Học môn Kế toán nông nghiệp
Môn học được thiết kế 120 tiết, học ở
kì 2 năm học 1978-1979 (năm thứ 3). Giáo viên giảng dạy là PTS[1]
Nguyễn Quang Thoại.
Thầy Thoại đi học ở Liên Xô từ thời thiếu
sinh quân, sau đó học tiếp lên đại học. Thầy về trường ĐHNN I làm cán bộ giảng
dạy khoảng năm 1965-1966 gì đó, sau đó lại được cử đi học nghiên cứu sinh khoảng
năm 1968-1971, bảo vệ luận án PTS khoảng năm 1971.
Khi đó chúng tôi được học thầy Thoại là
vinh dự lắm vì trong các môn học chuyên ngành chỉ mới có thầy là PTS nước ngoài
về. Thầy quê Nga Sơn, Thanh Hóa, giọng nói rất rõ ngữ âm xứ Thanh. Thầy cao tầm
thước, ăn mặc cũng thấy bình dân chứ không sang trọng (mặc dù thầy khi đó có
nhiều quần áo đẹp). Lối giảng bài của thầy rất tự nhiên, hay cười một cách thoải
mái với những câu chuyện của thầy về những năm tháng học ở Liên Xô. Thầy có cả
chục năm ở Liên Xô nên những năm chiến tranh chống Mỹ thầy gần như không được chứng
kiến. Các buổi giảng của thầy tôi cảm nhận được là không gì đặc biệt về
bài giảng, cách viết bảng hay nội dung chuyên môn. Một lối giảng khá tự do,
phóng túng, tùy hứng, hết giờ mà vẫn không kết thúc được các phần, các mục. Hôm
sau vào mục lại loạn cả lên vì không biết hôm trước đã dừng ở đâu. Sau một hồi tìm
ra mục nối tiếp thì thầy cười một cách tự nhiên thoải mái, như không có vấn đề
gì xảy ra.
Thầy đến lớp mà gần như không biết tên
ai trong lớp. Nghe buổi giảng của thầy chúng tôi không rõ thầy đang dẫn chúng
tôi đi đâu: không hề có mục dẫn đề, các nội dung thì miên man, nhiều khi ngồi
nghe giảng mà tôi không cảm thấy khoái vì cười, vì không phải ghi chép mà lại
cứ thấy lo lo cho thầy vì giảng thế làm thế nào thầy làm sao chốt được vấn đề cần
nói?
Hồi đó, chúng tôi được học Môn Kế toán
nông nghiệp có 3 nội dung rõ ràng: Phần I, Nguyên lí kế toán (30 tiết),
Phần II, Kế toán HTX (45 tiết) và Phần III, Kế toán NTQD (45 tiết).
Các nội dung nguyên lí còn nhớ lơ mơ
liên quan đến vốn – nguồn, cấu trúc một tài khoản kế toán gồm bên Nợ, bên Có,
(số phát sinh đầu kì, trong kì, số phát sinh cuối kì). Bảng cân đối số phát
sinh, loại tài khoản có số dư đầu kì bên Nợ hay bên Có…
Khi đó chế độ sổ sách kế toán theo hình
thức kế toán nhật kí chứng từ. Phần Kế toán HTX là chế độ hạch toán 43
tài khoản ứng với mô hình quy mô HTX toàn xã. Phần Kế toán NTQD là chế độ hạch
toán 64 tài khoản có các quy định kế toán ứng với mô hình Nông trường, trạm trại
nông nghiệp. Chúng tôi nhớ rất nhanh hệ thống tài khoản theo hình thức trên: Tài
khoản số hiệu 01 là TSCĐ, 02 là Khấu hao TSCĐ, 03 Sửa chữa lớn TSCĐ, 05 là Nguyên
vật liệu, 09 là Súc vật con và súc vật nuôi béo, 12 là Vật rẻ tiền mau hỏng, 50
là Tiền mặt, 51 là Tiền gửi ngân hàng, 25 là Chi phí sản xuất chung, 26 là Chi
phí quản lý… cho đến số hiệu 99 là Lãi, lỗ.
Thầy giảng phần Nguyên lí kế toán khá
nhanh (khoảng hơn 20 tiết) và không có bài tập hay yêu cầu thực hành gì. Phần Kế
toán HTX dài lê thê vì giảng để phục vụ đi thực tập HTX. Khi đi thực tập về còn
hơn 2 tuần thầy dồn cho Phần Kế toán NTQD, nhưng chắc chỉ còn mươi tiết vì thầy
nói Kế toán NTQD cơ bản như Kế toán HTX.
Nội dung mà thầy “say sưa nhất”
tôi nghĩ là thầy giảng về các tài khoản chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm nông nghiệp. Phần giảng này thầy có vẻ như thầy quên hết các công việc như
xác định các tài khoản liên quan, xác định chi phí phát sinh, kết chuyển số dư…
Thầy nói khá sâu về các thành phần chi phí trong giá thành sản phẩm nông nghiệp,
các vấn đề xác định chi phí trong các bộ phận phức tạp cần phân bổ như khấu hao
TSCĐ, chi phí sản xuất chung, chi phí quản lý, chi phí chờ phân bổ, xác định sản
phẩm hỏng trong nông nghiệp… Và tất nhiên chuyện “cháy giáo án” thường xuyên xảy
ra để câu chuyện trên bài giảng cứ nhảy từ “trong lề” ra “ngoài lề”
rồi lại vào “trong lề” miên man hoài. Giá mà có một giáo trình thì lối
giảng như thế rất cần trong thể hiện tinh thần “tự do đại học” để đưa người học
đến các nội dung mở rộng học thuật trong tự tìm hiểu, học hỏi. Nhưng tài liệu
giảng dạy chỉ là một danh mục các tài khoản theo chế độ kế toán hiện hành (43
và 64 tài khoản). Người học thực sự khó nắm vững nguyên tắc xác định đối ứng
tài khoản, định khoản ghi chép các con số phát sinh… Chúng tôi đem chuyện này nói
với các anh chị KT18 sắp ra trường thì các anh chị ấy cũng nói hiểu về kế toán
còn lơ mơ lắm. Nếu ai được học thầy Trương Xuân Ngô[2]
thì làm được kế toán ngay khi ra trường, con học thầy Thoại thì có lẽ hợp với
việc nghiên cứu chính sách, chế độ kế toán.
Học hết phần Kế toán HTX là chúng tôi
đi thực tập giáo trình. Chuyện đi thực tập giáo trình được thầy hướng dẫn là nắm
được các loại sổ sách kế toán trong HTX, các biểu mẫu báo cáo kế toán.
Sau khi đi thực tập về, toàn bộ phần III,
Kế toán NTQD chế độ 64 tài khoản được học nhanh trong mấy buổi, gần như
quá mất cân đối trong cơ cấu thời gian dạy mà thầy Thoại bố trí lên lớp. Thầy
nói các nội dung kế toán NTQD sẽ được thực tập năm thứ 4 khi chúng tôi được đi
NTQD Mộc Châu. Nhưng sau này môn học đã thi xong và nội dung hướng dẫn thực tập
ở Mộc Châu do Bộ môn Tổ chức QLXN xây dựng nên coi như chẳng được tìm hiểu gì về
kế toán NTQD.
Môn này thi viết ngày 22-7-1978, tôi đạt
được điểm 5/5. Có lẽ cũng nhiều người được đạt điểm 5/5 vì đề thi rất dễ và ngắn,
thời gian thi tới 90 phút nhưng nội dung chỉ làm trong mươi phút là xong. Cả lớp
nộp bài ra về trước khi hết giờ quy định.
Chuyện được đọc luận án PTS của thầy
Thoại tại Thư viện Quốc gia
Sau này tôi được đọc luận án PTS của thầy
ở Thư viện Quốc gia (số 31, Phố Tràng Thi, Hà Nội). Theo quy định, tất cả các
luận án của NCS đều phải nộp một bản chính tại Thư viện Quốc gia. Riêng các luận
án bảo vệ nước ngoài thì còn phải thêm 1 bản tóm tắt được dịch ra tiếng Việt[3].
Năm 1992, tôi dành gần 1 năm để đọc tài liệu tại Thư viện Quốc gia phục vụ công
việc nghiên cứu của tôi. Tôi đã tìm và mượn được toàn bộ luận án PTS của thầy
Thoại (bản tiếng Nga). Lúc này tôi đọc được tiếng Nga chuyên ngành, nhất là các
nội dung chuyên môn kế toán tài chính nên cơ bản hiểu được nội dung luận án của
thầy Thoại. Luận án thầy nghiên cứu có tên là “Hạch toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm lúa tại các Nông trang tập thể Vùng[4]…
Liên Bang Nga, CCCP”. Khi thầy Thoại bảo vệ thành công luận án về kế toán về
nước thì thầy là PTS Kế toán đầu tiên của Việt Nam được bảo vệ ở Liên
Xô. Thảo nào trong các nội dung bài giảng cho chúng tôi, thầy Thoại có điều kiện
để phát triển hết các tư tưởng về hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm nông nghiệp.
[1] Thầy Thoại là PTS Kế toán đầu tiên của Việt Nam học ở
Liên Xô về nước. Thầy là Phó Chủ nhiệm Khoa Kinh tế nông nghiệp trước khi về
hưu, sau này thầy chuyển về sống ở quê Nga Sơn Thanh Hóa. Năm thầy mất, tôi và một
số cán bộ trong trường đã về viếng tại quê thầy (khoảng năm 2009-1010(?).
[2] Thầy Trương Xuân Ngô dạy Kế toán, khi chúng tôi học thầy
đang chuẩn bị chuyển vào trường Cán bộ quản lý nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp tại
Thành phố HCM (số 45 Đinh Tiên Hoàng). Sau nay thầy là Hiệu trưởng trường này
trước khi về hưu.
[3] Quy định tất cả các luận án PTS (nay gọi là TS) đều phải
nộp luận án cho Thư viện Quốc gia.
[4] Hình như vùng Krasnodar (hay còn gọi
là Kuban), đây là vùng lúa chủ yếu của Liên bang Nga (trong Liên Xô trước
đây) (gần biển Đen).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét