Thứ Hai, tháng 1 26, 2026

Năm thứ 3 - Kết thúc lao động hướng nghiệp, rèn nghề và lao động công ích


1. Nhắc lại về lao động hướng nghiệp, rèn nghề

Như tôi đã ghi chép ở các bài trước, chúng tôi có 2 tháng lao động “hướng nghiệp” năm thứ nhất. Từ năm thứ 2 và thứ 3, mỗi kì có 1 tuần lao động “rèn nghề” – vị chi là một khóa học chúng tôi có 3 tháng đi lao động.

Lao động “hướng nghiệp” theo nghĩa là làm quen nghề nghiệp. Mặc dù toàn những công việc mà chúng tôi là con em nông dân nên không xa lạ gì nhưng quan trọng là nhờ đó chúng tôi quen thân nhau ở mức quan hệ xã hội “dân dã”, qua đó biết thêm được công việc lao động nông nghiệp ở nhiều vùng quê, củng cố thêm tình bạn bè. Ngoài ra như tôi đã kể là những ngày đi lao động hướng nghiệp đều được cấp thêm phần bánh mỳ “bồi dưỡng” nên bớt cái đói trong những tháng đầu tiên xa nhà.

Lao động “rèn nghề” nghĩa là rèn luyện nghề nghiệp. Thuật ngữ “rèn” còn mang nghĩa “tôi luyện” trong nghề (nhưng thực tế chỉ là phổ thông). Với con em nông dân như tôi thì công việc lao động chưa ăn thua gì so với hồi lao động ở quê nhà. Chỉ là chuyện giải quyết thời vụ những mùa cấy hái ở Trại Thực tập thí nghiệm nhưng chúng tôi đều cảm thấy thân thiết nhau hơn trong lao động. Chẳng hạn, chuyện bị mất trộm dép hôm đi lao động đã được lớp quan tâm lo lắng để không bị mất thêm và còn tính chuyện “mồi” để rình bắt nếu bọn xấu còn dám trộm lần nữa.

Riêng chuyện lao động năm thứ 3 là một kỉ niệm đáng nhớ. Lúc này thầy Chủ nhiệm khoa Phan Trọng Đỉnh đã cho các lớp nhận khoán. Chỉ là giao mỗi lớp một ruộng, giao mạ để cấy, tự lo làm cỏ, gặt đập, phơi và nộp thóc. Nhờ đó lớp đã phân công nhau tự quản một phần và kết quả cũng chỉ là trước khi về hè được bữa tổng kết liên hoan chung cả lớp rất vui vẻ.

Nhân nhắc đến thầy Đỉnh, tôi ghi thêm chuyện có lần nói về “thửa ruộng 4000 năm”“cánh đồng 20 năm” (HTX cơ bản năm 1960). “Thửa ruộng 4000 năm” là mỗi hộ được giao một số ruộng tương đương 5% số diện tích ở địa phương để tự sản xuất (miền Bắc gọi là diện tích để trồng rau xanh), 95% còn lại thuộc HTX. Nhưng số diện tích 5% này thực sự đã cứu sống nhiều triệu nông dân miền Bắc trong những năm kinh tế HTX tiêu điều và cả nước dồn sức cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sau này, có người nói cánh đồng HTX chẳng qua là cách tập trung của cải người dân làm ra vào một kho chung để lấy đi phục vụ cuộc chiến. Lấy từ một kho chung dễ hơn so với vào từng nhà vận động lấy đi. Xta-lin cũng đã làm thế với nước Liên Xô hồi nông trang tập thể. Một chuyện khác, thầy Đỉnh còn kể cho chúng tôi nghe: quê thầy nghèo lắm, có người sống đến 70 tuổi mà đến cách mạng tháng Tám năm 1945 mới biết đường là thứ ăn có vị ngọt!

2. Chuyện lao động công ích

Vào tháng 4-1978, chúng tôi được lệnh huy động đi lao động công ích 2 tuần. Hồi đó nghe nói tất cả các trường đại học ở Hà Nội đều phải đi. Riêng trường ĐHNN I đợt này chỉ có khóa 20 được huy động. Ban đầu chúng tôi cũng không rõ lao động công ích là làm gì, chỉ biết cần chuẩn bị đồ dùng cá nhân (màn, chiếu, quần áo) cho 2 tuần. Trường sẽ có xe đưa đi và đón về.

Chúng tôi trang bị gọn nhẹ lên đường. Xe đưa chúng tôi đến một ngôi đình làng khá rộng và đẹp từ phía đường Phan Đình Phùng rẽ vào. Sau này nói chuyện về chuyến lao động đó, bạn Giang đã nhớ ra đó là đình Làng Cót (còn gọi là đình làng Yên Hòa). Hơn 100 người 2 lớp KT20 được bố trí ngủ trong đình: trải chiếu trên nền gạch phía 2 bên chái và phía sau. Tôi nay không còn nhớ các chị nữ được bố trí ngủ ở đâu. Các ngành khác của Khóa 20 chắc cũng được bố trí ở đâu đó trong các làng.

Buổi chiều đó, anh Thắng - cán bộ phòng quản trị được trường giao đi quản lý - yêu cầu lớp đi làm chỗ vệ sinh, chỗ tắm giặt “dã chiến” phía khuôn viên khu vườn cây xa xa bên ngoài đình. Nhà trường còn cử cán bộ nhà bếp tổ chức nấu ăn tại đó cho số sinh viên và cán bộ đi lao động.

Thật ra chúng tôi không hiểu sao hồi đó người ta dám cho sinh viên vào ngủ trong đình làng, tổ chức nấu nướng, sinh hoạt ngay trong khuôn viên đình. Mặc dù đình làng khi đó trống vắng, chỉ có một ít đồ dùng ở khu ban thờ gian giữa và chúng tôi ăn ở cũng rất nghiêm túc, chỉ ngủ ở các gian chái và phía sau đình. Nay có dịp biết về đình làng Cót mới thấy cứ như đã dám phạm vào nơi linh thiêng mà khi đó không ai biết gì (xem thêm phụ lục về đình làng Cót ở bên dưới bài).

Hôm sau, chúng tôi được dẫn đi bộ đến công trường và được phát công cụ đào vét dòng sông Tô Lịch. Thì ra chuyến đi lao động công ích lần này cải tạo sông Tô Lịch cho Thủ đô, đoạn ngay gần cầu Giấy. Sông Tô Lịch lúc ấy phía bờ bên kia đường Láng không có đường, không có nhà dân mà vẫn còn là những ruộng và bãi hoang hóa. Người ta đo đạc và làm những cột tiêu cho chỗ đào nơi đắp. Một cái lạch bé tẹo mùa xuân gần như không có nước, nay chúng tôi phải đào vét thành một sông rộng mấy chục mét. Mỗi trường đại học được giao một đoạn sông tạo thành một công trường hàng nghìn người cùng lao động.

Nghi lễ hôm khai mạc có cờ, biểu ngữ giăng đầy một khúc sông. Công trường của ĐHNN I là một đoạn sông ngắn. Anh Thắng – cán bộ Phòng quản trị phụ trách, kiêm luôn cả quản lý nhân lực. Công việc chỉ đơn giản là đào đất, vận chuyển đất lên đắp thành bờ phía bên kia đường Láng bằng các công cụ thô sơ: xẻng, bốc tay, quang rổ sắt vận chuyển. Đại loại là lao động thủ công, lấy sức người là chính.

Mấy ngày đầu, mọi người làm không ra kỉ luật gì, cứ tà tà làm, khi được nhắc thì làm, không thì chống cuốc nói đủ chuyện “trên trời dưới bể”. Anh Nguyễn Ngọc Minh (tổ 1) nói một câu về kiểu lao động này cho đến nay tôi còn nhớ: cầm cuốc “giơ lên cò đậu, bổ xuống mối xông”. Thấy kiểu làm không hiệu quả này nên anh Thắng nghĩ là kiểu khoán: mỗi lớp được giao khối lượng công việc nhất định, làm xong có thể được về sớm. Năm 1978 có ngày 1-5 được nghỉ lại đúng vào thứ 2, nên nếu xong sớm về trước thì có thể tranh thủ về quê nghỉ luôn 3-4 ngày. Từ khi khoán, công việc được bố trí tốt và mọi người hăng hái hơn. Tuy nhiên cũng xảy ra vài việc cãi cọ giữa anh Thắng với anh Nguyễn Lâm V trong lớp. Chuyện cãi cọ qua lại to lớn một hồi giữa công trường, về sau anh Thắng đã có cách giải quyết rất êm thấm. Mãi sau này tôi mới biết anh Thắng[1] vốn là sĩ quan quân đội chuyển ngành, người từng trải rất nhiều kinh nghiệm.

Việc ăn uống tại đình làng thì cũng không có gì đáng nói, kiểu sống dân công tạm bợ này bản thân tôi đã từng tham gia ở địa phương trong những ngày chờ vào đại học. Khổ nhất là nước tắm, người ta kéo đường ống nước máy đến, nhưng quá đông người có nhu cầu cùng lúc nên đợi nhau khá vất vả. Các buổi tối và chủ nhật được nghỉ đi chơi tự do, nhưng chỉ có 1 chủ nhật nên mọi người đi chơi cả, còn các tối thì tôi không thấy mấy ai rủ nhau đi lại.

Chuyện lao động công ích cũng không có gì đáng nói. Ý nghĩa cao xa của nó thì không đáng ghi ơn, chỉ là có hoạt động chứ kết quả chưa ra gì vì hôm chúng tôi về mà công trường cũng chỉ thấy nham nhở không ra hình thù gì cả. Chắc sau này các đơn vị khác tiếp quản sửa sang thêm. Tuy vậy, nhờ khoán việc nên cơ bản chúng tôi làm xong sớm hơn 1 ngày.

3. Vài chuyện còn nhớ trong chuyến lao động công ích

·        Chuyện “một xô, một chổi, một đường tình”

Chiều hôm mới đến tập trung, mọi người được phân công đi làm nơi tắm giặt, vệ sinh “dã chiến”. Vì nơi ở có cả nam và nữ nên công việc phải làm cho hai phía riêng biệt nhau. Khi cơ bản đã xong việc, tôi đã vào trong đình thì nghe bên ngoài mọi người chạy về cười rất lớn. Thì ra có chuyện mấy anh em nam trong lớp bị ai đó lừa đi nhầm vào khu vệ sinh nữ. Anh ta vô tư mang theo cái xô, cái chổi đi vào quét dọn và hình như gặp ai đó phái nữ bên trong. Biết bị lừa nên quay ra và bị một nhóm trêu cười rộ lên. Từ hôm đó lớp KT20A có câu chuyện - “một xô, một chổi, một đường tình”. Năm 2024, khi một nhóm KT20A đi du lịch ĐBSH, anh Mai Thế Lương vẫn còn nhắc lại chuyện này.

·        Bị trêu ông thầy bói

Hôm chủ nhật tôi đi bộ xuống Bờ Hồ lượn một vòng, tôi mua được cái kính dâm nhựa 3đ của mấy ông bán dạo. Hôm sau đi gánh đất đeo cái kính dâm màu xanh tím bị mấy anh em trêu chọc giống ông thầy bói nên không dám đeo nữa.

Hồi đó lớp đang học môn Thống kê nông nghiệp nên khi tôi nghe anh em kể chuyện người ta thực hiện kê khai nhân khẩu ở một quê nào đó. Cán bộ thống kê không sao xác định được nhân khẩu trong xóm. Số là nhiều gia đình trong xóm có những người đi buôn bán xa nhà, có hôm không về nhà ngủ. Người đi xác nhận thấy không có nhà thì không đếm, nhưng hôm sau kiểm tra thì lại có. Thế là chuyện thống kê nhân khẩu theo quy định cứ nhùng nhằng không xác định được. Tôi bảo rằng đó là quy định tránh “hiện tượng tính trùng” trong thống kê. Nghe tôi nói thế mọi người bảo ông thầy bói này bịa ra từ mới. Tôi bảo đó là thuật ngữ môn thống kê chúng ta đang học mà cô Thanh dạy chứ không phải tôi bịa. Mọi người khi đó bảo tôi: “Ông thầy bói nhớ được chuyện môn học, đưa vào đây là rất sáng tạo”.

·        Chuyện thuê bánh mỳ vác đất hộ nhau

Bạn G còn kể một chuyện nhân nhớ về thời ấy: Có anh N.Đ.Ch đã nhờ Giang vác đất hộ và được mua cho cái bánh mì. Ch. đi mua bánh, còn G thì vác hộ phần đất của Ch. Chuyện này tôi vẫn còn nghe mỗi khi 2 người gặp nhau ở những dịp họp lớp sau này. Thực hư không rõ, nhưng khi đó thanh niên đi lao động thì rất đói, lại vào năm 1978 đang là cao điểm khó khăn nhất hồi sinh viên, là khi đất nước đang “Lụt Bắc lụt Nam. Máu đầm biên giới[2]…”.

·        Chuyện ghê sợ tại hiện trường lao động

Một chuyện tôi rất nhớ và đến nay vẫn còn cảm giác ghê sợ. Khi đào vét ở bên sông Tô Lịch, chúng tôi thỉnh thoảng gặp những xương cốt đã lâu ngày vỡ vụn hoặc đã mềm nên xẻng đất đào qua thì khúc xương gắn dính vào hòn đất. Cứ chuyền tay nhau hoặc cho vào gánh cũng không nghĩ ngợi gì lắm vì khi đó không rõ đó là xương gì. Một đêm mưa rào lớn, sáng ra đi làm, anh Trác (lớp KT20B) nhặt được cái sọ người còn bộ xương răng hàm trên. Có người hoảng sợ bỏ chạy hoặc không dám nhìn. Anh Trác cầm lên nhìn bộ răng và nói: “Đây là người chết còn rất trẻ vì hàm răng còn nguyên và rất đều đặn. Có lẽ người ta đã chôn khi anh ta chết đói năm 1945”. Còn nhiều bộ xương nữa hiện rõ sau trận mưa rào. Rõ ràng người ta đã chôn nhiều người chết ở đây mà không có hòm ván gì. Hồi chúng tôi lao động không mê tín gì nên chẳng ai làm thủ tục gì khi gặp những bộ xương rải rác trong công trường[3]. Nghĩ đến bờ sông hoang vắng xưa rất có lẽ là nơi vứt xác hàng nghìn người chết đói năm 1945 hoặc những trận đánh nhau của những người lính năm xưa trên sông Tô Lịch được vứt lên bờ… Ôi xác thân những người đã mất không danh phận, không thông tin thờ cúng. Đáng thương thay!

·        Chuyện đổi tiền 3-5-1978

Thế là chiều thứ 6 được về sớm 1 ngày vì nhờ khoán nên vượt năng suất lao động. Nhiều người tranh thủ về quê thăm gia đình vì ngày 1-5 năm 1978 lại là ngày thứ 2. Thế là có tới 4 ngày nghỉ. Tôi cũng tranh thủ về quê 4 ngày. Đến ngày 2-5 định đi thì nghe nói sắp đổi tiền. Sáng 3-5 người ta đổi tiền thật. Hồi đó chuyện đổi tiền bị lộ thông tin, chúng tôi ở miền quê mà còn biết trước cả 1 ngày. Gia đình tôi cũng như nhiều gia đình khác khi đó không có đủ tiền để đổi theo tiêu chuẩn gia đình nông thôn. Thì ai có bao nhiêu đổi bấy nhiêu. Đây là lần đổi tiền thứ 5[4] của Chính phủ, nhưng là lần đổi thống nhất một loại tiền sau khi thống nhất đất nước.

Sáng 4-5 tôi đi tàu ra Hà Nội và được tiêu những đồng tiền đầu tiên sau khi đổi. Mệnh giá mới nên tiêu cứ thấy tiếc lắm, tiêu mất những đồng tiền giấy mới đầu tiên sau khi đổi.

Sau khi về trường mới biết có chuyện một số sinh viên KT20B bị kỉ luật vì do không về quê nên được nhà trường huy động đi đổi tiền. Có người còn bị “đúp” xuống khóa 21 vì chuyện này. Hồi đó chuyện đổi tiền bị lộ sớm nên những người có nhiều tiền đã kịp gửi cho người khác đổi hộ. Có lẽ mấy anh em KT20B dính vụ này.

*

*   *

Thế là hết những công việc năm thứ 3. Tôi ghi chép chuyện về lao động công ích như bài kết thúc một năm học. Từ những mẩu chuyện về cả năm học cho đến các ghi chép nói về từng môn học, từng người thầy dạy đã qua gần 50 năm rồi mà lại thấy như còn mới lắm. Cái thời gian khó bên nhau đúng là thật nhiều kỉ niệm – mà toàn kỉ niệm vui vẻ, may mắn.

 

 

Phụ lục: Một vài thông tin về đình Làng Cót[5].

Làng Cót hay Kẻ Cót là tên Nôm của hai làng Yên Quyết có từ lâu đời, là Thượng Yên Quyết (ở phía Bắc) và Hạ Yên Quyết (ở phía Nam), đều nằm bên bờ phải sông Tô Lịch. Về sau được lấy làm tên gọi cho làng Hạ Yên Quyết tức làng Bạch Liên Hoa, còn làng Thượng Yên Quyết sau đổi gọi là làng Giấy, do có nghề truyền thống là sản xuất giấy. Cả hai làng Yên Quyết sau thuộc phường Yên Hòa, quận Cầu GiấyHà Nội, nằm ven sông Tô Lịch đoạn từ Cầu Giấy đến gần cầu Trung Kính.

Làng Yên Quyết, với cái tên Kẻ Cót vốn xưa có từ lâu đời. Đến thời nhà Lý, nơi đây gắn liền với câu truyện lịch sử nhuốm màu huyền thoại: đó là cuộc thi đấu pháp thuật, ân oán giữa pháp sư Từ Đạo Hạnh (người làng Láng hay Yên Lãng), nhưng quê mẹ làng Cót (Yên Quyết) và Lê Đại Điên (người làng Yên Quyết) trong việc đầu thai làm thái tử nhà Lý. Đến thế kỷ 13, thời Lý - Trần, cùng với việc du nhập nghề làm giấy, làng Cót phát triển thành hai vùng với sự phân công lao động trong nghề giấy truyền thống. Nửa trên của làng về phía bắc gần cầu Giấy chuyên nghề làm giấy từ nguyên liệu là vỏ cây dó. Nửa làng dưới nằm ở phía Nam bắt đầu từ cầu Cót trở xuống chuyên làm một thứ sản phẩm là đầu ra của nghề giấy: đó là nghề làm vàng mã. Dần dần, từ một làng Yên Quyết-Kẻ Cót, tách thành hai làng Thượng Yên Quyết (Cót Thượng sau gọi là làng Giấy) và Hạ Yên Quyết (Cót Hạ vẫn được giữ tên gọi là làng Cót). Và cũng chính vì có nghề làm giấy ở làng Thượng Yên Quyết, cũng có ở làng Tiền Dịch Vọng kề bên (nằm ở phía Bắc) mà cây cầu ở gần giáp ranh giữa hai làng Thượng Yên Quyết và Tiền Dịch Vọng mới được gọi là Cầu Giấy.

Làng Cót-Hạ Yên Quyết ở gần kinh đô xưa, là một bến thuyền bên dòng Tô Lịch, nên kinh tế khá phát đạt với nhiều nghề thủ công, buôn bán. Làng Cót Hạ là một vùng đất cổ, với di vật khảo cổ được tìm thấy năm 1978, có niên đại khoảng 2000 năm. Đó là một ngôi mộ cổ bằng thân cây khoét rỗng cùng nhiều đồ tùy táng, nằm bên bờ sông Tô Lịch. Làng Cót từ xưa đã có một chế độ khuyến học thỏa đáng: làng dành ra 3 mẫu ruộng Lộc thư điền, cùng 100 quan tiền, để làm phần thưởng cho người đỗ tiến sĩ. Ngoài ra theo lệ làng, dân làng còn thưởng ruộng cho cả những người đỗ cử nhân nho học, tú tài nho học. Nhờ đó, mà làng có tới 10 tiến sĩ nho học và gần 30 hương cống thời Hậu Lê và 9 cử nhân thời Nguyễn.

Làng Cót hiện còn ngôi đình dựng lại vào năm Minh Mạng thứ 13 (1832) cùng với 5 ngôi miếu, đình làng thờ 5 vị thần trong đó có Cao Sơn đại vương, thần bản thổ. Làng có chùa Ngọc Quán, dựng năm Dương Hoà 8 (1642), hiện còn quả chuông đúc năm Cảnh Thịnh 8 (1800). Ngoài ra, còn có nhà thờ của dòng họ các Tiến sĩ Hoàng Quán ChiNguyễn Như UyênNguyễn Xuân Nham – là biểu tượng cho truyền thống học hành thành đạt của người làng...

 



[1] Chuyện anh Thắng tôi sẽ có dịp kể thêm trong một ghi chép khác. Đây là một người rất thông minh và sáng tạo trong chiến tranh và cuộc sống.

[3] Hiện nay, tại các công trường, mỗi khi gặp một bộ xương hay tiểu cốt, người ta thường hương khói và làm thủ tục đưa đến nơi khác một cách thành kính trang nghiêm.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét