Thứ Sáu, tháng 8 07, 2026

Thẳng thắn nhìn lại quá trình đào tạo đại học

 

1. Trở thành người lao động trí óc gần gũi với đội ngũ lao động chân tay

Trong quá trình liệt kê hoạt động đào tạo và cuộc sống sinh viên qua các ghi chép, tôi đã lấy trọng tâm vấn đề là kết quả chúng tôi đã đạt được trong cái thời gian nan ấy – đó là những gì chúng tôi đã vượt qua các rào cản để nhằm mục tiêu biên chế, kiếm cơm, phục vụ suốt đời… Tôi thích nhấn mạnh việc chúng tôi thành kĩ sư chứ ít nói đến việc chúng tôi thành đội ngũ trí thức trong xã hội.

Trở thành kĩ sư theo nghĩa chúng tôi được đào tạo thành người có thể cầm tay chỉ việc, biết hướng dẫn, biết phân tích, đánh giá kết quả của những người lao động chân tay. Chúng tôi chỉ khác họ chút ít: cùng một công việc, họ lao động bằng chân tay, còn chúng tôi sử dụng một phần trí óc. Cái gọi là “lao động bàn giấy” theo dõi, chỉ huy, ra lệnh cho người khác là mô hình chúng tôi trở thành và tất nhiên chúng tôi cũng “bị sự chỉ đạo” của tầng tầng lớp lớp những cấp bậc “lao động bàn giấy” bên trên đầu mình.

Chính vì thế chúng tôi rất tin rằng quá trình đào tạo đại học là được học trong một nhà trường tốt, có chương trình đào tạo tốt, tin các giáo viên đều đúng, đều chuẩn. Tất nhiên chúng tôi cũng tin vào mọi nội dung học đều cần, đều nên thuộc. Sau nữa, chúng tôi tin rằng tất cả các chịu đựng đều là thử thách cần thiết, đều xứng đáng để được tin cậy và giao việc sau này.

Điều đó đúng sai thế nào thì nay cũng khó đánh giá. Tại sao ư? Bởi điều quan trọng nhất là khi ra trường chúng tôi cơ bản đều có chỗ kiếm được cơm ăn, có cuộc sống với biên chế công việc suốt đời.

Mặc dù khi ra trường chúng tôi thấy thực tế có rất nhiều điều không như những gì đã học. Ban đầu hơi choáng váng một chút, nhưng nghĩ lại thấy chuyện đưa thực tế vào bài học thì làm sao bài học sống lâu được. Thay đổi của chính sách là “sáng đúng, chiều sai đến mai lại đúng.” Chúng tôi thành người lao động trí óc rất gần gũi với đội ngũ lao động chân tay nhưng thực ra họ còn giỏi hơn chúng tôi về kĩ năng và kinh nghiệm lao động.

2. Người lao động trí óc có tâm hồn còn nghèo nàn, thiếu sinh khí

Trước hết, chúng tôi thiếu tự tin, thiếu tình yêu nam nữ. Chuyện cấm đoán yêu đương trong trường đại học chỉ là cái cớ. Nghĩ đến yêu đương như nỗi sợ cấm đoán là hèn nhát, bản chất là thiếu dũng khí về năng lượng cá nhân. Ở tuổi thanh niên mà chúng tôi như bị kìm nén mọi bề, thấy giống lối sống “thầy tu” hơn là sinh viên đại học. Còn nhớ hồi trẻ đọc cuốn “Tuổi trẻ Các Mác”[1] thấy Mác trả lời con gái câu hỏi: “Câu cách ngôn mà cha thích nhất?”. Mác trả lời: “Không có gì thuộc về con người mà xa lạ đối với tôi” và chuyện Mác đã yêu Jenny von Westphalen xinh đẹp mê say cuồng nhiệt đến thế nào mới thấy sinh viên như chúng tôi thật đáng hổ thẹn.

Che đậy bằng sự “giả tạo chân quê”: nào là nề nếp gia đình, nào là truyền thống quê hương, tinh thần hiếu học… Thực chất đó là “cái mặt nạ” vùi dập sự ham muốn hiểu biết, ham muốn tương tác, học hỏi. Đa số giữ mình ở cái coi nề nếp, truyền thống là nhất, là đủ, thậm chí còn coi là hơn cả nơi khác. Ấu trĩ thay!

Chúng tôi không có nền tảng giá trị tốt từ trước khi vào đại học. Vốn cơ bản là con em nông dân nghèo khổ, phần lớn có xuất phát tầm thấp ở mọi khía cạnh, sống thiếu năng lượng và sinh khí.

3. Không được đào tạo trở thành người trí thức

Ở đây tôi muốn nói chung cho sinh viên thời ấy chứ không chỉ riêng ở ĐHNN I chúng tôi.

Phải nói không dám dùng từ trí thức[2] vì hầu hết chúng tôi không biết tầm cỡ lao động trí thứclao động sáng tạo. Lao động trí óc và lao động trí thức rất khác nhau. Lao động trí óc của chúng tôi dùng cho quản lý, tức là không phải dùng tay chân như công nhân hay nông dân. Do đó không hẳn là lao động trí tuệ sáng tạo giá trị tinh thần, không có tâm hồn trí thức biết dấn thân. Sinh viên không có cuộc sống của trào lưu trí thức sôi sục, không có hoạt động trí thức tiên phong hướng đạo, không biết tham gia diễn đàn, thi đàn, văn đàn… Không biết các xu hướng tranh luận xã hội và không biết đường đi của đội ngũ trí thức.

Trên thực tế chúng tôi không có sách để đọc và không biết cách đọc sách. Chúng tôi không biết ngoại ngữ để sử dụng kiến thức, tìm kiếm tri thức.

Nhân đây tôi có suy nghĩ là tại sao các học sinh được đào tạo thời thuộc Pháp lại đều giỏi tiếng Pháp từ khi đang còn đi học. Điển hình phải kể đến những trí thức nổi tiếng Cù Huy Cận, Xuân Diệu, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Phạm Huy Thông… Điểm rất yếu của chúng tôi là không thể hiện hơi thở thời cuộc của “trí thức” (kiểu như thời của các vị như Cù Huy Cận, Xuân Diệu[3]). Thực tế là tâm hồn buồn tẻ, ít lí tưởng hoài bão cao xa.

Cần nhấn mạnh thêm lúc chúng tôi học, Hiệu trưởng ĐHNN I là GS Lê Duy Thước[4]. Giáo sư Lê Duy Thước từng là trưởng hướng đạo sinh tỉnh Quảng Nam do Tạ Quang Bửu tiến cử và hoạt động của ông chính danh là người trí thức nổi tiếng ở Việt Nam thời ấy.

Chúng tôi vì thiếu tình yêu lứa đôi chăng nên không biết và tất nhiên không cảm thụ được cảm xúc cuộc sống trong âm nhạc, nghệ thuật hội họa, điêu khắc… Đa số không biết lắng nghe thiên nhiên. Nhiều người còn nhẫn tâm trước môi trường sinh thái, không biết xử lí nhân văn các tác động của thiên nhiên với con người và ngược lại. Thái độ còn vô cảm, bàng quan, thiếu cân nhắc về tính tương tác, tính hòa hợp.

Chúng tôi không biết nhiều về điều rất quan trọng khác của danh dự trí thức: dấn thân, trung thực, đạo đức nghề nghiệp. Khi thành người lao động trí óc, chúng tôi còn thiếu các giá trị cốt lõi về trách nhiệm và gánh vác trách nhiệm trước tập thể và xã hội thay vì đổ lỗi. Chưa đủ tự tin để thể hiện lòng tự trọng và phẩm giá: giữ mình thanh sạch, không vì lợi ích tầm thường. Nhận thức còn hạn chế về sự độ lượng và khiêm nhường trong đối xử nhân ái, tôn trọng nhân gian. Ngoài ra còn hạn chế về ý chí kiên cường, hiên ngang, khoan thai đối mặt với mọi nghịch cảnh trong đời sống.

4. Không trở thành trí thức nhưng đủ thành người mộc mạc “chân quê”

Trong hoàn cảnh xã hội khó khăn, chúng tôi chấp nhận nghèo khó như số phận bao con người của đất nước. Chúng tôi cũng chính là hiện thực về thân phận con người trong xã hội, là những con người chịu đựng và hi sinh cùng vận mệnh của đất nước.

Bởi giàu tính “chân quê” giản dị nên chúng tôi dễ dàng đi vào lòng dân. Nhờ biết rõ chuyện nông gia, chuyện nấu cơm, vá áo nên chúng tôi hòa vào cuộc sống, vô hình hòa vào dân gian.

Chúng tôi chấp nhận lặng lẽ âm thầm về danh tiếng. Vốn biết không xứng danh mang hồn sông núi, hồn dân tộc nhưng trong mỗi chúng tôi vẫn sâu đậm sự mộc mạc hồn quê, hương quê. Ý tôi muốn nói là điều cao siêu dù không đạt tới nhưng chúng tôi không bị hư hỏng, hủy hoại bởi thói hư tật xấu, không vô dụng trong cuộc sống lao động chân chính của mình. Đó chẳng phải là ĐỦ VÀ QUÁ ĐỦ!!!



[1] Tác giả: E-lê-na I-li-i-na (Elena Ilyina) nhà văn Liên Xô. Nhà xuất bản Thanh Niên, 1969.

[2] Trí thức có danh từ gốc là intellect (trí  tuệ, trí thông minh). Một người có học vấn cao được mang danh “trí thức” nếu người đó sẵn sàng bước ra khỏi lĩnh vực chuyên sâu của mình để lên tiếng – với lập luận vững chắc - về những bất cập xã hội, với động cơ không vụ lợi, ngày nay gọi là phản biện. Trí thức để tôn vinh những người có học vấn uyên thâm, làm nghề sáng tạo như học giả, nhà văn, nào là nghệ sĩ, bác học… Để được gọi là trí thức, điều kiện “cần” là làm nghề sáng tạo các giá trị tinh thần; còn điều kiện “đủ” là phản biện xã hội - để xã hội tốt đẹp thêm. Việt Nam quan niệm “trí thức” là học giả, soạn giả, tác gia, bác học… thậm chí còn là bằng cấp và nghề nghiệp như tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư, nhạc sĩ, họa sĩ, nhà điêu khắc, giáo sư, nhà văn, nhà khoa học… Từ “trí thức” rốt cuộc chỉ là nói về giới “có học” trong xã hội.

[3] Sách “Hồi kí song đôi” của Huy Cận, NXB Hội Nhà văn, 2011.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét