Thứ Bảy, tháng 11 29, 2025

Vào năm thứ 3 – nhiều chuyện đáng nhớ (kì 2)

Chuyện anh Trương Quốc Vinh

Hồi ở nhà B3, anh Trương Quốc Vinh lớp KT20A có dấu hiệu bệnh tâm thần (?) gì đó. Anh chui cửa vào dọn một góc gác xép tầng 3 bị hỏng khu vệ sinh để ở, không ngủ trong phòng KTX nữa. Trốn vào ngồi học trong khu vệ sinh là chuyện lạ - thực ra cũng chẳng ảnh hưởng đến ai – nhưng quan trọng là chuyện anh cứ xung phong phát biểu và một số chuyện anh nói, anh trao đổi có cảm giác như anh đang ở thế giới khác. Môn Triết học năm thứ nhất mọi người thấy anh nói những chuyện không ai hiểu, nhưng đến môn Kinh tế chính trị năm thứ 2 thì nhiều người cho rằng trong phát biểu của anh là có gì đó ngớ ngẩn, vô nghĩa. Thế rồi người ta cho rằng anh đang bị bệnh tâm thần cần phải đi cứu chữa ở Bệnh viện tâm thần Sài Đồng. Tôi còn nhớ một chi tiết hồi đó anh phát biểu: “Muốn đưa đất nước lên sản xuất lớn XHCN thì trước hết phải giải quyết vấn đề chiến tranh biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc”. Khi đó là năm 1978, chiến tranh biên giới Việt – Trung[1] chưa xảy ra – anh có ý “tiên tri” từ đâu vậy? Anh viết rất to bằng phấn trên tường trong phòng vệ sinh TRƯƠNG QUỐC VINH – QUỐC TẾ VINH. Có lẽ cho đến năm thứ 3 anh Vinh không những không chơi với ai mà có khi anh cũng không biết tên mọi người trong lớp.

Một hôm, vào đầu giờ chiều người ta quyết định đưa anh đi Bệnh viện Sài Đồng. Kế hoạch được sắp xếp khá kĩ: xe ô tô nhà trường đỗ trước KTX, cán bộ y tế bí mật đứng xa và một cán bộ của trường lên mời anh đi họp về chuyện gì đó mà anh thường phát biểu. Khi ra cầu thang anh thấy bóng cán bộ y tế là anh biết có chuyện không bình thường. Anh đã chạy ngược cầu thang lên gác 3 đứng ngoài hành lang nói xuống với mọi người rằng nếu lên bắt anh đi bệnh viện thì anh sẽ nhảy từ tầng 3 xuống (tự tử). Thế là không ai dám lên bắt anh xuống. Người ta dùng phương án khác: cho bạn Mác tiếp cận Vinh. Mác to khỏe, khi tiếp cận sẽ tìm cách ôm chặt Vinh, sau đó anh em 2 lớp KT20AB sẽ ập vào cùng đưa Vinh xuống và áp tải lên xe đưa đi bệnh viện. Mác đã lừa được Vinh và bất ngờ ôm chặt, mấy anh em lao vào giữ được Vinh đang giãy giụa kịch liệt và sau cùng đã đưa được Vinh xuống xe ô tô. Bạn Mác và anh Thắng lớp KT20B phải đi cùng ô tô đưa Vinh lên bệnh viện. Từ đó về sau không ai trong chúng tôi còn biết tin về anh Trương Quốc Vinh nữa.

Chuyện liên hoan khoán

Nhờ lao động rèn nghề mà chúng tôi có một kỉ niệm đáng nhớ: được một bữa liên hoan nhờ vượt khoán. Các lớp nhận khoán được đánh giá là có kết quả hơn so với ruộng không khoán và được thưởng một số tiền nhỏ. Lớp KT20A quyết định làm một bữa liên hoan chung.

Hôm liên hoan cũng vui đáo để, cả lớp tập trung ở KTX B3 để ăn tối. Phần cơm tối trên bếp tập thể được chị Thanh (lớp phó) liên hệ xin mượn đồ (xoong, nồi và một số bát đĩa) mang về. Các chị làm thêm các thức ăn tự chế biến thành một bữa ăn cải thiện vui vẻ. Xôm quá, nào là cử người đi chợ, nào là phân công linh tinh các loại công việc củi lửa. Bọn trẻ thì xách nước, nhặt rau, phụ bếp, bóc tỏi, bê nồi…  Tôi được phân công làm sạch mấy con cá trôi, cá chép đã được mua về để nấu canh chua – kiểu nấu bằng quả dọc nướng vàng rồi bóc ra làm chất gây chua, cho thêm cà chua, thì là, hành,… thì nồi canh chua cá sẽ rất hợp khẩu vị. Tôi có một kỉ niệm nhỏ: chị Thanh giao tôi làm cá, tôi làm sạch, bỏ mang, mổ bụng bỏ ruột nhưng không chú ý nên lấy không hết mật trong gan cá. Cá trôi, cá chép vốn là loại cá có mật rất đắng, nếu không lấy bỏ đi thì nồi canh sẽ mất ngon. Các chị phát hiện cá không bỏ hết mật nên canh chua bị đắng. Tất nhiên nồi canh chua hôm ấy mất đi một phần thơm ngon – nhưng may là hồi đó cả lớp đều đói, liên hoan vui nên chỉ tôi và mấy chị biết chuyện này. Nhờ lần đó mà sau này tôi biết được loại cá nào thì khi ăn phải bỏ mật, loại nào thì không được bỏ mật khi chế biến (mật cá rô, cá quả, cá kèo… rất thơm ngon, khi chế biến mà bỏ đi thì bị coi là chưa biết ăn cá).

Hôm đó chị Lư trổ tài món mới: chị luộc một bó hành củ tươi để nguyên cả củ và lá, dùng cây hành luộc đó quấn cuộn một con tôm đồng nhỏ đã luộc chín cùng một miếng thịt 3 chỉ bé tẹo và vài gia vị khác để thành một món ăn lạ mắt nhưng rất đẹp. Hành lá xanh, củ trắng, tôm đồng hấp màu đỏ cuộn lại xếp gọn trên đĩa. Mỗi người gắp một cuộn “xanh-trắng-đỏ” chấm mắm đưa lên miệng mà không cần thêm gì nữa. Món này vừa lạ, vừa đẹp nhưng mỗi người chỉ được một cuộn nên tôi không nhớ khẩu vị rõ ràng và cho đến nay cũng chưa từng được ăn lại. Đó là món ăn rất thú vị, lần duy nhất tôi được thấy và nếm thử trong đời.

Hình như các anh cũng mua được chút rượu để mỗi người vài hớp nhỏ. Thực ra cũng chỉ là lấy cơm tập thể đưa về phòng ăn chung cả lớp kèm thêm vài món cải thiện từ khoản tiền thưởng vượt khoán. Nhưng hồi đó thành một bữa liên hoan đáng nhớ, được dịp cả lớp ăn chung với nhau. Bạn Giang còn nhớ buổi liên hoan ấy có thêm nhiều thức ăn ngon. Thế mà anh Mo Lan trước khi ăn đã “đùa ác”: anh múc cho chị Lư một môi đầy quả bí ngô lấy từ bếp ăn tập thể về. Anh Lan bảo: “Ưu tiên nhường em Lư hôm nay bếp núc vất vả”… Chị Lư thật thà lo ăn hết món“bí ngô truyền thống” được người bạn thân quan tâm dành cho, chắc chị không còn cơ hội đụng đến món khác trong bữa cơm cải thiện ngon lành này. Thật là quá đáng nhớ!

Chuyện được đi thử xe Honda Cub 50

Cả lớp khi đó chỉ có Âu Dương Đức có xe Honda Cub 50 đầu tiên. Hồi đó mà có xe này là oai lắm, “oai hơn cóc” rồi. Các lưu học sinh Lào lúc này đều có xe máy cả, đa số là Kawasaki nam màu đỏ (trước thì chỉ có xe đạp thống nhất được mua theo chế độ cung cấp). Lớp KT21 có anh tên Ninh cũng có cái Honda 67 màu đỏ. Nhà Âu Dương Đức xa trường gần 50km, Đức là “cậu cả” chăm chỉ và chịu khó nên ông bố thương tình bán cả đàn vịt và mấy lò gạch để tậu cho con trai xe máy để đi về hàng ngày. Nếu ăn ở trường thì “cậu cả” đói không chịu được, chắc phải 3 suất một lần mới đủ!

Có vài lần Đức phải ngủ lại trường nên phải đưa xe máy lên tầng 3 bằng cách nhờ người khiêng lên. Đức có quy định rất rõ ràng: thằng nào khiêng lên thì được đi 1 vòng quanh khu KTX. Thế là lần lượt bọn trẻ đều khiêng lên và được hưởng món cưỡi Honda 50 đi một vòng.

Hôm đến lượt tôi, đầu tiên được hướng dẫn nổ máy, vào số, vặn ga, đạp phanh…  Tôi lên xe trước nhà B3, sau vài loạng choạng thì ổn định được tay lái và đầu tiên là phóng đến hết nhà B4 – khu nhà có nhiều nữ sinh khoa Trồng trọt, Chăn nuôi ở. Có lẽ nhiều người nghe tiếng xe thấy lạ nên ra nhìn và chắc chắn là được oai mấy phút khi xe vòng qua và vòng lại. Sau đó lên đến hết KTX B1, B2 rồi trở về B3 làm nghĩa vụ “cõng xe” è cổ lên tầng 3. Chỉ thế thôi mà Âu Dương Đức đã ban tặng cho bọn tôi được “nếm” món tự lái xe máy. Lần đầu tiên được biết cảm giác mùi xăng, khói xe, tiếng nổ, gió qua tai và quan trọng là cảm giác nhiều người nhìn theo mình lái xe, nhất là mấy cô em trong khu KTX nữ. Vào năm đó, hình như cũng do cái xe “của nợ” này mà Âu Đức đã có vài cái răng cửa đã đổi sang màu vàng thì phải[2]?

Mãi sau này, vào khoảng 1982, tôi và Bính, Giang lại được nếm trải đi xe Honda Cub 50 trên đường thành phố Cần Thơ, xe của anh bạn tên Châu, bác sĩ Bệnh viện 121.

 Chuyện tôi phải đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang

Một hôm ăn tối về thì tôi bị đau bụng rất dữ dội và được đưa lên bệnh xá trường. Khi đó trời tối mà tôi vẫn cứ nôn ói rất khủng khiếp. Tại bệnh xá trường, người ta chỉ theo dõi chứ không có biện pháp gì. Gần khuya tôi vẫn ói ra chất mật xanh rất đắng trong miệng. Thế là người ta nghi tôi bị “đau gì đó trong bụng” nghiêm trọng nên gọi xe đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Đức Giang. Nhiều anh em trong lớp nói tôi cần đi gấp vì nếu đau ruột thừa sẽ rất nguy, phải cấp cứu càng sớm càng tốt. Chỉ mình tôi và một nhân viên bệnh xá đi xe trường lên Bệnh viện Đức Giang làm thủ tục nhập viện. Tôi ở phòng cấp cứu đêm đó, khi đến viện vẫn còn nôn mật xanh thêm một lần nữa rồi may mắn mọi thứ êm dần, sáng dậy khỏi luôn.

Sáng hôm sau có anh Ngọc, anh Hợp và mấy anh em khác đạp xe đến thăm. Tôi thấy ổn nên xin xuất viện luôn. Ngồi sau xe đạp anh Ngọc về trường nghe kể mọi người lo lắng cho tôi. Đến trưa tôi thấy có người báo xuống tầng 1 đón khách. Tôi chạy ra thấy anh Đỗ - anh trai tôi – đến thăm. Thì ra khi tôi đi viện có ai đó đã giúp tôi gọi điện báo cho anh tôi biết. Sáng đó anh đến báo cáo cơ quan rồi đạp xe qua bệnh viện thăm tôi. Đến viện thì tôi đã về trường nên anh xuống trường luôn. Anh mừng vì tôi đã ổn định nên vào phòng ngồi chơi chút rồi về để kịp buổi làm việc chiều. Tôi xuống tiễn anh thấy anh đạp xe về giữa trời trưa nắng nóng, chiếc nón lá cũ anh mượn của ai đó đã gãy vành thành hình méo mó trên đầu anh. Tôi nhìn theo thương anh quá đỗi, giá tôi thì tôi đã không dám đội cái nón cũ méo đó lên đầu…

Chuyện đi xem tivi ở doanh trại quân đội

Hồi đó, vì có chỗ có thể nhảy qua tường, vượt mương bảo vệ ngoài để ra làng (thôn An Đào) nên chúng tôi thường ra doanh trại đơn vị quân đội gần đấy xem tivi. Đến doanh trại cạnh nghĩa địa Gò Cung chắc cũng cỡ hơn 1 km. Đơn vị tên lửa này trước đây anh rể tôi cũng đã từng đóng quân hồi tôi ra trường nhập học cuối 1975, nhưng sau đó anh đã chuyển đến đơn vị ở Hòa Bình. Các trại ở đây đều xây kiểu nhà cấp 4, cứ tối lại đưa cái tivi kê ra sân cho lính và cho phép cả dân làng vào xem.

Hồi đó tivi đang có phim “Trên từng cây số”[3], phim tình báo của Bulgaria có diễn viên đóng vai De-a-nov nổi tiếng và diễn viên hài đi theo tên Bom-bov. Bombov dáng thấp lùn, đầu hói cao, phản diện với vai Deanov cao ráo đẹp trai. Deanov như người sửa sai lầm cho Bombov càng làm nổi bật chiến công của Deanov. Phim dài 26 tập, được phát tối chủ nhật hàng tuần trên tivi nên rất nhiều lần chúng tôi được đến xem ở doanh trại đơn vị này.

Vì người xem lại lẫn lộn lính, sinh viên, thanh niên trong làng nên đôi khi cãi cọ xô xát nhau. Tôi có kỉ niệm về chuyện này.

Hồi đó nhờ tiêu chuẩn phiếu vải 5m nên năm thứ 2 tôi đã mua được một quần simili và cái áo sơ mi vải phin trắng. Nhờ anh Trần Duy Học mà cả phòng tôi đều may quần từ hiệu may của ông thợ phố chợ Như Quỳnh - theo anh Học thì ông thợ này may giỏi nhất vùng. Chúng tôi phải đi bộ (khoảng hơn 5km), sâu vào chợ Như Quỳnh để tìm hiệu may của ông. Có được bộ quần áo tươm tất nhất nên cứ ra khỏi nhà là diện, đi học hay đi xem tivi tối cũng cứ “nhất bộ” diện tuốt.

Một hôm có đám cự cãi gì đó của bọn thanh niên trong làng trên đường chúng tôi đi xem tivi và bỗng nghe bụp một cái, tôi bị vật gì đó mềm ném ngay sau gáy cổ chiếc áo trắng đang mặc. Tôi không thấy đau nhưng sờ lại thấy có gì dính ướt. Rơi bên dưới là một quả thị vỡ bẹp – thì ra kẻ nào đó đã ném nhau bằng quả thị chín và không may trúng vào lưng áo tôi. Lúc đi xem về cởi áo mới thấy một xết đen nâu đậm bám rịt vào phía sau cổ áo trắng rất rõ, một vết bẩn hình quả thị chín vỡ. Tôi vội đi giặt ngay nhưng không sao xóa được dấu vết nhựa quả thị chín. Thế là xong, coi như mất chiếc áo trắng gọi là sang nhất mãi đến năm thứ 3 mới sắm được. Tôi lại phải quay lại cái áo bộ đội chất vải Tô Châu đã mặc từ năm thứ nhất. Ôi cái áo trắng mới đã có số phận hẩm hiu quá. Kẻ nào ném nhau trong đám đông lại tìm đúng để phá mất cái áo trắng duy nhất tôi mới mua được. Hè năm đó tôi phải đi Thị xã Thanh Hóa để nhuộm thành cái áo màu tím than mặc tiếp sau này.

Chuyện diễn viên Bom-bov có cái đầu to hói cũng liên quan đến một chuyện vui khác. Hồi ấy Trưởng khoa Kinh tế nông nghiệp – thầy Phan Trọng Đỉnh cũng thấp lùn, đầu to, hói nên có người nói giống Bom-bov. Một hôm thầy Đỉnh nghe được ai đó nói ông Bom-bov bắt xếp hàng đi ăn cơm. Thầy Đỉnh nghe thế lại tưởng nhầm bọn sinh viên nói ông là Pol Pot. Có một lần họp ông nói: tôi muốn anh em đi ăn cơm xếp hàng trật tự thì người ta lại bảo tôi là ác ôn như Pol Pot – Ieng Sari. Cái nhầm của thầy có lẽ là thầy không được xem phim “Trên từng cây số” như chúng tôi.

Vài chuyện khác trong tổ 1

Anh Học và anh Thoại thành đôi bạn thân thiết nhất trong phòng. Hôm anh Học về quê anh Thoại đi lễ Đền Hùng, anh kể nhiều chuyện hay, lại thêm có cái mũ lá cọ to vành đội trông “rất ngầu”.

Lúc này anh Thoại và chị Thanh KT18 (cùng quê Vĩnh Phú) đã yêu nhau nên mỗi khi anh chị đi chơi về thường kể những chuyện cho bọn trẻ chúng tôi nghe. Nào là hôn nhau thế nào, đấu lưỡi ra sao… Chẳng rõ bao nhiêu thật, bao nhiêu phịa nhưng thích nghe anh kể lắm. Bọn trẻ gọi chuyện phịa của anh là chuyện “hệ số phi-a – phi a phia nặng phịa”. Tối nào anh đi chơi về cũng bắt anh nói vài chuyện “hệ số phi-a” trước khi ngủ để cười với nhau. Anh Thoại có cái mũi cao, mặt khá điển trai, lại có lối nói rất từ tốn nên chuyện của anh hấp dẫn lắm. Sau này anh Thoại và chị Thanh đã lập gia đình khi ra trường. Hồi anh công tác ở Sở Lao động Vĩnh Phú, tôi đã có dịp đến thăm anh và gia đình.

Anh Thoại hay trêu Tuấn (nhái) - khi đó anh Tuấn được phân công ngủ ở Tổ 1 chúng tôi. Anh Thoại nói: “Tuấn ơi, mày có biết hôm trước trong phòng ta có con chuột chù chạy bằng 3 chân không?” Tuấn bảo không biết. Anh rù rì nói: “Tao thấy chuột chù từ trong đôi giày của mày ra, nó chạy 3 chân, còn 1 chân nó bịt mũi. Nó kêu với mấy con khác: chúng mày ơi, ra ngay kẻo vào đấy ngạt mũi, viêm phổi chết luôn đấy”. Ô hô, hôi như chuột chù mà còn bịt mũi sợ viêm phổi thì đôi giày của Tuấn (nhái) phải hôi cỡ nào?

Anh Học thì có món say thuốc Lào rất độc đáo, trước khi đi ngủ là anh chuẩn bị sẵn chăn màn, hút một điếu rồi lăn kềnh ngay vào giường để cảm nhận cái say của thuốc lào đưa anh đi dần vào giấc ngủ. Kiểu đó như là trạng thái lên mây trước giấc ngủ - tôi biết là rất sướng nhưng vì không biết hút thuốc lào nên không dám thử.

Một chuyện khác: có một kẻ trong phòng hồi chiều ăn cơm về đã lấy riêng một cốc để dành đưa vào hòm đầu giường, khóa lại. Anh ta tính đi chơi tối về sẽ có nước uống. Thế là anh Học biết nên đã tìm cách lắc mạnh cái hòm ấy cho nước đổ ra trong hòm. Khi kẻ kia đi chơi về biết là đổ nước nhưng không dám kêu vì đã ích kỉ giấu cho riêng mình một cốc nước – tất nhiên là lấy mất phần của kẻ khác!

Lại một chuyện nữa: một kẻ có chè Thái Nguyên rất ngon nhưng để dành kĩ lắm, không dám pha mời mọi người. Thế là một hôm anh ta đi chơi tối bị nhóm anh Học lấy ra pha uống với nhau. Khi uống xong thì lại đem chính bã chè ấy ra bếp “rang sao lại” cho thật khô rồi gói vào để chỗ cũ. Kẻ kia đi chơi về được mời uống trà, khen trà ngon mà không biết đấy chính là trà của mình. Còn món “rang sao lại” thì không thấy kẻ đó nói gì!

Vẫn không có chuyện tình yêu trai gái trong đám trẻ chúng tôi. Cả lớp chắc rõ nhất là đôi anh Thoại – chị Thanh, sau này là anh Trí – chị Lệ (DT20). Sau khi đi thực tập giáo trình lần 1 về thì nghe nói có thêm những thân thiết của Mác, Đức (tổ 3) với một vài bạn trong lớp và cả với những thanh nữ làng Cửu Việt, nhưng có lẽ cũng chưa thành chuyện yêu đương rõ ràng gì. Hình như Chiến cũng bắt đầu yêu Hương (KT19) khi cùng đi thực tập một điểm – cả hai lại cùng quê Thái Bình. Chuyện tình yêu khi đó vẫn là chuyện không khuyến khích, nhưng có lẽ hầu hết bọn trẻ chúng tôi cũng chưa đủ trình độ để thành nên chuyện tình yêu nào cả.

Hồi đó, chúng tôi cũng thấy anh Nguyễn Văn Ngọc, anh Vũ Đình Hòe có vợ ra thăm trường. Các anh được bố trí ở cùng vợ ở khu nhà khách ngoài cổng trường mỗi khi vợ đến thăm. Dạo đó tôi cũng thấy anh Hòe giúp nhiều người mua được vải pho Lào (vì anh Đông Hà, có lẽ nhiều người buôn được vải từ Lào mang về).

Lúc này, anh Nguyễn Đăng Hợp đã có con gái thứ 2. Hôm mọi người đến thăm, anh Hợp nói dối là sinh con trai, đã bị anh Khang bóc phốt “kiểm tra” phát hiện chuyện con trai bị bà mụ “nặn lộn”. Tôi còn nhớ chị Thu cười khi anh em đến thăm lần ấy.

 

*

* *

 

Ái chà, cũng chỉ còn vài kí ức chuyện hồi ấy của chúng tôi – mà đã gần 50 năm rồi đấy. Những năm 1977-1978 khó khăn gian khổ đã giúp chúng tôi vượt qua và trưởng thành sau này. Tôi nghĩ những chuyện tôi ghi lại ở đây là toàn vui cả - những trò vui tạo những “cố kết” một thời trong tâm khảm trắc ẩn chúng tôi một thời sôi nổi.

Nghĩ đến, nghĩ lại… dường như cũng có chút tự hào nho nhỏ!



[1] 17-2-1979 mới xảy ra chiến tranh biên giới Việt - Trung

[2] Một lần Âu Dương Đức đến lớp đã bị tai nạn ngã gẫy răng cửa, nghe nói đụng ai đó ở ngay đường từ Trâu Quỳ vào trường. Đức kín đáo nên không kể với ai một cách rõ ràng chỉ nói một bà chị đi xe đạp bỗng nhiên từ trong ngõ “phọt ra” nên không tránh kịp.

[3] Trên từng cây số” là bộ phim truyền hình Bulgaria kể về cuộc chiến của nhân dân Bulgaria trong Thế chiến thứ 2. Diễn viên thủ vai thiếu tá Deanov là Stefan Lambov Danailov sau này từng là Bộ trưởng Bộ Văn hóa Bulgaria từ 2005-2009; Vai đại úy Bômbốp do nghệ sĩ nhân dân Grigor Vachkov đóng. Tham khảo tại: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C3%AAn_t%E1%BB%ABng_c%C3%A2y_s%E1%BB%91

 

 

Thứ Sáu, tháng 11 28, 2025

Vào năm thứ 3 – nhiều chuyện đáng nhớ (kì 1)

Mở đề

Năm thứ 3 được thiết kế khá thú vị: một gạch nối quan trọng giữa các nhóm kiến thức. Hết năm thứ 3 là chúng tôi hoàn thành kiến thức khoa học cơ bản, khoa học cơ sở, thể chất, quốc phòng và các hoạt động lao động. Các môn học trồng trọt khác cùng với môn Trồng trọt đại cương (học năm thứ 2) được ghép nối để thành bộ kiến thức cây trồng cho kĩ sư kinh tế. Nhiều môn học thuộc chuyên môn kinh tế nông nghiệp được thiết kế để hình thành nội dung thực tập giáo trình lần 1 – khối HTX sản xuất nông nghiệp.

Chuyện năm thứ 2 chỉ còn vài chi tiết về các tuần lao động và môn học Trồng trọt đại cương tôi sẽ tổng hợp theo nhóm bài viết riêng.

Thay đổi về tổ chức BCN Khoa

Thời gian này có sự kiện là nhiều giáo viên lâu năm trong khoa chuyển sang Viện Kinh tế nông nghiệp mới thành lập (trực thuộc Bộ Nông nghiệp). Kỳ 1 năm học 1977-1978, PTS Nguyễn Lâm Toán đang là Trưởng Khoa được cử làm Viện trưởng Viện Kinh tế đã kéo theo nhiều giáo viên trong Khoa sang Viện. Thầy Phan Trọng Đỉnh được cử làm Trưởng khoa Kinh tế nông nghiệp từ 1978-1982. So với các khóa trước, chúng tôi không được học nhiều thầy giáo lâu năm khi đó đã chuyển sang Viện Kinh tế nông nghiệp hoặc sang Trường Đại học Nông nghiệp II (đã chuyển vào Huế) từ năm 1976 và 1977.

Nhiều năm sau này tôi được biết thầy Phan Trọng Đỉnh vốn là sĩ quan chính trị, cấp bậc đại úy được cử về trường với nhiệm vụ ngăn chặn phong trào “nhân văn giai phẩm” những năm đầu thập kỉ 1960. Sau này, thầy học thêm hàm thụ, có bằng kĩ sư hàm thụ kinh tế nông nghiệp. Thầy có nhiều năm công tác ở Phòng Tuyên huấn trước khi được cử Trưởng Khoa Kinh tế nông nghiệp. Trong thời gian này, ở các trường đại học nói chung, ĐHNNI nói riêng cũng có nhiều sĩ quan quân đội được tăng cường (như thầy Bí thư Đảng ủy hồi đó tên Kình là trung tá quân đội).

Khoa có 3 bộ môn: Kinh tế nông nghiệp, Tổ chức quản lý XNNN và Thống kê – Kế hoạch – Kế toán. Bộ môn Thống kê – Kế hoạch – Kế toán dạy nhiều môn học nên có lần tôi được nghe thầy Đức nói đùa rằng nếu gọi tắt theo tên môn học thì tên Bộ môn là Thống - Kế - Kế - Tài – Phân – Cụ - Toán[1].

Nhắc lại tóm tắt về chương trình năm thứ 3

Kì 1: Học 2 môn thi là Kinh tế nông nghiệp (120 tiết) và Trồng trọt chuyên khoa (180 tiết); học 4 môn kiểm tra: Rau quả (45 tiết), Nga văn (45 tiết), Toán xác suất (45 tiết) và quân sự (4 tuần). Lao động rèn nghề 1 tuần.

Kì 2: Học 4 môn thi là Thống kê nông nghiệp (120 tiết), Kế toán nông nghiệp (120 tiết), Cơ khí nông nghiệp (120 tiết) và Nga văn kì cuối (60 tiết). Kiểm tra môn Công cụ tính (30 tiết).

Lao động rèn nghề tại trường (1 tuần). Lao động công ích xây dựng Thủ đô (2 tuần).

Thực tập giáo trình lần I: đi khối HTX thực tập chính là môn Thống kê nông nghiệp, quan sát thực tế một số nội dung môn Kinh tế nông nghiệp. 

Nhìn vào thiết kế chương trình trên chúng tôi thấy năm thứ 3 có các điểm sau:

          - Kết thúc các môn khoa học cơ bản, lao động rèn nghề và quân sự; 

         - Kết thúc kiến thức ngoại ngữ (Nga văn);      

         - Hoàn thành rèn luyện thể lực;

         - Học xong các môn học về cây trồng (chưa có môn học về chăn nuôi – thú y); 

         - Hỗ trợ kiến thức kinh tế nông nghiệp là môn Cơ khí nông nghiệp;        

        - Đi thực tập khối HTX môn học Thống kê nông nghiệp và Kinh tế nông nghiệp.

Chuyện học môn Toán xác suất có tính đột xuất vì chương trình đã cân nhắc loại bỏ môn Bảo quản chế biến để chúng tôi có cơ hội được học Toán xác suất. Đáng ra kiến thức toán phải kết thúc ở năm thứ 2, nhưng khi đó PTS Tô Cẩm Tú mới học Liên Xô về và đã kịp dạy chúng tôi học môn học này (tôi sẽ có dịp nói thêm trong các bài chi tiết ghi chép về năm thứ 3).

Năm thứ 3, chúng tôi có 2 tuần lao động tại trại TTTN trường theo quy định là lao động rèn nghề. Vào khoảng dịp đầu năm 1978, lớp được thông báo là mỗi lớp được giao một khu ruộng để cấy, làm cỏ, bón phân, gặt, phơi, nhập kho theo dõi riêng. Khi đó thầy Trưởng Khoa Phan Trọng Đỉnh có sáng kiến xin nhà trường cho các lớp của Khoa Kinh tế nhận khoán ruộng. Đây là sáng kiến mới vì người ta cho rằng nhận ruộng khoán có thể nâng cao trách nhiệm lao động rèn nghề. Thực chất chỉ là khoán một phần vì từ làm đất, làm mạ, phân bón, tưới nước, thuốc trừ sâu, máy tuốt, bảo vệ đồng ruộng, sân phơi và cả quyết định cấy, gặt theo thời vụ vẫn là do trại TTTN quyết định. Dù sao cũng có chuyện hàng tuần lớp cử người thăm ruộng và lúc quan trọng là lúc gặt – chú ý không để thất thoát, thu hoạch nhanh gọn, cử người phơi thóc và nhập kho có văn bản ghi chép hẳn hoi. Chuyện này cũng như một cuộc chơi thú vị, nhưng không đáng quan tâm lắm. Vào giữa tháng 4-1978, chúng tôi còn có 2 tuần lao động công ích xây dựng Thủ đô (tôi sẽ ghi chép cụ thể riêng về lao động).

Bối cảnh kinh tế - xã hội và cuộc sống KTX

Tình hình kinh tế đất nước rất khó khăn, cuộc sống sinh viên vất vả vì mất điện, mất nước thường xuyên và ăn uống kham khổ rõ nét, mở đầu cho 3 năm học ăn mì hạt Liên Xô.

Chúng tôi học năm thứ 3 (từ tháng 9-1977 đến 7-1978) trong tình trạng Hoa kiều đòi về nước gây ra sự kiện “nạn kiều” phá rối rất phức tạp. Chiến tranh Tây Nam ngày càng nghiêm trọng. Quân Khơ me đỏ gây ra cuộc thảm sát Ba Chúc 4-1978 rất tàn bạo gây kinh hoàng cả nước. Sinh viên khi đó sống trong tình trạng “bán thời chiến”[2].

Vài nét về cuộc sống KTX

Năm thứ 3 chúng tôi chuyển sang ở tầng 3 KTX B3, một đơn nguyên có mỗi tầng 8 phòng, một cầu thang đi giữa (Nhà B3 chỉ bằng một nửa so với A1 hoặc A2). Trước đây, KTX B3 là nơi ở của nữ sinh nên ít bị phá phách như các KTX nam sinh. Hồi đó, trường đã lấy toàn bộ các phòng (từ phòng 15 đến phòng 18) cả 3 tầng nhà A1 dành riêng cho lưu học sinh Lào, vì họ đã bắt đầu sang học ngày càng nhiều.

Kí ức quan trọng nhất mà tôi còn nhớ là việc nấu ăn sáng rất phổ biến. Một số nhóm thường xuyên có ăn sáng là anh Học – Thoại, Khang - Ảnh, Giang – Kình – Quân… Vài người còn sắm được bếp dầu để nấu ăn. Hồi đó các buổi sáng trên sân thượng luôn có các nhóm ăn uống của 2 lớp KT20AB.

Phía trước nhà B3 có một sân bóng chuyền nên các buổi chiều hoặc cuối tuần đều có người “loẹt quẹt” tập đánh hoặc đấu các nhóm với nhau. Các anh KT19 và KT20 lúc này đã tổ chức ghép nhóm chơi bóng. Anh Thước KT19 (cùng quê anh Thoại) thường xuyên chơi bóng chuyền với chúng tôi. Các buổi chơi rất vui góp phần giải phóng năng lượng đám trẻ chưa biết làm gì ngoại học hành.

Hồi này Chủ nhiệm Khoa Kinh tế nông nghiệp là thầy Phan Trọng Đỉnh[3] rất quan tâm phong trào nội trú. Trường ĐHNNI được gọi là “quê hương nội trú” của các trường đại học ở Hà Nội. Việc phân công quét dọn vệ sinh rất thường xuyên. Anh Khang được bầu là Phó ban nội trú toàn trường cũng chịu khó hoạt động, tuy nhiên việc thiếu nước sinh hoạt, thiếu điện đã hạn chế nhiều nỗ lực chung. Hồi đó thầy Phan Trọng Đỉnh yêu cầu toàn bộ nam sinh ở KTX B3 đi ăn cơm phải xếp hàng kiểu quân đội. Các buổi trưa đi học về ai cũng muốn lao xuống bếp ăn, nay lại chờ nhau xếp hàng đi rất nhiêu khê. Chỉ duy trì được chừng 1 tháng thì thí điểm bị thất bại. Lại có chuyện vài lần thầy Trưởng Khoa Phan Trọng Đỉnh ban đêm mời sinh viên lên sân thượng để nói chuyện “thời sự” rất nhiệt tình. Thầy nói về tình hình trong nước, quốc tế, phong trào ủng hộ Việt Nam… Có thể nói thầy thể hiện nói chuyện rất tự nhiên, giọng sang sảng, tinh thần lạc quan và một bố cục chuyện rất chặt chẽ, rất đẹp ở kết luận, đem lại tinh thần cổ vũ động viên như kiểu chính trị viên khá xuất sắc. Đúng là một sĩ quan chính trị có nghề!

Xuất hiện vài thay đổi: Các anh KT20 ở tầng 3, KT19 ở tầng 2 nhà B3 thường xuyên có trò trêu các nữ sinh từ nhà KTX B4 đi ngang qua B3. Chuyện trêu chọc cũng không quá đáng lắm nhưng nhiều chị em B4 cảm thấy ngại khi bị trêu chọc. Có vài chị em dám nói vài câu “chọi lại” nhưng đa số cúi mặt cười đi nhanh qua vì biết khó chọi nổi vì đám nam sinh rất đông. Ở cuối “phố thối” ra ngoài làng đã có chỗ tường bị phá và người ta bắc những khúc gỗ nhỏ qua mương để có thể ra các quán nước chè mới mở thay vì phải ra tận Trâu Quỳ như hồi các năm trước. Các buổi tối thứ 7 nhà trường vẫn duy trì được chiếu phim sau nhà 4 tầng, nhưng các tối khác thì sinh viên vượt tường qua ngả “phố thối” để đi xem TV ở doanh trại quân đội gần nghĩa địa Gò Cung. Hồi đó đang có phim “Trên từng cây số” có diễn viên Di-a-nov đóng vai tình báo Bungaria rất nổi tiếng.

Trong lớp có thêm một số người mới: Anh Tường, anh Tuấn (nhái) từ KT19 vì lí do gì đó đã được bố trí với KT20A. Anh Tường quê Hải Phòng ở tổ 2, anh Tuấn quê Hà Nội ở tổ 1 cùng phòng chúng tôi. Sau này có thêm chị Nguyên cũng đến với KT20A từ KT19.

Chuyện lo học hành, phấn đấu

Hồi này cơ bản chúng tôi đã có kinh nghiệm học hành nên không còn phổ biến chuyện đi học đêm trên giảng đường bằng đèn dầu như 2 năm đầu. Các buổi tối ai cũng chờ có điện là tập trung học. Buổi chiều cũng thường tìm đến các giảng đường trống để tự học. Tôi cũng thường xuyên đến thư viện mượn sách để đọc thêm về chuyên môn.

Lúc này Chi bộ đã có phong trào bồi dưỡng cảm tình Đảng cho các sinh viên có chí hướng và học khá giỏi. Tôi và một số người khác đã được coi là cảm tình Đảng và qua anh Khang tôi biết Chi bộ đã giao cho anh Chình (lớp trưởng) quan tâm bồi dưỡng tôi. Một hôm cùng mấy anh em đi dạo chơi, có dịp tôi hỏi anh Chình về việc tôi cần phải làm những gì để từ cảm tình Đảng thành đối tượng Đảng. Anh Chình nói tôi cứ phấn đấu học hành, việc trở thành đối tượng Đảng sẽ tự nhiên đến nếu tôi có ý thức phấn đấu và trở thành “người ưu tú” trong quần chúng. Tôi biết việc đó có thể còn lâu lắm nhưng quan trọng là tôi biết anh Chình cũng không có kế hoạch gì trong việc theo dõi giúp chúng tôi trở thành đối tượng Đảng nhanh hơn.[4] Cũng từ đó tôi không quan tâm nhiều đối với công tác Đảng. Cuối năm 1978, một số anh em chúng tôi được cử đi học một lớp cảm tình Đảng ở Trại TTTN. Ở lớp đó, người ta nói chung chung về lý tưởng của thanh niên, của trí thức, về con đường Đảng đưa đất nước lên sản xuất lớn XHCN…

Có một thời gian rất đáng nhớ là những tuần đi TTGT lần I. Chúng tôi được đi cùng KT19 về các xã ở huyện Gia Lâm để làm quen với công tác tổ chức HTX NN toàn xã và được bắt tay thực hành một vài công việc về Kinh tế nông nghiệp và Thống kê nông nghiệp (tôi sẽ chi tiết hơn vào bài khác). Riêng tôi rất chú ý đến những công việc sau này có thể làm khi ra trường, nhất là quan sát cách làm việc của cán bộ địa phương. Mặt khác, qua thực tập chúng tôi đã bước đầu làm quen với một vài giáo viên chuyên môn hướng dẫn thực tập – gọi là bước đầu gần hơn với những người dạy chúng tôi – những người có trình độ cao và rất đáng kính trong mắt sinh viên chúng tôi hồi đó.

Có một sự kiện tôi còn nhớ là hồi đó ở trường ĐHNNI tổ chức buổi bảo vệ luận án phó tiến sĩ cho thầy Phan Trọng Cung ngành Bệnh lý học và chữa bệnh động vật, đề tài phòng trừ ve bét gì đó trên trâu bò[5]. Buổi bảo vệ diễn ra ở Hội trường nhỏ tầng 3 nhà Học tập do chính Hiệu trưởng PTS Lê Duy Thước làm Chủ tịch Hội đồng. Mặc dù tôi không hiểu gì về chuyên môn nhưng tôi thấy 11 vị trong hội đồng đều rất trang trọng. Ai cũng ăn mặc đẹp, PTS Lê Duy Thước mặc áo trắng mới tinh chỉ đạo buổi bảo vệ. Sau này tôi mới biết đây là luận án PTS đầu tiên được bảo vệ thành công tại trường ĐHNNI. Nghiên cứu sinh Phan Trọng Cung người thấp lùn to đậm cũng mặc đẹp: áo complê có cà vạt. Tôi chỉ đứng ngoài hành lang nhìn vào một lúc nhưng cứ nhớ mãi ấn tượng buổi sinh hoạt khoa học này.



[1] Tên các môn học trong Bộ môn này: Thống kê nông nghiệp, Kế toán nông nghiệp, Kế hoạch nông nghiệp, Tài chính nông nghiệp, Phân tích hoạt động kinh tế, Công cụ tính, Toán kinh tế.     

[2] Tiếp đó là sự kiện 17- 2- 1979 Trung Quốc xâm lược Việt Nam.

[3] Thầy Phan Trọng Đỉnh Chủ nhiệm Khoa Kinh tế Nông nghiệp từ 1978-1982.

[4] Sau này KT20A chỉ có anh Đỗ Văn Đức được kết nạp Đảng (khoảng 7-1980). Anh Đỗ Văn Đức đã là đối tượng Đảng từ khi đi bộ đội về, anh cũng là lớp phó KT20A nhiều năm.

[5] Năm 1978, NCS Phan Trọng Cung là người bảo vệ thành công luận án PTS đầu tiên ở ĐHNNI.

Thứ Sáu, tháng 11 21, 2025

Chuyện học môn thể dục và môn quân sự


Từ năm thứ nhất đến hết kì 1 năm thứ 3, chúng tôi học môn thể dục và môn quân sự. Thể dục là môn giáo dục thể chất cho sinh viên tất nhiên là không thể thiếu trong chương trình đào tạo. Còn quân sự là môn bắt buộc, là nghĩa vụ của thanh niên trong tất cả các trường đại học phải biết những kiến thức quốc phòng cơ bản bằng những bài học về kĩ thuật cá nhân, phối hợp đồng đội trong chiến tranh và những kĩ thuật vũ khí cơ bản.

Môn thể dục

Năm thứ 1, chúng tôi được thầy Đỗ Mộng Ngọc dạy môn điền kinh chủ yếu là rèn luyện thể lực cho sinh viên. Kiểm tra dựa vào thành tích vận động viên hạng phổ thông: chạy 100m phải đạt dưới 15 giây và phải chạy được cự li 1600 m (4 vòng quanh sân vận động) không bỏ cuộc. Và như tôi đã có ghi chép ở bài năm thứ nhất[1], tiêu chuẩn điền kinh lúc ấy ở ĐHNNI được coi là hơi cao nhưng bộ môn thể dục chọn tiêu chuẩn này. Đây cũng là lý do tôi không đạt điểm kiểm tra.

Năm thứ 2, kì 1 chúng tôi học thể dục dụng cụ. Ban đầu cả nam và nữ đều học chung về nhảy xa, nhảy cao, đẩy tạ. Phần sau tách riêng nam học xà đơn, xà kép, còn nữ học nhảy ngựa. Thầy Lung dạy cho nam và phần học chung. Phần dạy nhảy ngựa cho nữ hình như là cô Bình.

Nhảy cao và nhảy xa có lẽ cũng là một dạng của điền kinh, nhưng cần hố cát, đường chạy đà, điểm dậm nhảy và sào, thước đo vạch nhảy. Nói chung mức thành tích có lẽ không quá cao hoặc thầy Lung dễ tính nên kết quả nhảy cao, nhảy xa không ai bị thành tích không đạt. Phần xà đơn và xà kép thì cũng cơ bản là co tay, gác chân lên xà, cách chống tay, đánh chân trong khung xà và thủ tục nhảy ra khỏi xà khi xong bài. Tôi thấy các bài tập xà cũng không đến nỗi khó lắm.

Học đẩy tạ bi sắt, viên bi nặng khoảng 3kg. Người tập phải làm động tác đặt bi lên lòng bàn tay thuận, ngửa tay nâng bi cao lên vai, nghiêng áp má vào bi và làm khởi động xoay vòng quanh cơ thể để tạo lực đẩy viên đi xa. Có các vạch 5m, 6m, 7m để đánh giá kết quả thực hành của mỗi người.

Phần nữ học riêng môn nhảy ngựa thì phái nam không được học. Tôi thấy có một cái giá bọc da nhồi bông, người học chạy lấy đà đến chống tay vào giá và xoạc chân hết cỡ để nhảy qua. Nhiều chị chạy lấy đã đến cái giá chống tay thì dừng hoặc ôm vào giá không dám nhảy.

Kết quả kiểm tra tôi đều đạt qua mức quy định, không phải kiểm tra lại.

Vào kì 2 năm thứ 2, chúng tôi được học môn thể thao đồng đội: bóng chuyền. Đây là môn kĩ thuật khó và yêu cầu độ chính xác cũng như biết phối hợp đồng đội trong chơi bóng chuyền. Ban đầu chúng tôi được giới thiệu quy tắc chơi bóng chuyền và sau đó được hướng dẫn kĩ thuật chuyền và phát bóng. Phần kiểm tra được giáo viên yêu cầu phải chọn đôi để chuyền bóng với nhau sao cho bóng được chuyền qua lại (khi bóng đến, phải dùng kĩ thuật đón bóng và giữ nhịp tâng nhẹ trên đầu, sau đó chuyền sang đối phương, đối phương cũng phải làm như thế). Làm đủ 20 lượt chuyền mà không rớt bóng là đạt. Còn phát bóng thì phải bốc thăm, ai bốc được số nào thì phải phát đúng vào ô đó, mỗi người được phát 3 lần.

Học môn này tôi rất thích. Đầu tiên tôi và anh Nguyễn Đình Chình kết thành một đôi để tập. Nhiều lần chúng tôi mượn được bóng về để các chiều tối đi tập thêm. Chúng tôi đến sân trước nhà 4 tầng để tập chuyền. Tôi với anh Chình tập rất ăn ý, có lần chuyền được tới 60 lần chưa rớt bóng.

Khi kiểm tra tôi dễ dàng vượt qua quy định, nhưng quan trọng hơn là tôi được học kĩ thuật cơ bản để sau này biết chơi bóng chuyền trong thời gian đi bộ đội và sau này trong phong trào thể thao hàng năm ở cơ quan công tác. Bạn Giang là người học có năng khiếu trong đám trẻ. Ngay trong thời gian học tôi đã thấy Giang nhiều lần lên sân bóng chuyền của khu giáo viên nhà A1 cán bộ để vào trận cùng với mọi người. Trong thời gian ở quân đội, Giang cũng là tay chơi bóng chuyền tốt nhất nhì trong đội hình của đơn vị Cục Kinh tế QK9. 

Hồi đó, trong lớp có nhiều anh đã biết chơi bóng chuyền giỏi như anh Hợp, anh Hòe, anh Điến. Anh Hợp và anh Hòe sau này nhiều lần tham gia đội bóng chuyền sinh viên Khoa kinh tế trong những dịp thi đấu phong trào toàn trường. Đội bóng chuyền sinh viên khoa Kinh tế có hạt nhân là anh Hắc KT19 đánh rất giỏi nên luôn vào chung kết với Khoa Chăn nuôi – Thú y khi đó cũng có mấy anh chơi rất hay. Từ khi có các bạn lưu học sinh Lào qua học, sinh viên Lào học rất nhanh và đều là những người chơi bóng chuyền rất khá.

Tôi có kỉ niệm vui với anh Hợp. Một hôm mọi người tự luyện tập ở sân bóng chuyền. Tôi thấy anh Hợp đang chơi thì ra ngoài sân cởi áo sơ mi và trùm vào đầu tôi. Tôi tưởng anh nhờ tôi giữ hộ áo nên vội đưa tay lên cầm thì anh cười to bảo: À tớ tưởng cậu là cái cọc gỗ nên định treo áo. Anh bảo: Nhìn cậu gầy và đen như cột nhà cháy nên tớ đùa tí!

Môn quân sự

Môn quân sự khi đó quy định học 2 lần, mỗi lần 4 tuần. Các giáo viên quân sự khi đó có một số là sĩ quan quân đội đến từ trường sĩ quan thiết giáp – đơn vị “kết nghĩa” hoặc được phân công đào tạo với trường chúng tôi.

Lần 1 chúng tôi được học đội hình, đội ngũ, kĩ thuật di chuyển cá nhân trên chiến trường (lăn, lê, bò, trườn…), kĩ thuật ném lựu đạn và nghe một số bài về nghệ thuật quân sự của lịch sử.

Đội hình, đội ngũ thể hiện tinh thần kỉ luật của người lính: kết thành một khối qua cách tập hợp, xếp hàng ngang dọc, điểm danh, quay phải quay trái, chào, đi đều… theo khẩu lệnh người chỉ huy. Thật ra chẳng có gì khó nhưng phải chú ý dự lệnh, động lệnh để thực hiện cho đúng và dứt khoát. Khi cả một hàng hoặc một khối hàng thực hiện cùng động tác thống nhất thì thấy như có sức mạnh tập thể rất rõ ràng.

Mấy anh đã đi bộ đội về thì họ nhiều kinh nghiệm tập (vì chắc chắn đã được học trong quân đội). Chúng tôi cũng tiếp thu khá dễ dàng. Có vài người hơi chậm trong chuẩn bị nên nhầm bên phải thành trái hoặc đi trong hàng bị lỗi đánh tay không đúng nguyên tắc “tay nọ, chân kia”. Mỗi khi nhầm là thành một chuỗi cười. Anh Nguyễn Xuân Trí là đối tượng được quan tâm nhất vì anh luôn xử lý chậm hơn và không đúng các động tác theo khẩu lệnh. Một hàng người nghe khẩu lệnh: “Bên trái…. Quay!” thì đều làm đúng, chỉ mình anh quay sang phải. Thế là 2 người quay đối mặt nhau. Anh Nguyễn Xuân Trí cũng là người gặp khó khăn nhất trong việc đánh tay trong đi kĩ thuật đi đều.

Học quân sự cũng có nhiều thời gian nghỉ giải lao và nghe các “cựu binh” kể tiếu lâm. Anh Nguyễn Ngọc Minh kể câu chuyện dự lệnh, động lệnh: Ông cán bộ chỉ huy đơn vị của anh ngày trước hô to trong lễ chào cờ: “Uôm! Toàn đơn vị chú ý, Chờ cào – Chờ!” (nhầm Chào cờ thành Chờ cào, Nghiêm thành Uôm). Một chuyện khác: Một đơn vị dân quân khu 4 khi tập đội ngũ không phân biệt được phải-trái. Người ta buộc một cái chạc vào một bên chân cho cả tiểu đội, khi đi đều, người chỉ huy hô: “có chạc – không có chạc” (thay cho lối hô thông thường là 1-2, 1-2…).

Lần học 2 vào kì 1 năm thứ 3, chúng ta được học xạ kích súng trường CKC, kiểm tra bắn đạn thật. Kì học này cũng có mấy bài chính trị-quân sự về đường lối chiến tranh gì đó.

Hồi đó được bắn đạn thật nên huấn luyện nghiêm túc lắm. Lại phải học cả kĩ thuật tháo cò súng, lau súng, chữa hỏng hóc cơ bản… Cả lớp nằm dưới hàng cây xà cừ ngắm bia cắm trên ruộng mấy tuần liền. Các bước xạ kích được tóm tắt thành: nằm - tì vai - áp má -lấy đường ngắm - nín thở - bóp cò.

Hôm bắn đạn thật phải tự đến trường bắn ở Từ Sơn, Bắc Ninh. Các anh chị đã qua bộ đội thì không phải đi bắn đạn thật. Tôi được anh Khang giúp mượn xe của anh Trác (lớp KT20B) để đi bắn. Buổi lên trường bắn, chúng tôi được chỉ huy yêu cầu vào bắn theo mỗi loạt 5 người. Các bước thao tác xạ kích đều được thực hiện thống nhất như khi học. Chỉ huy hô: lắp đạn và đứng kiểm tra công việc mọi người. Khi lắp đạn xong hô: chuẩn bị bắn thì mọi người tự làm các bước tì vai - áp má - lấy đường ngắm - nín thở - bóp cò. Khi cả loạt bắn xong 1 viên, chỉ huy bắn lại hô khẩu lệnh tiếp. Lúc bắn xong cả 3 viên, chỉ huy hô: khóa súng, đứng dậy. Phía bia có một cán bộ báo bia. Khi thấy tín hiệu đã bắn xong anh ta đến từng bia và dùng kí hiệu phất cờ để báo kết quả. Tôi bắn cả 3 viên đều vào vòng 8: 8-8-8 = 24 điểm, suýt đạt điểm giỏi (giỏi từ 25 điểm trở lên). Cả lớp có Cao Ngọc Đức bắn đạt 3 điểm 10. Xuất sắc!

 

Vài mẩu chuyện vui về học môn quân sự

·         Chuyện 4,5 ngoại ngữ

Chúng tôi được nghe những bài chính trị-quân sự. Một lần giáo viên – tên Mạnh – nói về thanh niên thời đại ngày nay cần phải biết nhiều ngoại ngữ. Thầy nói: “Thủ tướng Phạm Văn Đồng yêu cầu thanh niên ngày nay cần phải biết bốn phẩy năm ngoại ngữ”. Chắc là kiểu viết bốn đến năm, nhưng thầy lại hiểu nhầm thành 4,5 (bốn phẩy năm). Có ai đó hỏi: “bốn phẩy năm là thế nào ạ?” Thầy trả lời rất tự nhiên: “là phải biết 4 ngoại ngữ giỏi và 1 ngoại ngữ biết lơ mơ chút”.

·         Chuyện tất nhiên là độ C

Một chuyện tôi được nghe từ một anh học Thú y khóa 16 ĐHNNI: Khi thầy giáo dạy cách bắn máy bay bằng súng CKC, thầy hướng dẫn cách ngắm bắn: “Đưa súng chếch lên 45 độ, lấy thước ngắm đón vào điểm trước 2,5 lần thân máy bay là bóp cò”. (Ý giáo viên là ngắm như vậy thì thời gian viên đạn bay đến sẽ trúng vào giữa bụng máy bay, còn nếu bóp cò khi ngắm đúng thân máy bay thì đạn bay đến là máy bay đã bay qua rồi). Nghe nói đó là kĩ thuật đã có kinh nghiệm từ chuyên gia Trung Quốc và của Việt Nam trong những năm chiến tranh miền Bắc. Một sinh viên hỏi: “Thưa thầy 45 độ là độ gì ạ”? Thầy trả lời ngay: “Tất nhiên là độ C chứ còn độ gì!”

·         Chuyện giảng dạy đại học có học vấn lớp 7/10

Một chuyện tôi được nghe thầy Tô Dũng Tiến kể: Lần ấy các giáo viên phải kê khai lí lịch cho Tổ chức cán bộ. Một giáo viên quân sự (tên Tám) khai như sau: Trình độ học vấn: 7/10; Trình độ chuyên môn: giảng dạy đại học.

Ái chà, tốt nghiệp cấp II mà làm nghề giảng dạy đại học!

 



[1] Xem thêm tại https://lehuuanhghichep.blogspot.com/2025/09/chuyen-nam-thu-nhat-van-la-hoc-va-thi.html


Chủ Nhật, tháng 11 16, 2025

Chúng tôi học tiếng Nga (kì 3)

 

4. Vài mẩu chuyện liên quan đến tiếng Nga

Hồi vào bộ đội, tôi có đem theo bộ từ điển tiếng Nga 2 tập rất to và nặng (c gần 2kg một tập). Tôi cũng mang theo vài cuốn sách kinh tế tiếng Ngađã dịch đọc hiểu được cơ bản. Tôi còn nhớ đó là cuốn nói về tăng năng suất lao động trong nông nghiệp nên từ vựng cơ bản đã biết, khi đọc ít cần dùng từ điển. Tuy nhiên công việc quân đội chẳng liên quan gì đến nguyên môn nên tôi không đọc sách tiếng Nga nữa.

Khi ra quân tôi vẫn đem theo được 2 cuốn từ điển này về trường. Như đã có ghi chép ở thời kỳ quân ngũ, có anh bạn tên Lê Văn Đúp học ngành thủy lợi đại học Cần Thơ khi đó có ý muốn tôi để lại cho anh 2 cuốn từ điển này (hồi đó rất khó mua) nhưng tôi đã cố đem ra Hà Nội. Việc đó làm tôi cứ ân hn mãi chuyn không đã cho bạn một vật mình có mà bạn đang cần!

Chuyn đi học thêm tiếng Nga ở Hà Nội

Ngay khi chuyển từ quân đội về trường, tôi lập tức đi học thêm tiếng Nga ở Hà Nội. Từ trường ĐHNNI sang các trung tâm tiếng Nga ở Hà Nội phải đạp xe khoảng 13-15km. Mỗi tuần tôi đi học 2-3 lần vào các buổi tối các trung tâm dạy tiếng Nga bên nội thành Hà Nội. Tôi còn nhớ đã học tại trường phổ thông Võ Thị Sáu (phố 2 Bà Trưng) và học tại một trường phố Cửa Nam. Các lớp học đêm ngày ấy thường diễn ra từ 6.30pm đến 9.30pm. Phong trào học tiếng Nga rất mạnh vì nhiều người đều chờ cơ hội đi Nga làm thực tập sinh hay nghiên cứu sinh. Đối với tôi khi đó đang cần chuẩn bị tốt tiếng Nga để chờ cơ hội được đi nghiên cứu sinh ở Liên Xô. Từ các năm 1975-1979, tôi học tiếng Nga ban đêm rất chăm chỉ. Nhờ học tiếng Nga mà cũng quen được nhiều bạn bè cùng đi học buổi tối với nhau.

Còn nhớ một ông thầy dạy tiếng Nga hơn chúng tôi chừng vài tuổi. Anh ấy không phải giảng viên đại học mà là một cán bộ biết tiếng Nga được trung tâm sử dụng. Một hôm học thấy các lớp khác đã tan mà thầy vẫn say sưa dạy, mọi người nhắc thì thầy xem đồng hồ rồi bảo vẫn chưa hết giờ mà. Khi trò nói đã quá giờ thì thầy bảo cái đồng hồ của tôi hay bị “ngất” tức là lúc chạy lúc không. Đồng hồ “ngất” là từ tôi nhớ mãi – nhớ một kỉ niệm người thầy còn nghèo không có được cái đồng hồ đúng giờ!

Nhờ chăm chỉ học tiếng Nga nên tôi có bằng B tiếng Nga từ 1987, sớm hơn rất nhiều so với các thầy đã ở trường nhiều năm trước tôi. Chẳng biết là may hay không may, Đại hội XXVII Đảng Cộng sản Liên Xô đã đưa Gorbachốp lên lãnh đạo và đến giải tán Đảng cùng với sự tan rã nước Liên Xô – thế là không còn chỉ tiêu đi học Liên Xô nữa. Từ 1990, tôi bắt đầu từ giã tiếng Nga, chuyển sang dùng tiếng Anh cho đến nay!

Chuyện “mon men” tìm hiểu người ta dịch thơ tiếng Nga

Hồi ở quân đội có nhiều thời gian đọc sách và tôi có dịp đọc được bài thơ của Puskin - bài Tôi yêu em. Aleksandr Sergeyevich Pushkin (1799 - 1837) là nhà thơ, nhà văn nổi tiếng người Nga, được tôn vinh là đại thi hào, là mặt trời thi ca Nga. Hồi đó nhiều người trong chúng tôi thuộc bài thơ này qua bản dịch của Thúy Toàn[1].

Я вас любил 

Я вас любил: любовь еще, быть может,
В душе моей угасла не совсем;
Но пусть она вас больше не тревожит;
Я не хочу печалить вас ничем.

Я вас любил безмолвно, безнадежно,
То робостью, то ревностью томим;
Я вас любил так искренно, так нежно,
Как дай вам бог любимой быть другим.

Bài thơ chỉ có 8 câu. Lúc đầu tôi nhìn vào từ ngữ và chẳng hiểu thơ viết kiểu gì mặc dù tôi biết hết từ vựng. Khi tôi phát hiện ra sự đồng âm của các từ cuối trong câu 1 và 3, câu 2 và 4 rồi tương tự ở khổ 2 là từ cuối của câu 5 và câu 7, câu 6 và câu 8. Thế nghĩa là cũng có những nét giống như âm vần thơ Việt. Nhưng cách sắp đặt câu kiểu này thì “nản” quá: câu trong sách kinh tế dài và có trật tự, còn câu kiểu thơ – lại của Puskin thì thật không sao hiểu được. Từ đó không bao giờ dám mon men đến thể loại này từ nguyên bản tiếng Nga nữa – chẳng qua là khi đó cố “ra oai” với bạn gái đang học Đại học Cần Thơ khi chép cho bạn gái lời thơ dịch ra tiếng Việt.

Chuyện gặp lại cô Hòa

Sau này vợ chồng cô Hòa – thầy Liễn chuyển từ ĐHNNI vào dạy ở Đại học Cần Thơ. Khi đi bộ đội đóng quân Cần Thơ, tôi đã nhiều lần đến thăm gia đình thy cô. Hồi đó miền Nam đang sốt tiếng Nga (vì tiếng Anh lúc này thất thế so với tiếng Nga đang lên). Cô Hòa cũng kiếm thêm được nhiều thu nhập nhờ các lớp tiếng Nga buổi tối ở các trung tâm dạy thêm tại Cần Thơ. Có lần được cô rủ đi xem cô dạy và cô nói nếu tôi muốn dạy thì để cô đăng kí vì dạy phát âm và từ vựng là tôi cũng có thể dạy được. Nhưng tôi không dám vì lớp học toàn cán bộ lớn tuổi. Với lại khi đi bộ đội thì tôi dù vẫn nhớ nhiều tiếng Nga nhưng không đủ tự tin đứng trước lớp học mà người học phải đóng tiền – họ đều là những người có kinh nghiệm hơn chúng tôi rất nhiều.

Cũng nhờ thăm gia đình thầy Liễn - cô Hòa mà chúng tôi biết được cuộc sống của giảng viên Đại học Cần Thơ. Nhà thầy cô cũng nuôi heo như mọi nhà giáo viên khác. Khi mới vào, thầy Lin cũng chạy xe ôm như các giáo viên đại học Cần Thơ khi đó. Trường phân cho gia đình cô một căn hộ khép kín có phòng khách, phòng ng, có sân sau bé to và cái bếp độc lập có thể nuôi được heo – có thể nói mơ ước của nhiều người khi đó – chắc ở Hà Nội phải ngang tiêu chuẩn thứ trưởng. Chúng tôi nhiều lần được mời đến chơi, ăn uống và cô Hòa cũng nhiều khi ra đơn vị chúng tôi chơi.

Cô Hòa với tôi cũng có nhiều kỉ niệm. Mấy lần tôi đi phép về Bắc đều mang quà của cô cho gia đình cô ở Từ Liêm Hà Nội. Khi tôi về trường, có lần cô Hòa nhờ tôi đến xã Trâu Quỳ làm lại cho cô cái giấy kết hôn vì cô để thất lạc đâu đó. Một lần Hòa ra Hà Nội, anh Hợp tổ chức mời cô đến thăm nhà chị Lục cùng chúng tôi. Có lẽ cô Hòa[2]giáo viên chúng tôi có nhiều kỉ niệm nhất từ khi đi học cho đến nhiều năm sau này.

*

**

Học tiếng Nga và dai dẳng theo đuổi tiếng Nga hàng chục năm mà chẳng dùng được gì – âu cũng là có số! Tôi nghĩ nếu năm 1990 tôi được đi học ở Liên Xô thì số phận tôi sẽ ra sao? Các kịch bản có thể như sau:

Một, kịch bản tốt nhất cho tôi là học xong bằng phó tiến sĩ ở Liên Xô. Nếu điều đó xảy ra thì lại được coi là bi đát nhất - bởi vì các anh chị đi học Liên Xô (và các nước Đông Âu XHCN) từ 1985-1990 về nước đều không có chuyên môn cần thiết, thậm chí không theo kịp được những gì kiến thức mới về kinh tế từ khối tiếng Anh mà những anh em trong nước học được. Rõ ràng đi học như thế về phỏng có ích gì. Đó là chưa kể các nghiên cứu sinh khi đó qua Liên xô về đều không nói được tiếng Nga nghiêm túc và chắc chắn phải thuê sinh viên viết luận án – nhiều vị thuê viết để còn đi buôn bán.

Hai, một khả năng cao khác là tôi có thể không về nước rồi lang thang không quê hương nhiều năm kiếm tiền như một số ít bạn bè của tôi. Cuối cùng “nhẫn nhục - nhọc nhằn” tìm đường trở về những năm sau 2000. Đa số thành những kẻ thất trận trong cuộc đời vì số tiền ít ỏi kiếm được ở bên đó về dường như không dám sử dụng đàng hoàng và quan trọng nhất là không đủ tự tin để kiếm sống tử tế trong nước – rõ ràng là thất bại còn gì!

Tuy phải từ bỏ tiếng Nga nhưng nghề nghiệp của tôi lại phải dùng đến tiếng Anh, coi như “mất cái lọ - còn cái chai”. Sau này tôi đi du lịch Nga và du lịch Anh để xem và thấy quê hương của những thứ tiếng cao sang này đến với Việt Nam chúng tôi, đem cho người Việt Nam chúng tôi những gì. Ngôn ngữ là cầu nối kiến thức và con người. Người Sài Gòn khi chúng tôi đi bộ đội vào Nam gọi Anh ngữ là “sinh ngữ”. Tôi hiểu “sinh ngữ” có ý là tiếng nói dùng để kiếm sống (thời Mỹ đóng quân!). Tôi không hoàn toàn sử dụng ngoại ngữ như một cách kiếm sống, nhưng ngoại ngữ (nhất là tiếng Anh) đã rất có ích trong nghề nghiệp và cuộc đời tôi.



[1] Bản dịch của Thúy Toàn

Tôi yêu em: đến nay chừng có thể.
Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai;
Nhưng không để em bận lòng thêm nữa,
Hay hồn em phải gợn bóng u hoài.

Tôi yêu em âm thầm không hy vọng,
Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen,
Tôi yêu em, yêu chân thành đằm thắm,
Cầu em được người tình như tôi đã yêu em.

[2] Cô Nguyễn Thị Hòa và gia đình sau này chuyển lên sống ở Thành phố Hồ Chí Minh, cô đã mất khoảng những năm sau 2000.