1. Trở thành người lao động trí óc gần gũi với đội
ngũ lao động chân tay
Trong quá trình liệt kê hoạt động đào tạo và cuộc sống
sinh viên qua các ghi chép, tôi đã lấy trọng tâm vấn đề là kết quả chúng tôi
đã đạt được trong cái thời gian nan ấy – đó là những gì chúng tôi đã
vượt qua các rào cản để nhằm mục tiêu biên chế, kiếm cơm, phục vụ suốt đời… Tôi
thích nhấn mạnh việc chúng tôi thành kĩ sư chứ ít nói đến việc chúng tôi
thành đội ngũ trí thức trong xã hội.
Trở thành kĩ sư theo nghĩa chúng tôi được đào tạo
thành người có thể cầm tay chỉ việc, biết hướng dẫn, biết phân tích, đánh giá kết
quả của những người lao động chân tay. Chúng tôi chỉ khác họ chút ít: cùng một
công việc, họ lao động bằng chân tay, còn chúng tôi sử dụng một phần trí óc.
Cái gọi là “lao động bàn giấy” theo dõi, chỉ huy, ra lệnh cho người khác
là mô hình chúng tôi trở thành và tất nhiên chúng tôi cũng “bị sự chỉ đạo” của tầng
tầng lớp lớp những cấp bậc “lao động bàn giấy” bên trên đầu mình.
Chính vì thế chúng tôi rất tin rằng quá trình đào tạo
đại học là được học trong một nhà trường tốt, có chương trình đào tạo tốt, tin
các giáo viên đều đúng, đều chuẩn. Tất nhiên chúng tôi cũng tin vào mọi nội
dung học đều cần, đều nên thuộc. Sau nữa, chúng tôi tin rằng tất cả các chịu đựng
đều là thử thách cần thiết, đều xứng đáng để được tin cậy và giao việc sau này.
Điều đó đúng sai thế nào thì nay cũng khó đánh giá.
Tại sao ư? Bởi điều quan trọng nhất là khi ra trường chúng tôi cơ bản đều có chỗ
kiếm được cơm ăn, có cuộc sống với biên chế công việc suốt đời.
Mặc dù khi ra trường chúng tôi thấy thực tế có rất
nhiều điều không như những gì đã học. Ban đầu hơi choáng váng một chút, nhưng
nghĩ lại thấy chuyện đưa thực tế vào bài học thì làm sao bài học sống lâu được.
Thay đổi của chính sách là “sáng đúng, chiều sai đến mai lại đúng.” Chúng
tôi thành người lao động trí óc rất gần gũi với đội ngũ lao động chân tay nhưng
thực ra họ còn giỏi hơn chúng tôi về kĩ năng và kinh nghiệm lao động.
2. Người lao động trí óc có tâm hồn còn nghèo nàn, thiếu
sinh khí
Trước hết, chúng tôi thiếu tự tin, thiếu tình yêu
nam nữ. Chuyện cấm đoán yêu đương trong trường đại học chỉ là cái cớ. Nghĩ đến
yêu đương như nỗi sợ cấm đoán là hèn nhát, bản chất là thiếu dũng khí về năng
lượng cá nhân. Ở tuổi thanh niên mà chúng tôi như bị kìm nén mọi bề, thấy giống
lối sống “thầy tu” hơn là sinh viên đại học. Còn nhớ hồi trẻ đọc cuốn “Tuổi
trẻ Các Mác”[1]
thấy Mác trả lời con gái câu hỏi: “Câu cách ngôn mà cha thích nhất?”.
Mác trả lời: “Không có gì thuộc về con người mà xa lạ đối với tôi” và chuyện
Mác đã yêu Jenny von Westphalen xinh đẹp mê say cuồng nhiệt đến thế nào mới thấy
sinh viên như chúng tôi thật đáng hổ thẹn.
Che đậy bằng sự “giả tạo chân quê”: nào là nề
nếp gia đình, nào là truyền thống quê hương, tinh thần hiếu học… Thực chất đó là
“cái mặt nạ” vùi dập sự ham muốn hiểu biết, ham muốn tương tác, học hỏi. Đa số
giữ mình ở cái coi nề nếp, truyền thống là nhất, là đủ, thậm chí còn coi là
hơn cả nơi khác. Ấu trĩ thay!
Chúng tôi không có nền tảng giá trị tốt từ trước khi
vào đại học. Vốn cơ bản là con em nông dân nghèo khổ, phần lớn có xuất phát tầm
thấp ở mọi khía cạnh, sống thiếu năng lượng và sinh khí.
3. Không được đào tạo trở thành người trí thức
Ở đây tôi muốn nói chung cho sinh viên thời ấy chứ
không chỉ riêng ở ĐHNN I chúng tôi.
Phải nói không dám dùng từ trí thức[2] vì hầu hết chúng
tôi không biết tầm cỡ lao động trí thức – lao động sáng tạo. Lao
động trí óc và lao động trí thức rất khác nhau. Lao động trí óc của chúng tôi dùng
cho quản lý, tức là không phải dùng tay chân như công nhân hay nông dân. Do đó
không hẳn là lao động trí tuệ sáng tạo giá trị tinh thần, không có tâm hồn trí
thức biết dấn thân. Sinh viên không có cuộc sống của trào lưu trí thức sôi sục,
không có hoạt động trí thức tiên phong hướng đạo, không biết tham gia diễn đàn,
thi đàn, văn đàn… Không biết các xu hướng tranh luận xã hội và không biết đường
đi của đội ngũ trí thức.
Trên thực tế chúng tôi không có sách để đọc và không
biết cách đọc sách. Chúng tôi không biết ngoại ngữ để sử dụng kiến thức, tìm kiếm
tri thức.
Nhân đây tôi có suy nghĩ là tại sao các học sinh được
đào tạo thời thuộc Pháp lại đều giỏi tiếng Pháp từ khi đang còn đi học. Điển
hình phải kể đến những trí thức nổi tiếng Cù Huy Cận, Xuân Diệu, Võ Nguyên
Giáp, Phạm Văn Đồng, Phạm Huy Thông… Điểm
rất yếu của chúng tôi là không thể hiện hơi thở thời cuộc của “trí thức” (kiểu như
thời của các vị như Cù Huy Cận, Xuân Diệu[3]). Thực tế là tâm hồn buồn
tẻ, ít lí tưởng hoài bão cao xa.
Cần nhấn mạnh thêm lúc chúng tôi học, Hiệu trưởng
ĐHNN I là GS Lê Duy Thước[4].
Giáo sư Lê Duy Thước từng là trưởng hướng đạo sinh tỉnh Quảng Nam do Tạ
Quang Bửu tiến cử và hoạt động của ông chính danh là người trí thức nổi tiếng ở
Việt Nam thời ấy.
Chúng tôi vì thiếu tình yêu lứa đôi chăng nên không
biết và tất nhiên không cảm thụ được cảm xúc cuộc sống trong âm nhạc, nghệ thuật
hội họa, điêu khắc… Đa số không biết lắng nghe thiên nhiên. Nhiều người còn nhẫn
tâm trước môi trường sinh thái, không biết xử lí nhân văn các tác động của
thiên nhiên với con người và ngược lại. Thái độ còn vô cảm, bàng quan, thiếu
cân nhắc về tính tương tác, tính hòa hợp.
Chúng tôi không biết nhiều về điều rất quan trọng
khác của danh dự trí thức: dấn thân, trung thực, đạo đức nghề nghiệp.
Khi thành người lao động trí óc, chúng tôi còn thiếu các giá trị cốt lõi về trách
nhiệm và gánh vác trách nhiệm trước tập thể và xã hội thay vì đổ lỗi. Chưa đủ tự
tin để thể hiện lòng tự trọng và phẩm giá: giữ mình thanh sạch, không vì lợi
ích tầm thường. Nhận thức còn hạn chế về sự độ lượng và khiêm nhường trong đối
xử nhân ái, tôn trọng nhân gian. Ngoài ra còn hạn chế về ý chí kiên cường, hiên
ngang, khoan thai đối mặt với mọi nghịch cảnh trong đời sống.
4. Không trở thành trí thức nhưng đủ thành người mộc
mạc “chân quê”
Trong hoàn cảnh xã hội khó khăn, chúng tôi chấp nhận
nghèo khó như số phận bao con người của đất nước. Chúng tôi cũng chính là hiện
thực về thân phận con người trong xã hội, là những con người chịu đựng và hi
sinh cùng vận mệnh của đất nước.
Bởi giàu tính “chân quê” giản dị nên chúng tôi dễ
dàng đi vào lòng dân. Nhờ biết rõ chuyện nông gia, chuyện nấu cơm, vá áo nên
chúng tôi hòa vào cuộc sống, vô hình hòa vào dân gian.
Chúng tôi chấp nhận lặng lẽ âm thầm về danh tiếng. Vốn
biết không xứng danh mang hồn sông núi, hồn dân tộc nhưng trong mỗi chúng tôi vẫn
sâu đậm sự mộc mạc hồn quê, hương quê. Ý tôi muốn nói là điều cao siêu dù không
đạt tới nhưng chúng tôi không bị hư hỏng, hủy hoại bởi thói hư tật xấu, không
vô dụng trong cuộc sống lao động chân chính của mình. Đó chẳng phải là ĐỦ VÀ
QUÁ ĐỦ!!!
[1]
Tác giả:
E-lê-na I-li-i-na (Elena Ilyina) nhà văn Liên Xô. Nhà xuất bản Thanh Niên, 1969.
[2]
Trí
thức
có danh từ gốc là intellect (trí tuệ, trí thông minh). Một người
có học vấn cao được mang danh “trí thức” nếu người đó sẵn sàng bước ra khỏi
lĩnh vực chuyên sâu của mình để lên tiếng – với lập luận vững chắc - về những
bất cập xã hội, với động cơ không vụ lợi, ngày nay gọi là phản biện. Trí
thức để tôn vinh những người có học vấn uyên thâm, làm nghề sáng tạo như
học giả, nhà văn, nào là nghệ sĩ, bác học… Để được gọi là trí thức, điều kiện
“cần” là làm nghề sáng tạo các giá trị tinh thần; còn điều kiện “đủ” là phản
biện xã hội - để xã hội tốt đẹp thêm. Việt Nam quan niệm “trí thức” là học giả,
soạn giả, tác gia, bác học… thậm chí còn là bằng cấp và nghề nghiệp như tiến
sĩ, bác sĩ, kỹ sư, nhạc sĩ, họa sĩ, nhà điêu khắc, giáo sư, nhà văn, nhà khoa
học… Từ “trí thức” rốt cuộc chỉ là nói về giới “có học” trong xã hội.
[3] Sách “Hồi kí song đôi” của Huy Cận, NXB Hội Nhà
văn, 2011.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét