơ ước và nghĩ không biết đến bao giờ mới
áp dụng ở Việt Nam.
Máy thu hoạch khoai tây thì khá đơn giản:
một hàng các lưỡi xới đi ngầm dưới luống khoai tây để hất củ lên một cái sàng.
Sàng rung lắc để đất rơi xuống, củ trên sàng sẽ lăn vào bên trong thùng đựng.
Cái máy này cũng viễn vông lắm, có lẽ còn lâu mới cần cho nông dân Việt Nam vì
khi đó (1978) khoai lang là chính, chúng tôi biết chỉ rất ít nơi trồng khoai
tây ở Việt Nam.
Máy ấp trứng khá gọn, bên ngoài có nhiều
nút tín hiệu thể hiện nhiệt độ và các đèn báo ở cái mặt cửa rộng bằng sắt tráng
men màu xanh lam nhạt khá đẹp. Mở cửa ra thấy bên trong có rất nhiều khay để trứng
xếp theo hàng. Thầy Nghiễn nói một số cơ cấu được chế tạo để giữ nhiệt độ, độ ẩm
sao cho giống như dưới bụng gà mái ấp. Lại có hệ thống điều chỉnh sự lăn
nghiêng trứng trong quá trình ấp, mô phỏng gà mẹ lấy chân và mỏ “đảo trứng” cho
đều độ ấm. Lần đầu tiên tôi biết chuyện này (hồi đó chưa học môn chăn nuôi
nào). Hồi nhỏ ở quê chỉ biết gà mái ấp thì bọn trẻ có khi luồn tay vào bụng gà ấp
để biết độ nóng chứ chưa từng biết gà mái ấp biết “đảo trứng”.
Môn học này thi vấn đáp ngày 29-7-1978.
Tôi cũng không còn nhớ gì về cách thi, chỉ biết mặc dù được giới hạn nhưng các
câu hỏi thi cũng khá nhiều. Mỗi đề thi có 2 câu về 2 phần đã học. Các thầy hỏi
thi cũng khá nhanh vì cơ bản chỉ hỏi cấu tạo, nguyên tắc hoạt động. Tôi cũng học
kĩ nên đạt 4/5 điểm.
Vài kỉ niệm về môn cơ khí nông nghiệp
Chuyện anh Hợp kể: Sau này (khi
tôi đã về dạy ở trường) tôi được nghe anh Hợp (ở Phòng Tài vụ) kể rằng ở Khoa Cơ
khí có một thầy quê miền Trung (Quảng Ngãi hay Quảng Nam gì đó) tên Võ Tấn Thặng.
Thầy giới thiệu tên thầy là Thẹng (đọc kiểu giọng Quảng Nam). Thầy Thặng
hướng dẫn thực hành máy nào đó có nói về cái thiết bị chống “kẹt” máy. Thầy đọc
từ kẹt kiểu giọng Quảng Nam làm nhiều người cứ tưởng… như nói tục.
Chuyện học lái xe: Năm 2003 tôi
đi học lái xe ô tô ở Trung tâm lái xe của ĐHNN I ở phía sau Xưởng Cơ khí. Tất
nhiên khi sát hạch thì phải lên Trung tâm giám định ở Sài Đồng thi lấy bằng
lái. Khi ngồi lái mới biết tác dụng cái côn (li hợp) xe và bộ phận vi
sai hồi được nghe thầy Bốn dạy. Người học lái làm động tác cắt côn, gài
côn khi xuất phát xe không quen phối hợp với ga nên xe cứ bị tắt máy hoặc
giật cục. Khi đó mới hiểu rõ tác dụng của cái li hợp xe. Rồi hiểu thêm về bộ phận
vi sai: rõ ràng khi vào cua quành xe thì bánh xe bên trong cua có quãng
đường ngắn hơn bánh xe bên kia nhiều. Cái vi sai có tác dụng giúp người
lái cảm thấy xe rất ổn định.
Hồi đi bộ đội, tôi được cử đi công tác ở các nông trường quân đội. Khi đó có rất nhiều xe máy ở nông trường được trang bị mà không sử dụng mấy, mỗi năm chỉ vài lần cày đất rồi bỏ không mưa nắng dãi dầu trên bờ kênh. Bọn lính trẻ chưa hề được học hành gì nhưng đều biết lái chạy vài vòng trên đồng rộng mênh mông làm nhiệm vụ bắt chuột đồng cải thiện đời sống. Khi đêm vắng, lính lấy máy cày bật đèn sáng chạy vòng quanh một khu cỏ rộng rồi sau đó lái vòng dần vào bên trong. Bọn chuột thấy tiếng động chạy ra gặp cỏ rạp xuống (vì bánh xe) nên rúc ngược vào trong. Cứ thế đến khi vòng xe nhỏ lại, chuột chạy vọt ra gặp ánh đèn pha sáng chói mắt nên cứ đứng nhìn. Thế là các chú lính “nhặt” chúng về cải thiện. Chuyện nay tôi đã ghi chép ở bài “Các chuyến đi công tác Kiên Giang (kì 2)”[1]. Thì ra máy cày còn có một tác dụng được các chú lính trẻ phát hiện và khai thác. Công dụng này tôi không được dạy hồi đi học.
2. Học môn Toán xác suất (45 tiết)
Toán xác suất do thầy PTS Tô Cẩm Tú
dạy, Thầy là PTS toán đầu tiên của trường vừa đi học Liên Xô về, chúng tôi còn
nghe nói thầy Tú là PTS toán xác suất đầu tiên của Việt Nam. Lúc đầu nghe nói
được học môn này cũng thấy khoái vì được nghe giảng từ một thầy có học vị PTS vừa
tốt nghiệp từ Liên Xô về. Ban đầu chương trình dự kiến là học môn Bảo quản
chế biến nông sản nhưng sau đó được thay thế bằng môn Toán xác suất (cần
cho nghề kĩ sư kinh tế hơn chăng?). Nghe nói toán xác suất là môn học mới, rất
hay và khó. Lúc này chúng tôi đã vào năm thứ 3 nên tư duy toán cũng suy giảm,
nhưng học để biết thêm về môn toán. Đáng lẽ môn này học từ năm thứ 2 nhưng khi
đó chưa có giáo viên dạy.
Thầy Tô Cẩm Tú hiền hòa, nói chậm, thậm
chí diễn đạt tiếng Việt có vẻ hơi khó, chắc thầy vừa có mấy năm toàn dùng tiếng
Nga. Thầy mô tả toán xác suất là loại toán rất khó và cũng rất khó vận dụng
trong nông nghiệp, nhưng rất quan trọng
vì nhờ nó để định lượng những cơ hội và nguy cơ trong các dự báo kế hoạch sản
xuất rất tốt.
Nội dung dạy thì không nhiều lắm, thầy
Tú chỉ có giới thiệu 2 phép tính xác suất (cộng và nhân). Về các biến cố nay
tôi chỉ còn nhớ lơ mơ là có biến độc lập và biến xung khắc. Đa số các ví
dụ của thầy là gieo con xúc xắc hoặc lấy ngẫu nhiên các viên bi màu. Không thấy
ví dụ nào về hiện tượng khí hậu nông nghiệp hay thời tiết. Chắc là thầy cũng
chưa kịp đưa vào bài giảng những vấn đề của nông nghiệp vì thầy nói dạy cho
chúng tôi là lớp đầu tiên bậc đại học.
Thầy luôn nói học xác suất rất khó. Có
đôi khi thầy đang giảng thì dừng lại và nói phần này khó, thôi ta để lại. Có
khi giảng một hồi thì thầy nói, tôi nhầm, nội dung này dùng để thi nghiên cứu
sinh… Đại loại tinh thần học của chúng tôi cơ bản là mong muốn tiếp thu, nhưng
thái độ dạy của thầy cho rằng nội dung toán rất khó và nếu có dạy thì chúng tôi
cũng không biết được (có gì đó như kiểu hơi coi thường người nghe hay thầy nghĩ
có hiểu được thì chúng tôi cũng chẳng biết vận dụng để làm gì).
Khi ôn tập tôi biết thêm về cái khó toán
xác suất: các sự kiện trong thực tế xảy ra các biến cố xác suất. Thuật ngữ để
phân biệt là hoặc/và trong xác định các biến số xác suất. Nếu là hoặc
nghĩa là cái này xảy ra thì cái kia có thể không xảy ra. Còn nếu là và
thì cái này xảy ra thì cái kia cũng có thể xảy ra. Còn tần suất hay số % khả
năng xảy ra biến cố chính là xác suất cần tìm (hay cần đo) để biết điều kiện đó
thì có bao nhiêu khả năng xảy ra…
Ngay cả đến bữa kiểm tra thầy cũng nói
sẽ kiểm tra theo kiểu chọn mẫu ngẫu nhiên: tức là mỗi lớp chọn ra 10 người làm
bài kiểm tra. Tôi và nhiều người trong tổ 1 được chọn làm người kiểm tra môn của
thầy. Đề kiểm tra thì cũng chỉ là áp dụng công thức cộng xác suất, y như ví dụ
thầy đã cho nên ai được chọn đi kiểm tra cũng làm được bài – suy ra cả lớp
làm được bài!
Tóm lại là có học nhưng không biết được
gì nhiều về tinh thần và nội dung của môn học. Có một trải nghiệm duy nhất
chúng tôi có được: học từ vị PTS đầu tiên về toán vừa tốt nghiệp từ Liên Xô
về.
Học xong môn này vừa thấy ngại ngùng vì một chuyện quá khó người ta đưa vào dạy cho chúng tôi như một thứ xa xỉ, nhưng lại như thấy hổ thẹn về cách mình vừa tham gia thi cho mình mà như đi thi hộ, thi mà không có cảm giác cuộc thi chỉ thấy như thủ tục làm cho xong chuyện. Trách ai đây?
3. Học môn Thực hành công cụ tính (30
tiết)
Thực hành công cụ tính do cô kĩ sư
kinh tế nông nghiệp Phạm Thị Mỹ Dung dạy. Cô Phạm Thị Mỹ Dung tốt nghiệp Khóa
10 ngành Kinh tế nông nghiệp của ĐHNN I. Cô đã đi công tác ở thực tế được mấy
năm, nay mới về trường và dạy môn học này lần đầu tiên. Chúng tôi được học cô
giáo mới dạy lần đầu, môn học mới thiết kế đưa vào chương trình. Bố trí học
theo kiểu nhóm thực hành ở một phòng nhỏ tầng 3 nhà 4 tầng ngay cạnh phòng kho
để máy cho tiện mượn công cụ thực hành. Lớp KT20A học riêng với lớp KT20B.
Cô Dung người thấp (chưa đến 1,50m), hơi
mập, rất hiền lành. Chồng cô là thầy Đinh Văn Hiến khi đó đang là giáo viên Bộ
môn Tổ chức QLXN. Cô được tuyển dụng làm giáo viên sau một số năm đi chỉ đạo sản
xuất thực tế như là cơ hội hợp lý hóa gia đình. Cái khó khi chúng tôi
nghe giảng là giọng nói và cách diễn đạt của cô. Cô nói giọng xứ Nghệ khá nặng khó
nghe, nhưng diễn đạt thuật ngữ công cụ tính có cảm giác toàn từ ngữ không phổ
biến lắm trong thực tế nên cô nói không trơn tru lắm. Nào là phần nguyên, phần
số chính xác, cơ số, phần tiền tố trước một số thập phân… trong logarit. Cũng
may là khi thực hiện hướng dẫn thì mọi người đều làm được.
Chúng tôi được học và thực hành 2 loại:
thước tính logarit và máy NISA của Tiệp Khắc. Sau đó còn được giới thiệu thêm về
máy FACIT của Thụy Điển, nhưng không được thực hành vì quá ít máy nên chỉ được
nhìn qua cho biết.
Về thước tính: chúng tôi được
mượn mỗi người 1 thước tính. Thước còn rất mới, có cả hộp đựng. Loại học là thước trượt tuyến
tính:
dạng thanh trượt nằm giữa hai thanh cố định. Khi thực hiện thì rút thước tính
dọc theo khe rút và so sánh các con số trên thanh trượt với rất nhiều hàng vạch
được đánh số sẵn trên phần thanh cố định.
Thước tính là thiết bị tính toán cơ học analog sử dụng thang đo logarit để thực hiện phép nhân, chia, lũy thừa, khai căn và lượng giác bằng cách cộng/trừ các độ dài trên thang đo, thay thế cho phép tính số học phức tạp. Thước logarit nghe nói được phát minh từ đầu thế kỷ 17, được các kỹ sư sử dụng rộng rãi trước khi máy tính điện tử ra đời. Các tính toán lượng giác (sin, cos, tan) được áp dụng phổ biến trong tính toán kỹ thuật, khoa học, hàng hải, hàng không trước khi máy tính điện tử phổ biến. Nói chung là có thể làm được nhiều việc nhưng chúng tôi khi đó không biết học xong có dùng được gì cho công việc không.
![]() |
| Thước tính logarit |
Máy tính quay tay NISA của Tiệp Khắc là loại máy tính cơ khí phổ biến ở Việt Nam những năm 1970, dùng để thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân, chia thủ công hỗ trợ cho kế toán, thống kê. Cơ chế hoạt động dựa trên bánh răng và thanh trượt (răng cưa) để thực hiện các phép tính. Giao diện có các núm để nhập số, các cửa sổ nhỏ để hiển thị kết quả phép tính (tổng, hiệu, tích, thương).
Máy tính NISA khi đó do người ta viện trợ cho Việt Nam trong chiến tranh. Đa số máy đã dùng, han rỉ, phần lớn hư hỏng. Ở trong kho người ta lấy cái nọ lắp cho cái kia, gắn lại các đầu phím bấm, lau chùi các thanh bấm, quay tay. Khi bấm xong một hàng số thì quay một vòng để máy nhận, sau đó gạt cần sang phép tính cần dùng (cộng, trừ, nhân, chia) và bấm tiếp hàng số thứ 2. Quay một vòng để máy sẽ báo kết quả.
![]() |
| Máy NISA |
Máy FACIT thì cao cấp hơn:
dùng điện để thay cho quay tay và có hàng chữ số kết quả hiện trên một vạch
kính. Vào khoảng năm 1970, FACIT là một thương
hiệu Thụy Điển danh tiếng với các sản phẩm cơ khí chính xác, đặc biệt là máy
tính cơ và sau đó là máy tính điện tử, máy tính bỏ túi (calculator). Dù không được
thực hành nhưng chúng tôi thấy cũng tương tự như NISA: cũng bấm số, chọn phép tính
và bấm nút thực hiện để xem kết quả. Có lẽ chỉ khác NISA là thay quay tay bằng ấn
nút điện để thực hiện.
![]() |
| Máy FACIT |
*
* *
Đối với tôi, 3 môn học này không có nhiều
tác dụng lắm trong công việc. Duy có môn Toán xác suất thì tôi phải học thêm sau
này để có kiến thức dạy các môn về đầu tư, nhất là môn Quản trị danh mục đầu
tư chứng khoán (chương trình cao học). Trong các ngành kinh doanh bảo hiểm,
người ta cũng sử dụng rất mạnh xác suất khi dự báo đầu tư kinh doanh. Còn môn
Thực hành công cụ tính thì chỉ như được biết thêm một công cụ mà thế giới đã có,
nhưng khi máy tính tay (calculator) ra đời thì các thứ chúng tôi được học coi
như đã cáo chung. Tất nhiên sau này máy vi tính làm được tất cả các công việc tính
toán thật dễ dàng.
Khi đọc các ghi chép của tôi về các môn
học ở ĐHNN I, bạn Giang cho rằng môn Cơ khí nông nghiệp đối với Giang là rất bổ
ích vì Giang sau này được học thêm về ngành máy móc thi công trong ngành giao
thông. Nay tôi ghi chép lại những kí ức về môn học Cơ khí nông nghiệp, mong bạn
có thêm kỉ niệm một thời và nếu có gì bổ sung thì nói giùm nhé.
[1] Tham khảo thêm tại https://lehuuanhghichep.blogspot.com/2025/03/cac-chuyen-i-cong-tac-tai-kien-giang-ki_23.html



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét