Thứ Năm, tháng 1 08, 2026

Năm thứ 3 - Những môn học đầu tiên về chuyên môn nghiệp vụ của kĩ sư kinh tế nông nghiệp (kì 3)

 Học môn Kế toán nông nghiệp

Môn học được thiết kế 120 tiết, học ở kì 2 năm học 1978-1979 (năm thứ 3). Giáo viên giảng dạy là PTS[1] Nguyễn Quang Thoại.

Thầy Thoại đi học ở Liên Xô từ thời thiếu sinh quân, sau đó học tiếp lên đại học. Thầy về trường ĐHNN I làm cán bộ giảng dạy khoảng năm 1965-1966 gì đó, sau đó lại được cử đi học nghiên cứu sinh khoảng năm 1968-1971, bảo vệ luận án PTS khoảng năm 1971.

Khi đó chúng tôi được học thầy Thoại là vinh dự lắm vì trong các môn học chuyên ngành chỉ mới có thầy là PTS nước ngoài về. Thầy quê Nga Sơn, Thanh Hóa, giọng nói rất rõ ngữ âm xứ Thanh. Thầy cao tầm thước, ăn mặc cũng thấy bình dân chứ không sang trọng (mặc dù thầy khi đó có nhiều quần áo đẹp). Lối giảng bài của thầy rất tự nhiên, hay cười một cách thoải mái với những câu chuyện của thầy về những năm tháng học ở Liên Xô. Thầy có cả chục năm ở Liên Xô nên những năm chiến tranh chống Mỹ thầy gần như không được chứng kiến. Các buổi giảng của thầy tôi cảm nhận được là không gì đặc biệt về bài giảng, cách viết bảng hay nội dung chuyên môn. Một lối giảng khá tự do, phóng túng, tùy hứng, hết giờ mà vẫn không kết thúc được các phần, các mục. Hôm sau vào mục lại loạn cả lên vì không biết hôm trước đã dừng ở đâu. Sau một hồi tìm ra mục nối tiếp thì thầy cười một cách tự nhiên thoải mái, như không có vấn đề gì xảy ra.

Thầy đến lớp mà gần như không biết tên ai trong lớp. Nghe buổi giảng của thầy chúng tôi không rõ thầy đang dẫn chúng tôi đi đâu: không hề có mục dẫn đề, các nội dung thì miên man, nhiều khi ngồi nghe giảng mà tôi không cảm thấy khoái vì cười, vì không phải ghi chép mà lại cứ thấy lo lo cho thầy vì giảng thế làm thế nào thầy làm sao chốt được vấn đề cần nói?

Hồi đó, chúng tôi được học Môn Kế toán nông nghiệp có 3 nội dung rõ ràng: Phần I, Nguyên lí kế toán (30 tiết), Phần II, Kế toán HTX (45 tiết) và Phần III, Kế toán NTQD (45 tiết).

Các nội dung nguyên lí còn nhớ lơ mơ liên quan đến vốn – nguồn, cấu trúc một tài khoản kế toán gồm bên Nợ, bên Có, (số phát sinh đầu kì, trong kì, số phát sinh cuối kì). Bảng cân đối số phát sinh, loại tài khoản có số dư đầu kì bên Nợ hay bên Có…

Khi đó chế độ sổ sách kế toán theo hình thức kế toán nhật kí chứng từ. Phần Kế toán HTX là chế độ hạch toán 43 tài khoản ứng với mô hình quy mô HTX toàn xã. Phần Kế toán NTQD là chế độ hạch toán 64 tài khoản có các quy định kế toán ứng với mô hình Nông trường, trạm trại nông nghiệp. Chúng tôi nhớ rất nhanh hệ thống tài khoản theo hình thức trên: Tài khoản số hiệu 01 là TSCĐ, 02 là Khấu hao TSCĐ, 03 Sửa chữa lớn TSCĐ, 05 là Nguyên vật liệu, 09 là Súc vật con và súc vật nuôi béo, 12 là Vật rẻ tiền mau hỏng, 50 là Tiền mặt, 51 là Tiền gửi ngân hàng, 25 là Chi phí sản xuất chung, 26 là Chi phí quản lý… cho đến số hiệu 99 là Lãi, lỗ.

Thầy giảng phần Nguyên lí kế toán khá nhanh (khoảng hơn 20 tiết) và không có bài tập hay yêu cầu thực hành gì. Phần Kế toán HTX dài lê thê vì giảng để phục vụ đi thực tập HTX. Khi đi thực tập về còn hơn 2 tuần thầy dồn cho Phần Kế toán NTQD, nhưng chắc chỉ còn mươi tiết vì thầy nói Kế toán NTQD cơ bản như Kế toán HTX.

Nội dung mà thầy “say sưa nhất” tôi nghĩ là thầy giảng về các tài khoản chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nông nghiệp. Phần giảng này thầy có vẻ như thầy quên hết các công việc như xác định các tài khoản liên quan, xác định chi phí phát sinh, kết chuyển số dư… Thầy nói khá sâu về các thành phần chi phí trong giá thành sản phẩm nông nghiệp, các vấn đề xác định chi phí trong các bộ phận phức tạp cần phân bổ như khấu hao TSCĐ, chi phí sản xuất chung, chi phí quản lý, chi phí chờ phân bổ, xác định sản phẩm hỏng trong nông nghiệp… Và tất nhiên chuyện “cháy giáo án” thường xuyên xảy ra để câu chuyện trên bài giảng cứ nhảy từ “trong lề” ra “ngoài lề” rồi lại vào “trong lề” miên man hoài. Giá mà có một giáo trình thì lối giảng như thế rất cần trong thể hiện tinh thần “tự do đại học” để đưa người học đến các nội dung mở rộng học thuật trong tự tìm hiểu, học hỏi. Nhưng tài liệu giảng dạy chỉ là một danh mục các tài khoản theo chế độ kế toán hiện hành (43 và 64 tài khoản). Người học thực sự khó nắm vững nguyên tắc xác định đối ứng tài khoản, định khoản ghi chép các con số phát sinh… Chúng tôi đem chuyện này nói với các anh chị KT18 sắp ra trường thì các anh chị ấy cũng nói hiểu về kế toán còn lơ mơ lắm. Nếu ai được học thầy Trương Xuân Ngô[2] thì làm được kế toán ngay khi ra trường, con học thầy Thoại thì có lẽ hợp với việc nghiên cứu chính sách, chế độ kế toán.

Học hết phần Kế toán HTX là chúng tôi đi thực tập giáo trình. Chuyện đi thực tập giáo trình được thầy hướng dẫn là nắm được các loại sổ sách kế toán trong HTX, các biểu mẫu báo cáo kế toán.

Sau khi đi thực tập về, toàn bộ phần III, Kế toán NTQD chế độ 64 tài khoản được học nhanh trong mấy buổi, gần như quá mất cân đối trong cơ cấu thời gian dạy mà thầy Thoại bố trí lên lớp. Thầy nói các nội dung kế toán NTQD sẽ được thực tập năm thứ 4 khi chúng tôi được đi NTQD Mộc Châu. Nhưng sau này môn học đã thi xong và nội dung hướng dẫn thực tập ở Mộc Châu do Bộ môn Tổ chức QLXN xây dựng nên coi như chẳng được tìm hiểu gì về kế toán NTQD.

Môn này thi viết ngày 22-7-1978, tôi đạt được điểm 5/5. Có lẽ cũng nhiều người được đạt điểm 5/5 vì đề thi rất dễ và ngắn, thời gian thi tới 90 phút nhưng nội dung chỉ làm trong mươi phút là xong. Cả lớp nộp bài ra về trước khi hết giờ quy định.

Chuyện được đọc luận án PTS của thầy Thoại tại Thư viện Quốc gia

Sau này tôi được đọc luận án PTS của thầy ở Thư viện Quốc gia (số 31, Phố Tràng Thi, Hà Nội). Theo quy định, tất cả các luận án của NCS đều phải nộp một bản chính tại Thư viện Quốc gia. Riêng các luận án bảo vệ nước ngoài thì còn phải thêm 1 bản tóm tắt được dịch ra tiếng Việt[3]. Năm 1992, tôi dành gần 1 năm để đọc tài liệu tại Thư viện Quốc gia phục vụ công việc nghiên cứu của tôi. Tôi đã tìm và mượn được toàn bộ luận án PTS của thầy Thoại (bản tiếng Nga). Lúc này tôi đọc được tiếng Nga chuyên ngành, nhất là các nội dung chuyên môn kế toán tài chính nên cơ bản hiểu được nội dung luận án của thầy Thoại. Luận án thầy nghiên cứu có tên là “Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm lúa tại các Nông trang tập thể Vùng[4]… Liên Bang Nga, CCCP”. Khi thầy Thoại bảo vệ thành công luận án về kế toán về nước thì thầy là PTS Kế toán đầu tiên của Việt Nam được bảo vệ ở Liên Xô. Thảo nào trong các nội dung bài giảng cho chúng tôi, thầy Thoại có điều kiện để phát triển hết các tư tưởng về hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nông nghiệp.



[1] Thầy Thoại là PTS Kế toán đầu tiên của Việt Nam học ở Liên Xô về nước. Thầy là Phó Chủ nhiệm Khoa Kinh tế nông nghiệp trước khi về hưu, sau này thầy chuyển về sống ở quê Nga Sơn Thanh Hóa. Năm thầy mất, tôi và một số cán bộ trong trường đã về viếng tại quê thầy (khoảng năm 2009-1010(?).

[2] Thầy Trương Xuân Ngô dạy Kế toán, khi chúng tôi học thầy đang chuẩn bị chuyển vào trường Cán bộ quản lý nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp tại Thành phố HCM (số 45 Đinh Tiên Hoàng). Sau nay thầy là Hiệu trưởng trường này trước khi về hưu.

[3] Quy định tất cả các luận án PTS (nay gọi là TS) đều phải nộp luận án cho Thư viện Quốc gia.

[4] Hình như vùng Krasnodar (hay còn gọi là Kuban), đây là vùng lúa chủ yếu của Liên bang Nga (trong Liên Xô trước đây) (gần biển Đen).

Thứ Ba, tháng 1 06, 2026

Năm thứ 3 - Những môn học đầu tiên về chuyên môn nghiệp vụ của kĩ sư kinh tế nông nghiệp (kì 2)

Học môn Thống kê nông nghiệp

Môn học được thiết kế 120 tiết, học ở kì 2 năm học 1978-1979 (năm thứ 3). Giáo viên giảng dạy là cô Kĩ sư[1] Đỗ Thị Ngà Thanh.

Cô Thanh học đại học từ Liên Xô về, nhưng ngày cô dạy chúng tôi thì không ai biết đó là giáo viên đã từng đi học ở Liên Xô bởi cô rất nghiêm nghị khi giảng bài, có cảm giác rất khó gần và luôn giữ khoảng cách với sinh viên rất đúng mực.

Cô người thấp, nhưng gọn và săn chắc, tóc tết thành một đuôi sam to dài quá lưng. Cô có giọng khá chuẩn Hà Nội, nói gãy gọn, chính xác và rất ít câu thừa – đúng là chính xác như con số thống kê. Cô dành sự viết bảng hợp lý, các đề mục rõ ràng một bên, phần nêu công thức một bên, cơ bản không phải xóa bảng khi hết giờ. Mọi sự cô chuẩn bị bài, giảng bài, viết bảng, nêu nội dung, tiểu kết từng phần rất đầy đủ - không thừa không thiếu. Tôi vẫn nghĩ đó là sự hoàn thiện được nỗ lực rèn luyện và được tự đánh giá qua kinh nghiệm hàng năm lên lớp của cô[2].

Môn học Thống kê nông nghiệp có giáo trình khổ rộng cỡ A4, giấy trắng, in typo đẹp, rất nặng. Một cuốn sách được in khá chu đáo của NXB Nông nghiệp. Tác giả là 2 giáo viên: Tô Dũng Tiến[3] và Đỗ Thị Ngà Thanh. Bản thân tôi rất ấn tượng với những cuốn sách viết nghiêm túc, không có lỗi in ấn, được trình bày đẹp, rõ ràng. Môn học có 2 nội dung: Phần I gồm có Chương mở đầu (đối tượng, mục tiêu, phương pháp…), các Chương về Điều tra thống kê, Tổng hợp thống kê, và Phân tích thống kê. Phần II gồm Thống kê đất đai nông nghiệp và tư liệu sản xuất trong nông nghiệp, Thống kê ngành trồng trọt, Thống kê ngành chăn nuôi, Thống kê ngành tiểu thủ công nghiệp. Tôi không còn nhớ rõ nội dung từng chương, nhưng học về điều tra, tổng hợp, phân tích thống kê thì rất “khoái” vì thấy như đã được vạch rõ một việc có thể áp dụng chi tiết để triển khai khi ra công tác sau này. Các anh chị khóa trên nói, đây là một “món võ” quyết định công việc của kĩ sư kinh tế nông nghiệp sau này nên chúng tôi học rất cố gắng. Có cái háo hức của người học kết hợp với sự truyền đạt nghiêm túc nên những gì học được cứ như những món để dành chờ khi thực hành trong công việc tương lai. Môn học được tôi ghi chép khá cẩn thận và học kĩ càng, nghiêm túc. Dưới đây là những kí ức còn lại về nội dung môn Thống kê nông nghiệp cô Thanh dạy.

·     Điều tra thống kê

Cô giảng về chuẩn bị một cuộc điều tra: cần chuẩn bị công cụ (dây, thước, cân, que cắm tiêu…), giấy vở ghi chép, các biểu mẫu hoặc tự thiết kế các bảng thống kê. Quan trọng nhất là dự kiến nhân lực điều tra. Tùy tính chất của cuộc điều tra mà có cách tổ chức nhân lực khác nhau nhưng nhất thiết phải thống nhất hướng dẫn, tập huấn để bảo đảm thực thi đúng, chính xác.

Một nội dung có tính kĩ thuật trong điều tra thống kê là biết cách phân tổ thống kê. Phân tổ thống kê giúp làm rõ ý tưởng thiết kế cuộc điều tra và tạo ra được sự đánh giá khi tổng hợp thống kê theo các ý đồ của cuộc điều tra.

·     Tổng hợp thống kê

Tổng hợp kết quả điều tra thành những con số để từ đó có dữ liệu phân tích thống kê. Trong quá trình tổng hợp cần phải biết tổ chức ghi chép các kết quả trung gian bằng cách thiết kế các bảng thống kê phù hợp. Qua đây tôi hiểu được có 2 loại bảng biểu. Khi ta thiết kế một nội dung để theo dõi, quan sát ở dạng hàng và cột (tức là kiểu ma trận) là được coi là một bảng thống kê, nhưng đó chưa phải là một bảng chuẩn (chỉ là một bảng ghi chép kết quả cho tiện lợi). Chỉ khi một nội dung thống nhất thì các bảng được thiết kế thành biểu mẫu thống kê. Biểu mẫu là một bảng được “mẫu mực hóa” nên chuẩn xác, là cơ sở để thống nhất tính toán trong phân tích thống kê.

·     Phân tích thống kê

Từ các số liệu điều tra được tổng hợp lại thì có thể đi đến phân tích các kết quả thống kê. Biểu thị của phân tích thống kê được thể hiện ở 2 loại chỉ tiêu phân tích: tỉ sốchỉ số thống kê.

Có rất nhiều công thức tính được chúng tôi được học: trung bình cộng, trung bình nhân, bình quân gia quyền, bình quân kì hòa… Lại sử dụng các kí hiệu của toán hồi thầy Thanh dạy như xích ma (Σ), pi (Π), phương sai (σ2) và độ lệch chuẩn (σ). Các chỉ tiêu thể hiện động thái thống kê: tốc độ phát triển (liên hoàn và định gốc), tốc độ tăng lên tương đối và tuyệt đối khi so sánh các thời kì.

Mấy anh em trẻ chúng tôi rất thích cách tính các chỉ số thống kê. Khi lấy kết quả A chia cho B (A/B) thì được chỉ tiêu ở dạng tỉ số thống kê. Chẳng hạn năng suất lúa (N) bằng sản lượng (S) chia cho diện tích (D) hay N = S/D. Nhưng khi so sánh sản lượng lúa giữa năm trước và năm sau ở một HTX, tất nhiên HTX có nhiều thửa ruộng, nhiều giống lúa nên có sự thay đổi cả về diện tích và năng suất thì phải dùng cách tính (S1 - S0). Khi đó chỉ số thống kê[4] như công thức dưới đây sẽ biết được sự thay đổi năm sau so với năm trước (năm 1 so với năm 0).

Phân số đầu là tỉ lệ sản lượng thay đổi năm 1 so với năm 0 (được tính từ tổng nhiều thửa ruộng có năng suất và diện tích khác nhau). Phân số thứ 2 xác định được sự thay đổi đó do diện tích tạo ra (chú ý là người ta cố định năng suất năm thứ 1), còn phân số thứ 3 là sự thay đổi do năng suất tạo ra (chú ý là người ta cố định diện tích năm thứ 0). Từ đây ta biết được cách tính sản lượng thay đổi bao nhiêu tấn (hay bao nhiêu %) là do diện tích tạo ra thay đổi bao nhiêu tấn (ứng với bao nhiêu %) và năng suất tạo ra thay đổi bao nhiêu tấn (ứng với bao nhiêu %). Việc tính toán này cũng có thể áp dụng để tính doanh thu (do giá bán và sản lượng bán tạo ra). Hay ghê, biết được cái nào tạo ra sự thay đổi bao nhiêu phần trăm, bao nhiêu giá trị. Tuyệt quá, một cách tính đơn giản mà hiệu quả biết bao!

Một nội dung khá lí thú nữa mà chúng tôi được học (nhưng không nhiều lắm) là biểu thị kết quả phân tích thống kê bằng đồ thị. Có nhiều dạng đồ thị: hình cột, hình tròn, hình đường thẳng… Đây là cách thể hiện tốt kết quả phân tích nhưng chúng tôi chưa có điều kiện sử dụng. Chắc sau này đi làm đề tài tốt nghiệp sẽ dùng nhiều[5].

Có nhiều bài tập được cô Thanh cho chúng tôi làm về nhà. Quan trọng nhất là các bài tập này ai cũng hiểu và làm được vì toàn dùng công cụ toán nhưng lại áp dụng trong công việc cụ thể trong nông nghiệp nên rất dễ tưởng tượng ra. Cái đầu học nông nghiệp đã hiểu biết hoạt động nông nghiệp nên khi đặt toán vào là thấy rõ ngay ý đồ áp dụng toán để đo, đếm, tính toán… nên tự nhiên cảm thấy thú vị và áp dụng được.

Sang Phần II cô dạy về nghiệp vụ thống kê nông nghiệp như thống kê đất đai, thống kê trồng trọt, thống kê chăn nuôi… Phần này không lí thú lắm, chỉ là kiểu đo, đếm rồi phân tổ để phân tích. Chẳng hạn có bao nhiêu loại đất thì cứ đo đạc rồi tổng hợp vào các bảng biểu thống kê theo các mục tiêu phân tích. Tuy nhiên tôi thấy có mấy nội dung khá lí thú về thống kê sản phẩm nông lâm nghiệp.

Cuộc điều tra kết quả thống kê có thể xảy ra khi các sản phẩm nông nghiệp chưa thu hoạch như cây trồng chưa đến vụ thu hoạch, sản lượng cá đang sống dưới ao chưa thu hoạch, sinh khối rừng cây rừng đang lớn chưa đến tuổi thu hoạch… Lúc này phát sinh các kĩ thuật thống kê như lấy mẫu, ước lượng và sử dụng cả kinh nghiệm của các “lão nông” (ví dụ nhìn tăm cá đoán sản lượng cá trong ao). Tuy nhiên lấy mẫu thống kê là phương pháp khoa học nhất. Đây cũng là chuyện cô Thanh nói chúng tôi sẽ được áp dụng khi đi thực tập HTX kì này.

Vào giữa tháng 5-1978, chúng tôi được tập huấn các nội dung đi thực tập giáo trình môn học Thống kê nông nghiệp. Công việc cụ thể của môn học cho các nhóm đi thực tập HTX ở huyện Gia Lâm là lấy mẫu và gặt điểm để thống kê năng suất lúa vụ xuân 1978. Cô Thanh hướng dẫn rất cẩn thận thủ tục gặt điểm thống kê: phóng điểm trên bản đồ, chọn điểm ngoài thực địa, thủ tục gặt điểm, thu thập, phơi theo mẫu… Phần này tôi sẽ nói kĩ hơn ở nội dung Đi thực tập giáo trình môn học.

Khi ôn tập, cô Thanh cho nhiều dạng bài tập trong đó chủ yếu là xác định số bình quân và bài tập áp dụng chỉ số thống kê. Các bài tập không khó lắm vì khi cô giảng đều có ví dụ rất cụ thể nên ai cũng bắt chước được. Hồi đó Cao Ngọc Đức là cán sự môn học này. Một hôm Cao Ngọc Đức rủ tôi lên lên nhà cô Thanh để trao đổi một số nội dung ôn tập. Tôi chỉ đi theo mà không có câu hỏi nào (khi đó tôi đang là cán sự môn tiếng Nga). Đến nhà cô Thanh vào buổi tối, khoảng 8pm. Khi chúng tôi đến, gia đình cô vừa cơm nước xong. Cô ở một phòng nhỏ cuối tầng 3 (nhà tập thể A3 cán bộ). Một chỗ tiếp khách nhỏ phía sau có giá nhiều sách nhưng rất gọn gàng. Tôi thấy trên giá có nhiều sách chữ Nga. Cô mời ngồi uống nước và nhận ra chúng tôi ở lớp KT20A. Sơ sơ màn chào hỏi thì Đức xin phép nêu những vấn đề tập hợp ý kiến ôn tập trao đổi với cô. Cô trả lời rất tỉ mỉ từng câu, từng ý. Đức còn hỏi cô rằng những nội dung vừa qua lớp đi gặt điểm thống kê năng suất lúa thì có trong nội dung thi không. Cô nói: “Đó là những kĩ thuật các bạn cần biết cho một cuộc điều tra nhỏ. Chuyện đó không có nội dung thi. Chỉ cần nắm vững các bài tập với những con số giả định để thực hành việc tính toán. Mà các cậu học giỏi thì lo gì, cố lên!”. Chúng tôi ra về và rất yên tâm ôn tập môn học.

Môn này phải thi viết ngày17-7-1978 vì khi đó bộ môn không có đủ giáo viên hỏi thi. Kết quả thi tôi đạt điểm 5/5. Có nhiều người cũng đạt 5/5 như Cao Ngọc Đức, anh Chình, Giang, Bính…



[1] Cô Đỗ Thị Ngà Thanh bảo vệ luận án PTS khoảng năm 1990 tại ĐHNNI, được công nhận là PGS kinh tế năm 1996. Hiện nay cô đang sống trong thành phố HCM cùng gia đình.

[2] Cô Thanh sinh 1940, khi dạy chúng tôi, cô ở tuổi 38.

[3] Thầy Tô Dũng Tiến sinh 1941. Khi chúng tôi học môn Thống kê nông nghiệp, thầy Tiến đang đi học thi nghiên cứu sinh. Sau đó thầy đi học Liên Xô, bảo vệ luận án PTS 1982, được công nhận PGS 1991, GS 1996.

[4] Chỉ số thống kê như trên cơ bản là đơn giản nhưng có ý nghĩa rất trực tiếp. Ngày nay người ta vẫn đang sử dụng tính chỉ số chứng khoán trên thị trường. Tuy nhiên trong phân tích các nhân tố ảnh hưởng thì ngày nay người ta dùng các phương pháp hàm mũ có kết quả mô phỏng tốt hơn rất nhiều (trong kinh tế gọi chung là dạng hàm sản xuất Cobb-Douglas).

[5] Hồi đó chưa có máy vi tính, sau này nhiều công cụ phần mềm như Excel vẽ đồ thị rất đẹp.

 

Chủ Nhật, tháng 12 28, 2025

Năm thứ 3 - Những môn học đầu tiên về chuyên môn nghiệp vụ của kĩ sư kinh tế nông nghiệp (kì 1)


Mở đề

Đến hết năm thứ 2, chúng tôi mới chỉ được học môn Địa lý kinh tế - “màn dạo đầu” để đi vào chuyên môn. Bắt đầu từ năm thứ 3, chúng tôi được học Kinh tế nông nghiệp (ở kì 1) và Thống kê nông nghiệp cùng Kế toán nông nghiệp (ở kì 2). Việc bố trí chương trình theo tôi là khá hợp lý: người ta đưa hết môn cây trồng vào kì 1, chỉ “nếm thử” Kinh tế nông nghiệp để kì 2 đủ sức “xơi” tiếp 2 môn chuyên môn: Kế toán nông nghiệp và Thống kê nông nghiệp. Môn Kinh tế nông nghiệp là nền tảng kinh tế khi đã “ngấm” vào đầu rồi thì có cơ sở để tiếp nhận các nghiệp vụ chuyên môn. Các anh KT18 nói với chúng tôi: kĩ sư kinh tế nông nghiệp chỉ cần vững 3 “món võ”: Thống kê, Kế toán và Kế hoạch là đi đâu cũng sống được. Chúng tôi tiếp thu kiến thức năm thứ 3 trên tinh thần rất háo hức vì coi đó là những gì cần thu hoạch để ra trường đi làm kiếm ăn, để tìm đường làm nên sự nghiệp của người kĩ sư kinh tế.

Tôi sẽ lần lượt ghi chép lại kí ức theo từng môn học bởi có những lôgic chung nhưng lại rất riêng về chuyên môn. Mặt khác, các kí ức còn nhớ lại phần lớn từ những người thầy dạy thời đó. Lần theo kí ức những gì người thầy dạy sẽ nhớ dần ra các câu chuyện của chúng tôi. Cũng phải kể đến chuyến đi thực tập giáo trình lần 1 ở khối HTX chính là thực tập 2 môn học Thống kê và Kế toán nông nghiệp. Đó cũng là trải nghiệm rất thú vị vì chúng tôi sẽ được quan sát và bắt tay vào một số công việc trong thực tế gắn với những gì được học trong trường.

Tôi tạm chia ghi chép này thành các kì: Học môn Kinh tế nông nghiệp; Học môn Thống kê nông nghiệp; Học môn Kế toán nông nghiệp và Chuyến đi thực tập giáo trình lần 1.

 

Học môn Kinh tế nông nghiệp

Môn học được thiết kế 120 tiết học trong học kì 1 năm học 1978-1979 (năm thứ 3). Giáo viên giảng dạy là thầy Kĩ sư[1] Nguyễn Dương Đán và thầy Kĩ sư[2] Phạm Vân Đình.

Phần giảng dạy của thầy Nguyễn Dương Đán

Về nội dung thì tôi không nhớ được cụ thể, kí ức chỉ còn đôi điều không rõ ràng lắm. Phần thầy Đán dạy trước, hình như 2 chương đầu, gồm Chương mở đầu (đối tượng, phương pháp…) và Chương cơ sở kinh tế sản xuất nông nghiệp (HTX và NTQD, Trạm trại sản xuất).

Hồi thầy Đán giảng bài, có lí do gì đó ở CLB Cán bộ nên chúng tôi được bố trí học ở tầng 1 CLB Sinh viên. Một phòng học nhỏ hơn nên 2 lớp phải ngồi 3 người 1 bàn. Thầy Nguyễn Dương Đán người thấp nhỏ, nói nhẹ, giọng Nghệ An nghe khá rõ nhưng thầy nói đều đều không lớn nên thầy thường đứng ngay trước dãy bàn thứ nhất để giảng chứ không đứng vào chỗ kê có bàn kê trên bục giảng. Thầy cũng rất ít viết trên bảng.

Thầy khi đó khoảng 50 tuổi, ăn mặc khá nghiêm chỉnh, tóc chải mướt lên trên. Thầy có nét nói chuyện khá duyên vì miệng như luôn có nụ cười rất sẵn sàng. Nghe nói thầy từng đi học ở Trung Quốc. Lối giảng chậm rãi, ôn hòa, nhẹ nhàng, bài giảng trơn tru trôi qua đầu óc chúng tôi nghe khá hay mà sao không đọng lại được nhiều. Thầy rất ít ví dụ minh họa mà nêu nhiều nguyên lý kiểu áp đặt, chẳng hạn nào là tổ chức HTX là tất yếu, không còn cách nào tốt hơn đối với nông dân là gia nhập HTX, nào là NTQD là mô hình tiên tiến trong tổ chức sản xuất nông nghiệp, nào là mô hình phân phối trong HTX bảo đảm nguyên tắc hài hòa, lấy tích lũy làm cơ sở phát triển nhưng vẫn bảo đảm cuộc sống người lao động, không tạo ra phân hóa giàu nghèo… Đại loại những thứ nếu ngày nay mà nghe thì chúng tôi đều biết thầy đã gieo vào đầu chúng tôi bao nhiêu sự “giáo điều” lý thuyết – mà hồi đó kiến thức kinh tế đâu đâu cũng chỉ rặt một thứ giáo điều! Cũng rất may là trong cuộc sống sau này chúng tôi đã không bị cột chặt vào những giáo điều ấy khi thấy sự vận động của thực tiễn nhiều khác biệt thú vị.

Hồi đó môn Kinh tế nông nghiệp đã có giáo trình in cẩn thận, chính thầy Đán là một trong những tác giả của giáo trình ấy (cùng chung tác giả với thầy khác tôi không nhớ tên, hình như thầy Nguyễn Lân thì phải). Vì có giáo trình nên phần đọc chép đỡ đi nhiều và vì thế chúng tôi có nhiều thời gian để nghe giảng. Thời đó học không hề có sự tương tác như sau này – chỉ duy nhất thầy nói trò nghe và ghi chép. Kiểu giảng của thầy rất đều đều, âm lượng không bao giờ được nhấn mạnh lên xuống ngữ điệu, không có sự khoa tay “chém chặt” nhấn ý chốt từ. Bài giảng từ lúc vào đến lúc ra như một bài ru nhẹ nhàng, êm ái để người nghe không có ý thức ghi tâm mà như thưởng thức sự ru ngủ nhẹ nhàng.

Vì lối giảng không có tương tác nên chúng tôi thấy không bao giờ thầy nêu ra câu hỏi hay vấn đề gì để tranh luận hoặc bắt chúng tôi phải suy nghĩ. Đến lớp nghe “kinh” về kinh tế nông nghiệp mà không sao nhớ được những điều thầy đang nói và cũng không thấy trăn trở gì về những điều thầy đang dạy. Chỉ có cảm giác thấy mình không hề yên tâm chút nào về cái mình học được gì từ những kiến thức “cao siêu” kia, lại như có một chút lo âu về việc làm sao áp dụng được chúng khi đi làm sau này. Cứ tưởng những vấn đề chuyên môn là những điều mình học như “nhặt lấy kiến thức cho vào bị” để ra trường lấy ra thực hành thì trái lại: không thấy cái gì có thể “nhặt được” từ những điều thầy Đán dạy.

Chẳng hạn thầy nói về đặc điểm sản xuất nông nghiệp: một là, sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào tự nhiên; hai là, ruộng đất là TLSX không thể thay thế; ba là, đối tượng sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống và bốn là, sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ. Những kiến thức này thật ra không ấn tượng lắm vì chúng vừa như tất nhiên, vừa là những tổng kết có vẻ không điển hình lắm so với những gì chúng tôi từng chứng kiến nông nghiệp thời tuổi thơ chăn trâu, cắt cỏ, kiếm cá, làm đồng. Trong lòng cứ nghĩ đại học phải học những cái gì to tát, xa xôi chứ những món này như đều đã “biết cả rồi”…

Phần giảng của thầy Phạm Vân Đình

Thầy Đình dạy liên quan đến các vấn đề về kinh tế đất đai, tư liệu sản xuất, chế độ phân phối thu nhập... Tôi lần lượt nhớ cảm giác nghe bài giảng của thầy để lôi ra vài kí ức liên quan đến các nội dung còn đôi chút sót lại “lơ mơ” theo các buổi thầy giảng.

Tôi thấy phần thầy Phạm Vân Đình dạy rõ và cụ thể hơn rất nhiều. Khi đó chúng tôi đã trở lại học ở Giảng đường 8 CLB Cán bộ rộng rãi hơn. Thầy Đình tốt nghiệp Đại học Kinh tế - Kế hoạch (tương đương khóa 12 của ĐHNN I). Thầy Đình quê Thái Bình, người cao và gầy, trán hói. Mặc dù cũng không hề có ý tương tác với người học nhưng thầy lên xuống giọng và đi lại nhiều để mỗi buổi giảng lần lượt trình ra bảng đen một “danh mục” nội dung cần trình bày. Có lúc như thầy đang thao diễn: không nhìn xuống lớp, mỗi khi dừng viết là đứng trước bục nhìn xa xăm lắm, như là ở nơi xa ấy có “cái kho” để thầy lấy chữ giảng bài cho chúng tôi.

Thầy Đình có lối giảng thích viết bảng, cuốn hút người nghe bằng kiểu nêu vấn đề và diễn giải khá lôgic. Cấu trúc bài giảng của thầy rất rõ ràng: các phần đều có các ý đi kèm cụ thể (trái hẳn lối dạy của thầy Đán). Các mục có nhiều ý, mỗi ý có nhiều gạch đầu dòng là các nội dung chi tiết. Khi cần giảng thì thầy dừng lại rồi sau đó thêm ý tiếp. Cách giảng đó ghi chép rất dễ dàng và cũng cơ bản hiểu được khi các ý được phân chia ra nhiều nội dung nhỏ… Chỉ có điều khi phải học và nhớ thì rất khó nhớ theo đúng trật tự những cái “gạch đầu dòng” của thầy. Tuy nhiên, khi ôn và thi thì tôi rút ra một điều quan trọng là cứ nhớ đủ ý “gạch đầu dòng” là được, không nhất thiết phải theo đúng trật tự “gạch” trước thì nêu trước, “gạch” sau nêu sau. Đại loại như một mâm cỗ có 5 món ăn, ai nêu món nào trước cũng được miễn sao đủ 5 món là xong. Người ta gọi cách dạy kinh tế như thế này là “chỉ cần đủ, không cần lôgic”. Chẳng hạn chúng tôi học môn cây trồng thì nếu “gạch đầu dòng” 1 là làm đất, “gạch 2” là gieo hạt, “gạch” tiếp là tưới nước, bón phân, thu hoạch. Không thể có “gạch” thu hoạch trước “gạch” làm đất hay gieo hạt. Cần đủ là được tất nhiên dễ hơn so với vừa đủ lại vừa phải lôgic. Phần dạy của thầy dễ nhớ và dễ học – dễ vì miễn sao kê cho đủ các “gạch đầu dòng”, mà giả dụ có thiếu vài cái “gạch” thì cũng không sao vì như mâm có 5 món mà chỉ nhớ có 3 món – kết quả là nhớ thiếu 2 món chứ không vì thế mà gọi là sai được!

Tôi còn có ấn tượng về vài nội dung thầy dạy. Thầy nhấn mạnh đất đai trong nông nghiệp vừa là tư liệu sản xuất vừa là đối tượng sản xuất. Đây là lần đầu tiên tôi phân biệt được rõ đối tượng sản xuất và tư liệu sản xuất so với những gì tôi được học ở môn Kinh tế chính trị (năm thứ 2). Đất đai là tư liệu sản xuất với tư cách như một công cụ lao động, nhưng lại vừa là đối tượng sản xuất chủ yếu và không thể thay thế với tư cách đất đai là nền tảng để tiến hành sản xuất (cày cấy, trồng trọt), là nơi chứa đựng, cung cấp sản phẩm (cây, quả, lâm sản). Nói rõ thêm là: khi coi đất đai như tư liệu sản xuất nghĩa là cần có mặt bằng để tiến hành các hoạt động canh tác để tạo ra sản phẩm (như để trồng cây, chăn nuôi, trồng rừng). Còn khi coi đất đai là đối tượng sản xuất vì thấy đất đai là trực tiếp chứa đựng sản phẩm của lao động (chứa hạt giống, cây trồng, vật nuôi), là tài nguyên thiên nhiên được khai thác để tạo giá trị cho con người. Trong trồng trọt, người nông dân cày xới đất (sử dụng đất như công cụ) để cấy lúa và chính cây lúa mọc lên từ đất (đất là đối tượng được tác động để tạo ra sản phẩm). Trong chăn nuôi, đất là không gian cho chăn nuôi (tư liệu sản xuất) và là nơi sinh trưởng cho gia súc (đối tượng sản xuất). Do đó, đất đai có vai trò độc đáo, vừa là yếu tố đầu vào (tư liệu) vừa là yếu tố được tác động và tạo ra sản phẩm (đối tượng) trong quá trình sản xuất kinh tế, đặc biệt là nông nghiệp. 

Về đặc điểm ruộng đất cũng có nhiều điểm rất đáng nhớ: a/ ruộng đất là sản phẩm của tự nhiên và sản phẩm của lao động; b/ ruộng đất bị giới hạn không gian, nhưng sức sản xuất của ruộng đất không giới hạn; c/ ruộng đất có vị trí cố định và chất lượng các vị trí không đồng đều; d/ ruộng đất là TLSX chủ yếu nhưng không bị hao mòn, đào thải mà trái lại hoàn toàn có thể làm độ phì của đất tốt lên. Các ví dụ minh họa về 4 điểm này đều rất rõ và dễ thấy. Tuy nhiên, hồi đó chưa thừa nhận thị trường đất đai nên thầy giáo khi đó có thể cũng chưa biết hết về nội dung thứ 3 (tức ý c/) rằng mỗi một thửa đất đều là một đơn vị hàng hóa “độc nhất vô nhị” trên thị trường như ngày nay quan niệm.

Cũng từ nội dung học của thầy Đình mà tôi bắt đầu rõ được một điều rất quan trọng: một quá trình sản xuất cần tối thiểu 3 thứ: người lao động cầm trong tay công cụ lao động để tác động vào đối tượng lao động. Ba thứ đó được gọi là 3 yếu tố của một quá trình sản xuất: sức lao động – tư liệu lao động – đối tượng lao động. Một quá trình sản xuất nhất thiết phải đủ 3 yếu tố (yếu tố là thành tố trọng yếu nhất thiết phải có, thiếu một trong 3 yếu tố thì không thể thành được một quá trình sản xuất)[3]. Trong nông nghiệp cổ truyền, người nông dân (sức lao động) cầm cây gậy nhọn (công cụ lao động) chọc những cái lỗ trên đất để tra hạt giống xuống (đất và hạt giống là đối tượng lao động) rồi chờ cây mọc lên, ra sản phẩm để thu hoạch. Thế là đủ cho một quá trình sản xuất hoàn chỉnh! Sau này, trong kinh tế hàng hóa, quan hệ tiền – hàng xuất hiện và khi các quá trình sản xuất không thể thiếu thành phần công nghệ thì người ta diễn giải còn có thêm yếu tố vốn, yếu tố công nghệ

Một nội dung khác của phần thầy Đình dạy: thâm canh trong nông nghiệp là con đường chủ yếu để phát triển sản xuất nông nghiệp. Thâm canh được thầy giảng rất dễ nhớ: thâm canh là sự đầu tư thêm sức lao động hoặc tư liệu sản xuất để tạo ra nhiều sản phẩm hơn trên một đơn vị diện tích hay một đơn vị diện tích được sử dụng hiệu quả để tạo ra nhiều sản phẩm. Cứ đầu tư thêm (mọi thứ) để kiếm nhiều sản phẩm tăng thêm trên một đơn vị sản xuất nông nghiệp là thâm canh (chú ý: chưa hẳn đã hiệu quả hơn nếu giá trị tăng thêm không lớn hơn chi phí tăng thêm). Trong canh tác nông nghiệp, trái với thâm canh (intensive farming) là khái niệm quảng canh (extensive farming)[4].

Chúng tôi còn được thầy kĩ sư Nguyễn Tiến Thêu dạy chương Kinh tế lao động thay thầy Đình. Thầy Nguyễn Tiến Thêu (quê Thanh Hóa) chỉ dạy có 2 buổi về kinh tế lao động trong nông nghiệp và bản thân thầy Thêu có viết một cuốn bài giảng mỏng chỉ riêng về kinh tế lao động. Cuốn sách in roneo trên giấy đen, không đẹp và chỉ mấy chục trang nhưng chúng tôi rất tôn trọng vì cũng coi như biết được quá trình lao động giảng dạy của thầy Thêu đã đủ tích lũy để có viết được sách. Tôi đã mượn được cuốn của thầy trên thư viện và thấy cách viết về kinh tế lao động của thầy Thêu rất dễ nhớ và khá hay. Lao động là một trong 3 yếu tố của quá trình sản xuất. Lao động là nguồn tạo ra của cải, lao động cũng cần tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng. Tái sản xuất giản đơn là sự phục hồi sức khỏe để sản xuất tiếp, còn tái sản xuất mở rộng là người lao động được đào tạo, tích lũy để nâng cao chất lượng lao động, nâng cao năng suất lao động, người lao động được chăm lo bồi bổ sức khỏe cho bản thân và cuộc sống cho gia đình để khỏe mạnh, hạnh phúc dài lâu.

Môn Kinh tế nông nghiệp thi vấn đáp ngày 20-1-1978, tôi đạt 4/5 điểm. Nghe nói môn này thi vấn đáp chưa có ai được 5/5 điểm.

Một vài câu chuyện liên quan về học môn Kinh tế nông nghiệp

·     Tôi được dự buổi bảo vệ luận án PTS của thầy Nguyễn Dương Đán

Khi dạy chúng tôi, thầy Đán đang làm luận án PTS kinh tế. Vào năm 1979 thầy bảo vệ luận án tại Hội trường C[5]. Khi đó, tôi nghe thông báo trên loa nhà trường nên đã đến dự vì sự tò mò. Đề tài nghiên cứu sinh của thầy có tên đại loại là “Chăn nuôi lợn tập thể trên quy mô liên HTX” (tôi không nhớ chính xác). Tôi biết có một số anh em lớp KT20AB được cử đi thực tập có đến các HTX ở Yên Phong, Bắc Ninh, nơi thầy triển khai đề tài và một số địa phương khác như ở Nam Định, Gia Lâm. Hình như KT20A có nhóm của Nguyễn Các Mác lúc đó cũng đến Yên Phong thực tập giáo trình về đề tài của thầy.

Hôm bảo vệ, tôi thấy thầy trình bày ý tưởng rằng nếu các HTX liên kết chăn nuôi lợn quy mô lớn thì có thể hình thành nên vùng sản xuất thức ăn gia súc tập trung. Một ý tưởng kiểu sản xuất lớn XHCN lúc ấy. Sau này thì có lẽ đề tài không áp dụng được nhiều vì mô hình HTX toàn xã suy yếu dần từ những năm 1979-1980[6]. Nhưng nếu ngày nay nhìn lại thì tôi nghĩ đề tài của thầy có khi lại là ý tưởng hay khi đặt vấn đề sản xuất theo chuỗi ngành chăn nuôi lợn tập trung?

Hôm bảo vệ tôi thấy trong Hội đồng gồm 11 nhà khoa học đến từ nhiều trường do thầy Lê Duy Thước làm Chủ tịch Hội đồng[7]. Các thầy đều ăn mặc sang trọng, áo trắng đeo có cà-vạt. Lại thấy cả thầy Trần Văn Đức, Giang Quốc Úy[8] ở bộ môn Kinh tế nông nghiệp cũng áo trắng đeo cà-vạt ngồi dự, oai ghê!

·     Chuyện “mở rộng” khái niệm thâm canh trong nông nghiệp

Khi dạy khái niệm thâm canh (là đầu tư thêm về lao động sống hoặc tư liệu sản xuất trên một đơn vị diện tích để tăng thêm sản lượng), thầy Đình liên hệ trong thực tế chuyện tăng vụ cũng là một kiểu thâm canh khi diện tích được quay vòng nhiều lần trong năm (tức là đã đầu tư thêm chi phí và lao động).

Khái niệm thâm canh được “mở rộng” ra cả lĩnh vực khác. Hồi đó tôi vẫn chỉ có vài bộ quần áo. Thấy hôm nào tôi cũng mặc áo bộ đội vải Tô Châu cũ từ năm thứ nhất, Cao Ngọc Đức đùa rằng: Ảnh vận dụng đúng khái niệm thâm canh, chỉ một áo sơ mi mà dùng nhiều lần trong tuần coi như một dạng “thâm canh cao” rồi. Hồi đó Cao Ngọc Đức có áo sơ mi vải nilon màu xanh lam rất đẹp, ngoài ra còn vài bộ để thay đổi trong khi tôi chỉ “thâm canh” cái áo bộ đội vải Tô Châu cũ sờn. Nhờ chuyện vui này đã giúp nhau nhớ lâu hơn về khái niệm thâm canh đã học.

Áo vải Tô Châu bộ đội cũ sờn năm ấy

·     Chuyện tập huấn đi thực tập giáo trình môn Kinh tế nông nghiệp

Vào kì 2, mặc dù môn Kinh tế nông nghiệp đã thi từ kì 1 nhưng khi đi thực tập giáo trình lần 1, Bộ môn Kinh tế nông nghiệp vẫn đưa nội dung này vào để chúng tôi tìm hiểu trong thực tế các HTX. Thầy Đình hướng dẫn đề cương về tìm hiểu cơ cấu đất đai HTX: mỗi nhóm phải có báo cáo sử dụng đất, đánh giá tình hình sử dụng đất theo một bảng thống kê có mẫu sẵn. Khi đi thực tập chúng tôi cũng có làm theo nhưng khi về thì không thấy ai nói gì vì môn học đã thi xong nên chắc các thầy cũng quên, thành ra có tìm hiểu, có thu thập và viết báo cáo nhưng không phải nộp. Nhiều nhóm đã khôn nên không làm báo cáo. Nhóm tôi vẫn làm nghiêm túc, nhưng cũng coi như “vô tác dụng”.

 

 



[1] Thầy Nguyễn Dương Đán bảo vệ luận án PTS năm 1979 tại ĐHNNI, được công nhận là PGS kinh tế năm 1991.

[2] Thầy Phạm Vân Đình bảo vệ luận án PTS tại Bulgaria năm 1986, được công nhận PGS năm 1996, GS kinh tế năm 2003. 

[3] Các yếu tố sản xuất ngày nay được diễn giải không cơ bản như hồi chúng tôi học. Người ta bàn đến rất nhiều yếu tố “linh tinh” khác, không còn tính “không thể thiếu” của các yếu tố cơ bản.

[4] Về khái niệm thâm canh và quảng canh, mời xem thêm tại https://bloomranchofacton-com.translate.goog/pages/what-is-the-difference-between-extensive-and-vs-intensive-farming?_x_tr_sl=en&_x_tr_tl=vi&_x_tr_hl=vi&_x_tr_pto=tc

[5] Thầy Nguyễn Dương Đán là người bảo vệ thành công luận án PTS thứ 3 của trường ĐHNNI (sau thầy Phan Trọng Cung ngành Thú y và thầy Trần Long ngành chọn giống cây trồng), nhưng là người đầu tiên bảo vệ thành công luận án PTS ngành kinh tế.

[6] Từ 1982 bắt đầu có Chỉ thị 100 về khoán trong nông nghiệp.

[7] Sau này tôi có thời gian làm việc ở Khoa sau Đại học nên tôi biết danh sách 11 thầy trong Hội đồng chấm luận án của thầy Đán do thầy Lê Duy Thước làm Chủ tịch Hội đồng.

[8] Lúc này thầy Úy vẫn là Giáo viên Chủ nhiệm lớp KT20A, còn thầy Đức học KT16 được ở lại trường. Chúng tôi cũng đã biết từ thời thầy Đức còn ở KTX nhà B3.