Học môn Thống kê nông nghiệp
Môn học được thiết kế 120 tiết, học ở
kì 2 năm học 1978-1979 (năm thứ 3). Giáo viên giảng dạy là cô Kĩ sư[1]
Đỗ Thị Ngà Thanh.
Cô Thanh học đại học từ Liên Xô về,
nhưng ngày cô dạy chúng tôi thì không ai biết đó là giáo viên đã từng đi học ở
Liên Xô bởi cô rất nghiêm nghị khi giảng bài, có cảm giác rất khó gần và luôn
giữ khoảng cách với sinh viên rất đúng mực.
Cô người thấp, nhưng gọn và săn chắc,
tóc tết thành một đuôi sam to dài quá lưng. Cô có giọng khá chuẩn Hà Nội, nói
gãy gọn, chính xác và rất ít câu thừa – đúng là chính xác như con số thống
kê. Cô dành sự viết bảng hợp lý, các đề mục rõ ràng một bên, phần nêu công
thức một bên, cơ bản không phải xóa bảng khi hết giờ. Mọi sự cô chuẩn bị bài,
giảng bài, viết bảng, nêu nội dung, tiểu kết từng phần rất đầy đủ - không thừa
không thiếu. Tôi vẫn nghĩ đó là sự hoàn thiện được nỗ lực rèn luyện và được
tự đánh giá qua kinh nghiệm hàng năm lên lớp của cô[2].
Môn học Thống kê nông nghiệp có giáo
trình khổ rộng cỡ A4, giấy trắng, in typo đẹp, rất nặng. Một cuốn sách được in
khá chu đáo của NXB Nông nghiệp. Tác giả là 2 giáo viên: Tô Dũng Tiến[3]
và Đỗ Thị Ngà Thanh. Bản thân tôi rất ấn tượng với những cuốn sách viết nghiêm
túc, không có lỗi in ấn, được trình bày đẹp, rõ ràng. Môn học có 2 nội dung: Phần
I gồm có Chương mở đầu (đối tượng, mục tiêu, phương pháp…), các Chương về Điều
tra thống kê, Tổng hợp thống kê, và Phân tích thống kê. Phần II gồm Thống kê đất
đai nông nghiệp và tư liệu sản xuất trong nông nghiệp, Thống kê ngành trồng trọt,
Thống kê ngành chăn nuôi, Thống kê ngành tiểu thủ công nghiệp. Tôi không còn nhớ
rõ nội dung từng chương, nhưng học về điều tra, tổng hợp, phân tích thống kê
thì rất “khoái” vì thấy như đã được vạch rõ một việc có thể áp dụng chi tiết để
triển khai khi ra công tác sau này. Các anh chị khóa trên nói, đây là một “món
võ” quyết định công việc của kĩ sư kinh tế nông nghiệp sau này nên chúng
tôi học rất cố gắng. Có cái háo hức của người học kết hợp với sự truyền đạt nghiêm
túc nên những gì học được cứ như những món để dành chờ khi thực hành trong
công việc tương lai. Môn học được tôi ghi chép khá cẩn thận và học kĩ càng,
nghiêm túc. Dưới đây là những kí ức còn lại về nội dung môn Thống kê nông nghiệp
cô Thanh dạy.
· Điều tra thống
kê
Cô giảng về chuẩn bị một cuộc điều tra:
cần chuẩn bị công cụ (dây, thước, cân, que cắm tiêu…), giấy vở ghi chép, các biểu
mẫu hoặc tự thiết kế các bảng thống kê. Quan trọng nhất là dự kiến nhân lực điều
tra. Tùy tính chất của cuộc điều tra mà có cách tổ chức nhân lực khác nhau
nhưng nhất thiết phải thống nhất hướng dẫn, tập huấn để bảo đảm thực thi
đúng, chính xác.
Một nội dung có tính kĩ thuật trong điều
tra thống kê là biết cách phân tổ thống kê. Phân tổ thống kê giúp làm rõ
ý tưởng thiết kế cuộc điều tra và tạo ra được sự đánh giá khi tổng hợp thống kê
theo các ý đồ của cuộc điều tra.
· Tổng hợp thống
kê
Tổng hợp kết quả điều tra thành những
con số để từ đó có dữ liệu phân tích thống kê. Trong quá trình tổng hợp cần phải
biết tổ chức ghi chép các kết quả trung gian bằng cách thiết kế các bảng
thống kê phù hợp. Qua đây tôi hiểu được có 2 loại bảng biểu. Khi ta thiết kế một
nội dung để theo dõi, quan sát ở dạng hàng và cột (tức là kiểu ma trận) là được
coi là một bảng thống kê, nhưng đó chưa phải là một bảng chuẩn (chỉ là một
bảng ghi chép kết quả cho tiện lợi). Chỉ khi một nội dung thống nhất thì các bảng
được thiết kế thành biểu mẫu thống kê. Biểu mẫu là một bảng được “mẫu mực
hóa” nên chuẩn xác, là cơ sở để thống nhất tính toán trong phân tích thống kê.
· Phân tích thống
kê
Từ các số liệu điều tra được tổng hợp lại
thì có thể đi đến phân tích các kết quả thống kê. Biểu thị của phân tích thống
kê được thể hiện ở 2 loại chỉ tiêu phân tích: tỉ số và chỉ số thống
kê.
Có rất nhiều công thức tính được chúng
tôi được học: trung bình cộng, trung bình nhân, bình quân gia quyền, bình quân
kì hòa… Lại sử dụng các kí hiệu của toán hồi thầy Thanh dạy như xích ma (Σ), pi
(Π), phương sai (σ2) và độ lệch chuẩn (σ). Các chỉ tiêu thể hiện động
thái thống kê: tốc độ phát triển (liên hoàn và định gốc), tốc độ tăng lên
tương đối và tuyệt đối khi so sánh các thời kì.
Mấy anh em trẻ chúng tôi rất thích cách tính các chỉ số thống kê. Khi lấy kết quả A chia cho B (A/B) thì được chỉ tiêu ở dạng tỉ số thống kê. Chẳng hạn năng suất lúa (N) bằng sản lượng (S) chia cho diện tích (D) hay N = S/D. Nhưng khi so sánh sản lượng lúa giữa năm trước và năm sau ở một HTX, tất nhiên HTX có nhiều thửa ruộng, nhiều giống lúa nên có sự thay đổi cả về diện tích và năng suất thì phải dùng cách tính (S1 - S0). Khi đó chỉ số thống kê[4] như công thức dưới đây sẽ biết được sự thay đổi năm sau so với năm trước (năm 1 so với năm 0).
Phân số đầu là tỉ lệ sản lượng thay đổi
năm 1 so với năm 0 (được tính từ tổng nhiều thửa ruộng có năng suất và diện
tích khác nhau). Phân số thứ 2 xác định được sự thay đổi đó do diện tích tạo ra
(chú ý là người ta cố định năng suất năm thứ 1), còn phân số thứ 3 là sự thay đổi
do năng suất tạo ra (chú ý là người ta cố định diện tích năm thứ 0). Từ đây ta
biết được cách tính sản lượng thay đổi bao nhiêu tấn (hay bao nhiêu %) là do diện
tích tạo ra thay đổi bao nhiêu tấn (ứng với bao nhiêu %) và năng suất tạo ra
thay đổi bao nhiêu tấn (ứng với bao nhiêu %). Việc tính toán này cũng có thể áp
dụng để tính doanh thu (do giá bán và sản lượng bán tạo ra). Hay ghê, biết được
cái nào tạo ra sự thay đổi bao nhiêu phần trăm, bao nhiêu giá trị. Tuyệt quá, một
cách tính đơn giản mà hiệu quả biết bao!
Một nội dung khá lí thú nữa mà chúng tôi được học (nhưng không nhiều lắm) là biểu thị kết quả phân tích thống kê bằng đồ thị. Có nhiều dạng đồ thị: hình cột, hình tròn, hình đường thẳng… Đây là cách thể hiện tốt kết quả phân tích nhưng chúng tôi chưa có điều kiện sử dụng. Chắc sau này đi làm đề tài tốt nghiệp sẽ dùng nhiều[5].
Có nhiều bài tập được cô Thanh cho
chúng tôi làm về nhà. Quan trọng nhất là các bài tập này ai cũng hiểu và làm được
vì toàn dùng công cụ toán nhưng lại áp dụng trong công việc cụ thể trong nông
nghiệp nên rất dễ tưởng tượng ra. Cái đầu học nông nghiệp đã hiểu biết hoạt động
nông nghiệp nên khi đặt toán vào là thấy rõ ngay ý đồ áp dụng toán để đo, đếm,
tính toán… nên tự nhiên cảm thấy thú vị và áp dụng được.
Sang Phần II cô dạy về nghiệp vụ thống
kê nông nghiệp như thống kê đất đai, thống kê trồng trọt, thống kê chăn nuôi…
Phần này không lí thú lắm, chỉ là kiểu đo, đếm rồi phân tổ để phân tích. Chẳng
hạn có bao nhiêu loại đất thì cứ đo đạc rồi tổng hợp vào các bảng biểu thống kê
theo các mục tiêu phân tích. Tuy nhiên tôi thấy có mấy nội dung khá lí thú về
thống kê sản phẩm nông lâm nghiệp.
Cuộc điều tra kết quả thống kê có thể xảy
ra khi các sản phẩm nông nghiệp chưa thu hoạch như cây trồng chưa đến vụ thu hoạch,
sản lượng cá đang sống dưới ao chưa thu hoạch, sinh khối rừng cây rừng đang lớn
chưa đến tuổi thu hoạch… Lúc này phát sinh các kĩ thuật thống kê như lấy mẫu,
ước lượng và sử dụng cả kinh nghiệm của các “lão nông” (ví dụ nhìn tăm cá
đoán sản lượng cá trong ao). Tuy nhiên lấy mẫu thống kê là phương pháp khoa học
nhất. Đây cũng là chuyện cô Thanh nói chúng tôi sẽ được áp dụng khi đi thực tập
HTX kì này.
Vào giữa tháng 5-1978, chúng tôi được tập
huấn các nội dung đi thực tập giáo trình môn học Thống kê nông nghiệp. Công việc
cụ thể của môn học cho các nhóm đi thực tập HTX ở huyện Gia Lâm là lấy mẫu và gặt
điểm để thống kê năng suất lúa vụ xuân 1978. Cô Thanh hướng dẫn rất cẩn thận thủ
tục gặt điểm thống kê: phóng điểm trên bản đồ, chọn điểm ngoài thực địa, thủ tục
gặt điểm, thu thập, phơi theo mẫu… Phần này tôi sẽ nói kĩ hơn ở nội dung Đi
thực tập giáo trình môn học.
Khi ôn tập, cô Thanh cho nhiều dạng bài
tập trong đó chủ yếu là xác định số bình quân và bài tập áp dụng chỉ số thống
kê. Các bài tập không khó lắm vì khi cô giảng đều có ví dụ rất cụ thể nên ai
cũng bắt chước được. Hồi đó Cao Ngọc Đức là cán sự môn học này. Một hôm Cao Ngọc
Đức rủ tôi lên lên nhà cô Thanh để trao đổi một số nội dung ôn tập. Tôi chỉ đi
theo mà không có câu hỏi nào (khi đó tôi đang là cán sự môn tiếng Nga). Đến nhà
cô Thanh vào buổi tối, khoảng 8pm. Khi chúng tôi đến, gia đình cô vừa cơm nước
xong. Cô ở một phòng nhỏ cuối tầng 3 (nhà tập thể A3 cán bộ). Một chỗ tiếp
khách nhỏ phía sau có giá nhiều sách nhưng rất gọn gàng. Tôi thấy trên giá có
nhiều sách chữ Nga. Cô mời ngồi uống nước và nhận ra chúng tôi ở lớp KT20A. Sơ
sơ màn chào hỏi thì Đức xin phép nêu những vấn đề tập hợp ý kiến ôn tập trao đổi
với cô. Cô trả lời rất tỉ mỉ từng câu, từng ý. Đức còn hỏi cô rằng những nội
dung vừa qua lớp đi gặt điểm thống kê năng suất lúa thì có trong nội dung thi
không. Cô nói: “Đó là những kĩ thuật các bạn cần biết cho một cuộc điều tra
nhỏ. Chuyện đó không có nội dung thi. Chỉ cần nắm vững các bài tập với những
con số giả định để thực hành việc tính toán. Mà các cậu học giỏi thì lo gì, cố
lên!”. Chúng tôi ra về và rất yên tâm ôn tập môn học.
Môn này phải thi viết ngày17-7-1978 vì
khi đó bộ môn không có đủ giáo viên hỏi thi. Kết quả thi tôi đạt điểm 5/5. Có nhiều
người cũng đạt 5/5 như Cao Ngọc Đức, anh Chình, Giang, Bính…
[1] Cô Đỗ Thị Ngà Thanh bảo vệ luận án PTS khoảng năm 1990
tại ĐHNNI, được công nhận là PGS kinh tế năm 1996. Hiện nay cô đang sống trong
thành phố HCM cùng gia đình.
[2] Cô Thanh sinh 1940, khi dạy chúng tôi, cô ở
tuổi 38.
[3] Thầy Tô Dũng Tiến sinh 1941. Khi chúng tôi học môn Thống
kê nông nghiệp, thầy Tiến đang đi học thi nghiên cứu sinh. Sau đó thầy đi học Liên
Xô, bảo vệ luận án PTS 1982, được công nhận PGS 1991, GS 1996.
[4] Chỉ số thống kê như trên cơ bản là đơn giản nhưng có ý
nghĩa rất trực tiếp. Ngày nay người ta vẫn đang sử dụng tính chỉ số chứng khoán
trên thị trường. Tuy nhiên trong phân tích các nhân tố ảnh hưởng thì ngày nay
người ta dùng các phương pháp hàm mũ có kết quả mô phỏng tốt hơn rất nhiều (trong
kinh tế gọi chung là dạng hàm sản xuất Cobb-Douglas).
[5] Hồi đó chưa có máy vi tính, sau này nhiều công cụ phần mềm
như Excel vẽ đồ thị rất đẹp.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét