Chúng tôi có nhiều kỉ niệm khó quên với anh Khuất
Cao Nội ở Tổ 1 lớp KT20A ĐHNN I. Anh học khóa 14 thì phải (tôi chưa có điều kiện
kiểm tra lại) rồi xung phong đi bộ đội từ trường ĐHNN I. Thời gian thì khóa 14
vào trường là năm 1969, tức là anh hơn chúng tôi khoảng 6-7 tuổi. Hồi vào trường
anh học ngành kĩ thuật, không phải ngành kinh tế nông nghiệp. Một lần tôi nghe
anh nói khi trở lại trường thì người ta khuyên các anh đi bộ đội về nên chuyển
sang học ngành kinh tế nông nghiệp vì tuổi cao hơn sẽ có kinh nghiệm chỉ đạo, quản
lý kinh tế. Anh Nội cũng như đa số anh em bộ đội trở lại học đều chuyển sang
ngành kinh tế nông nghiệp[1].
Sau này một lần tôi có dịp vào thăm nhà truyền thống
của trường, tình cờ tôi nhìn thấy một kỉ vật rất quý giá: đó là lá quốc kì
lưu chữ kí của sinh viên nhà trường đi bộ đội. Trên lá cờ đó tôi bỗng nhận
ra một chữ kí kiểu phiên tên tiếng Nga: Хуаmжяhой (tức Khuất Gia Nội). Hồi
mới học tiếng Nga, nhiều người thích chuyển tự sang tiếng Nga theo cách đọc gần
đúng nhất trong bảng chữ cái Cyrillic. Trong chữ ký của anh, chữ X kéo rất dài
nét thứ nhất, đúng ra thì жя nên phiên thành Зя, nhưng cũng có thể phiên жя cho
nặng âm lên. Anh nói tên anh cũng có khi dùng Cao Nội, cũng có khi dùng Gia Nội.
Thật vinh dự cho anh và đồng đội anh năm xưa còn lưu được chữ kí trên lá cờ
Tổ quốc ở ĐHNN I trước khi lên đường đi chiến đấu.
Mấy năm ở cùng với anh mà chúng tôi không thấy anh kể
về các trận đánh hay các kỉ niệm chiến tranh những năm gian khổ ấy. Có lẽ chiến
trường từ 1969 đến 1975 có vô số chuyện gian khổ hi sinh mà các anh quen chấp
nhận chứ không lấy đó làm thứ “khoe mẽ” với đời. Đúng là kiểu chàng giải phóng
quân được Tố Hữu ca ngợi: “Kính chào anh con người đẹp nhất! Lịch sử hôn anh,
chàng trai chân đất, Sống hiên ngang bất khuất trên đời, Như Thạch Sanh của Thế
kỉ 20…”[2]
Anh giữ được nguyên bộ tư trang binh sĩ giải phóng
quân nghiêm chỉnh nhất trong số anh em đi bộ đội về: mũ cối mới tinh, bộ quân
phục binh sĩ vải Tô Châu mới tinh, đôi dép cao su (dép râu) mới tinh, đôi giày
vải, đôi tất chống vắt[3],
cái thắt lưng lính mới tinh. Tôi chỉ thấy anh không có cái bi đông và cái mũ
tai bèo. Anh còn cái áo may ô có tay vải màu bộ đội, vài cái quần đùi rộng
thùng thình nữa. Nghĩa là gần “nguyên cây” trang phục người lính chiến
trường, thuộc loại “xịn” nhất từ viện trợ Trung Quốc.
Còn chuyện này thì chúng tôi chỉ nghe chứ không được
trông thấy. Anh kể: trong số chiến lợi phẩm chiến trường anh còn giữ được một
cái đồng hồ Omega rất quý và một cái mật gấu khô. Cái đồng hồ Omega là một gia
tài khi ấy, anh bảo giữ làm kỉ niệm, còn cái mật gấu thì để phòng thân không ốm
đau (!) Mỗi khi anh Nội kể chuyện, anh có kiểu khịt khịt mũi rất lạ, như đang
thử khứu giác trong chiến trường xem hướng nào có mùi thuốc ruby của bọn lính. Anh
còn kể rằng hết chiến tranh có nhiều người lính của ta kiếm được khá nhiều vàng
chiến lợi phẩm, nhưng quân cảnh kiểm tra rất nghiêm ngặt nên chỉ những anh nào
biết quan hệ với dân và gửi lại trong dân, sau này ra quân quay lại may ra mới lấy
được. Đơn vị sau giải phóng thường xuyên kiểm soát tư trang và báo động thay đổi
nơi đóng quân nên nhiều anh bị phát hiện của cải chiến lợi phầm và bị thu lại hết.
Cũng từ chuyện tư trang “đồ xịn” của anh mà anh có lần
đã rất khổ vì nó. Một hôm chúng tôi thấy anh ở quê lên, mặt buồn xịu, không nói
chuyện với ai. Mấy ngày sau anh mới kể: hôm đó mình đội cái mũ cối mới, đi xe đạp
từ quê lên. Đến Cầu Chui Gia Lâm lúc gần tối thì gặp một bọn xông ra cướp mũ.
Chúng cầm được mũ của anh còn quát lớn gọi anh là thằng này ăn cắp mũ cối, hô đánh
cho một trận. Thế rồi anh bị đấm mấy cái rồi bị cướp mũ cối đang đội. Bọn cướp chuồn
thẳng trước cái nhìn ngơ ngác của anh và mọi người đi đường. Hồi đó cái mũ cối
mới tinh đáng giá lắm, chỉ bọn anh chị ở Hà Nội mới có và mới dám đội chúng.
Nhìn bọn đội mũ cối mới chắc chắn là dân “chợ giời” không ai dám bén mảng,
tránh xa như tránh cứt thối. Sau lần ấy, chúng tôi cũng không thấy anh mang đôi
dép râu nữa, ngay cả bộ Tô Châu cũng ít khi thấy anh mặc.
Anh Nội quê ở xã Tích Giang, huyện Ba Vì tỉnh Hà
Tây. Anh có cái xe đạp Phượng Hoàng nên thường xuyên về quê ngày nghỉ cuối tuần.
Khi đó trong phòng có vài người có xe đạp nhưng xe của anh Nội là tốt nhất. Nhưng
dù có xe tốt mà hàng tuần anh đạp xe về quê từ ĐHNN I cũng cỡ 60km, mỗi lần về
anh cũng phải đạp cả buổi, 4-5 tiếng ấy chứ.
Có một lần tôi được vinh dự anh rủ về quê anh chơi. Ấy
là khoảng năm thứ 3 đại học. Anh bảo về thăm quê cho biết, nhưng về đến quê mới
biết anh có ý mời tôi về dự một lễ cưới người bà con trong thôn. Hai anh em thay
nhau đạp xe đằng đẵng qua các địa danh tôi chưa từng biết, đến tận chiều tối
thì về đến thôn anh ở. Vào đầu thôn đã thấy anh chào một số người quen trên đường.
Giọng quê anh nghe khá vui tai, kiểu giọng Ba Vì bay “chất liệu dấu” làm câu
nói như thoải ra, giãn rộng. Về nhà anh tôi biết anh còn bà mẹ già nhưng khá khỏe
mạnh, một em trai tên Thìn đã có gia đình, có nhà riêng trong thôn. Lại còn cô
em gái nhỏ xinh xắn khi đó mới vào Trung cấp Thương nghiệp ở Chợ Mía Sơn Tây,
tên Khuất Thị Thêm. Bố anh đã mất và em Thêm chắc kém tuổi tôi vài tuổi nên cái
tên Thêm có lẽ là sự may mắn của ông bà sinh được con gái út nhỏ nhắn xinh
xinh. Tôi nhớ anh Thìn đến chào tôi sau bữa ăn tối trong ánh đèn dầu, nói chuyện
một lúc rồi về. Còn em Thêm thì cùng ngồi ăn nhưng tôi không thấy em nói gì. Chỉ
lơ mơ một khuôn mặt người sông Tích lặng lẽ, âm thầm, nhưng khuôn mặt nhỏ thanh
tú và mái tóc rất mượt ở tuổi mới lớn thì đến nay tôi vẫn còn hình dung được.
Sáng hôm sau anh đưa tôi đi thăm quanh làng một lúc
rồi về nhà. Bà mẹ dặn anh về bữa cỗ cưới trưa. Anh bảo tôi đi ăn cỗ cưới cùng
anh. Tôi e ngại vì không quen biết gì nhưng anh bảo cứ đến cho biết phong tục
cưới quê. Tôi và anh đi bộ trong xóm, đến sớm xem trang trí lễ cưới.
Từ xa nhìn vào thấy rất đông người ra vào, một cái rạp
trên che bằng những lá cót, các cột là những thân tre chôn xuống đất. Rạp che
kín một cái sân không rộng, bày được khoảng mươi mâm cỗ. Mọi người đang tấp nập
ra vào đón khách và dọn mâm bàn.
Mấy người ra chào hỏi anh Nội và tôi. Nói chuyện một
lúc thì xếp chúng tôi vào một mâm có nhiều người còn trẻ. Món ăn quê được dọn
lên và chuyện uống rượu được triển khai sớm nên rất rôm rả. Anh Nội uống rượu rất
nhiệt tình với mọi người, còn tôi thì dè dặt và uống ít hơn anh. Men rượu quê
hâm nóng bầu không khí lễ cưới ồn ào vui vẻ. Chúng tôi ra về khi tiệc tàn. Tôi
thấy anh Nội liêu xiêu đi, mặt đỏ bừng. Về đến bờ tre gần nhà, tôi thấy anh khó
chịu dừng lại và ngồi xuống ôm bụng. Một lát sau anh chới với đứng dậy, tôi đỡ
anh về nhà. Chắc tại anh đã uống khá nhiều rượu, lại đi bộ đường quê nhiều gió.
Thấy chúng tôi về trong tình trạng anh say rượu, mẹ
anh lo lắng cuống lên đặt anh nằm, xoa dầu gió cho anh và luôn mồm nói: có
sao không con, sao lại uống nhiều thế, không bị say tại bàn chứ, mọi người mà
biết chuyện này thì khổ con ạ… Đại loại là những chuyện người mẹ lo cho sức
khỏe của con, lo con bị ảnh hưởng tai tiếng. Tôi như người có tội ngồi im lặng
không nói gì.
Thế là cả chiều hôm đó anh Nội nằm mê mệt. Tối chúng
tôi ăn cháo lại sức và sáng hôm sau về trường rất sớm vì đáng ra theo kế hoạch
thì chiều hôm đó chúng tôi đã trở về trường. Chuyện này chỉ có tôi với anh biết,
cho đến nay tôi mới có dịp nhớ lại.
Một lần vào năm cuối đại học, anh Thìn - em trai anh
Nội - đến chơi. Anh Thìn ngủ lại một đêm ở phòng chúng tôi. Nghe chuyện anh
Thìn tôi thấy anh cũng bôn ba vất vả gia đình làm nông như bao người. Anh Thìn
luôn nói anh Nội nhát lắm, về quê không chịu đi tán gái, không dám lấy vợ. Có mấy
người ở quê định dạm cho anh mà không thấy anh có ý kiến gì. Chuyện của anh
Thìn kể về quê hương rất dân dã, hơi tếu chút. Giang và Bính rất thích nghe những
chuyện của anh Thìn.
Hồi đi bộ đội, chúng tôi đóng quân ở chợ Mía và biết
có trường Trung cấp Thương nghiệp ở gần đấy. Tôi lại nhớ em Thêm nhà anh Nội từng
học ở đây, có lẽ lúc đó đã ra trường. Có một lần anh Nội bảo tôi: “Ảnh có
thích lấy em Thêm thì anh giới thiệu.” Chuyện ấy đúng là chưa đến duyên với
tôi.
Như đã nêu ở một vài ghi chép trước về tổ 1, anh Nội
hiền lành, hay bị anh Trần Duy Học bắt nạt[4].
Chuyện anh Học trêu anh Nội giống y thằng “bị bệnh nhiệt thán”[5] thì anh Nội vẫn cười
khặc khặc. Cái cười của anh rất đặc biệt: miệng mở rất to, mắt nhắm tít, tiếng
khặc khặc phát ra từ sâu trong cổ họng. Khi ngủ, anh cũng thường mở miệng và ngáy
khá to. Anh Học trêu anh Nội: “Khi ngủ thì mở miệng ra, đến khi khép lại chết
3 nghìn ruồi.” Chẳng bao giờ anh Nội nói xấu hay trêu chọc ai cả. Kể cả khi
bị anh Học trêu, anh cũng không hề tỏ ra giận dỗi, như kiểu mọi người đang nói
đến ai đó chứ không phải mình… Trong một số chuyện anh Nội kể, anh rất hay dùng
từ “dớ được” để nói về ai đó gặp may mắn hoặc kiếm được món hời. Anh Học
có hôm bảo: “Lâu nay Nội không có chuyện ‘dớ được’ nào mới à? Thế là anh
Nội lại khịt khịt nghĩ ra một chuyện để mọi người cùng cười. Khi tếu anh cũng
vui phết, chuyện năm thứ nhất anh kể và hát cho chúng tôi nghe bài Cô y tá[6] và bài này được
chúng tôi đồng ca hôm ra trường cùng với anh cũng là một kỉ niệm rất vui.
Về học hành, anh Nội ở cái thế biết bọn trẻ học giỏi
hơn anh. Lại nghe nói hồi đi bộ đội bị thương vào đầu nên nay trí nhớ giảm, học
không vào. Mà đúng là anh có cái sẹo trên thái dương thật, sẹo nhỏ hơn sẹo của
anh Học. Anh không đủ tiêu chuẩn là thương binh có lẽ vì vết thương nhẹ chăng?
Nếu anh có sổ thương binh thì chúng tôi đều biết vì hồi đó ai có sổ thương binh
đều được cấp bìa mua thuốc lá căng-tin.
Lần lớp KT20A kỉ niệm 20 năm ngày ra trường (năm 2000),
anh Nội có về dự cùng mọi người. Khoảng những năm 2001-2002, tôi có dịp đi dạy
lớp Tại chức ở huyện Phúc Thọ. Tại đây tôi được đến thăm gia đình anh Đỗ Văn Đức
và được anh Đức cho biết anh Nội đang sống ở Phố Gạch. Thế là một buổi chiều tối,
sau khi dạy xong tôi lên chơi với anh. Hỏi thăm biết chắc nhà anh, tôi đi xe
máy ghé vào thấy anh đang sửa xe cho khách. Tôi chào, anh ngơ ngác nhìn tôi hỏi:
“Bác muốn sửa gì à?” Tôi gọi tên anh, anh vẫn ngồi mà chưa nhận ra tôi.
Có thể tại lúc đó gần tối, lại quá đột ngột nên anh ngồi nhìn lên không nhận ra
tôi. Phải nói khi đó tôi đã khá to béo nên có thể anh cũng thấy lạ. Khi nói tên
anh cười bảo: “Tớ thực sự không nhận ra cậu.”

Anh Nội và tôi năm kỉ niệm 20 năm ngày ra trường
![]() |
| Anh Nội, Chiến cùng vợ chồng Quế ngày gặp năm 2000 |
![]() |
| Một số anh Tổ 1 (trừ anh Việt ghé vào) - người chụp hình này là tôi |
Anh lấy vợ khá muộn, vợ anh khá xinh xắn, nghe đâu
quê ở chợ Mía, Đường Lâm. Lâu nay chúng tôi không có dịp gặp anh. Mỗi lần họp gặp
lớp, chúng tôi đều nhờ anh Đỗ Văn Đức báo tin. Anh Đức mấy lần gần đây bảo anh
Nội cũng không được khỏe, người cứ ngất ngất nhớ nhớ quên quên. Ồ, bây
giờ thì ai cũng già rồi.
Chúng tôi rất quý anh Nội, một người anh từng là chiến
binh, từng mất sức tại chiến trường, từng là sinh viên theo tiếng gọi của Tổ quốc
lên đường đi chiến đấu. Ra trường công tác, anh Nội là viên chức bình thường giản
dị, sống vui với gia đình và về hưu hoàn thành mọi nghĩa vụ với đời. Những người
như anh Nội là những người thực sự chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, thực sự lao động bằng
sức lực của mình. Chỉ thế thôi, giản dị như một con người!
Chúng tôi mong anh và gia đình anh mạnh khỏe, bình
an.
[1] Các ngành học khác hồi khóa 20, 21 cũng có bộ đội về học,
nhưng không nhiều như ngành Kinh tế nông nghiệp.
[2] Các câu thơ trên trong Bài ca xuân 68 của nhà
thơ Tố Hữu. Xem bài thơ tại https://www.thivien.net/T%E1%BB%91-H%E1%BB%AFu/B%C3%A0i-ca-xu%C3%A2n-68/poem-s69G8NUeutMQyNufuKHP3g
[3] Bộ đội Trường Sơn được cấp đôi tất (vớ) đi rừng chống
vắt của Trung Quốc trang bị rất tốt: phần đế chân có lớp nilon dày (khi cần có
thể đi mà không cần giày). Tất dài và rất chắc để khi đi rừng vắt có bám vào
cũng không thể hút máu được.
[4] Chuyện đã ghi chép ở https://lehuuanhghichep.blogspot.com/2025/07/lop-va-to-hoc-tap-nhung-nam-ai-hoc-cua.html


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét