2. Chuyện học tiếng Nga chuyên ngành
năm thứ ba
Vào năm thứ 3 chúng tôi được học thầy Tôn An, giáo viên
tiếng Nga chuyên ngành kinh tế. Thầy Tôn An người đậm, thấp, nói to, mắt hơi có
chút tật (lác nhẹ) nhưng thầy vui, hay pha trò
cười. Thầy là dân nội thành, nhà ở phố Quan Thánh nhưng thường vẫn
ở nhà tập thể cán bộ. Tôi còn nhớ có buổi tối lên liên hệ công việc của lớp, chúng tôi đợi đến khi có điện mới dám vào gặp thầy. Thầy ở tầng 3 nhà A2 khu tập thể cán bộ cùng các thầy khác. Chúng tôi vào khi các thầy đang ở trần vì trời quá nóng lại vừa mất điện. Thầy lấy cái áo may ô mặc, vừa mặc vừa nói: “thôi tao mặc áo may ô thôi nhé, chúng mày thông cảm” và
nói “một yêu anh có may ô”. Dùng từ mày tao với chúng rất dân
dã và câu chuyện nói với nhau hơi giống kiểu chợ giời
nhưng chúng tôi thấy gần gũi lạ thường.
Khi dạy thầy nói to, rõ,
viết bảng rất nhanh một câu
dài rồi phân tích thành phần câu. Chữ viết thầy khá đẹp, thẳng hàng, nhưng không thấy thầy khoe đã
được đi qua Liên
Xô. Sau này tôi biết khi thầy dạy
chúng tôi thì thầy cũng chưa được đi nước ngoài.
Có một buổi đại sứ Liên Xô đến trường nói chuyện gì đó, chúng tôi
cũng được đến nghe. Tôi thấy thầy Tôn An lên phát biểu với cán bộ chuyên gia Liên Xô tại Hội trường C bằng tiếng
Nga. Thầy nói rất
nhanh, các vị khách đại sứ cười, chúng tôi không nghe được mấy nhưng thấy phong cách thầy rất tự tin, thoải mái. Chắc có câu
pha trò nhẹ gì đó với mấy ông khách ngoại giao nghiêm nghị.
Cả năm thứ 3 học tiếng Nga được thầy
Tôn An hướng dẫn sử dụng thuật ngữ và từ vựng chuyên ngành. Giáo trình cũng chỉ là những bài nhiều thuật ngữ kinh tế, cả những bài liên quan đến ngành kinh tế nông nghiệp. Thầy còn cho
chúng tôi mượn một số sách kinh tế hoặc hướng dẫn chúng tôi mượn trên thư viện.
Bằng cách đó, bản thân tôi đọc được nhiều sách tiếng Nga. Khi kết thúc môn học tôi có thể
đọc được cả trang tiếng Nga mà không phải tra từ
điển vì nghĩa của từ và nội dung kinh tế tôi đã nắm được khá nhiều. Rõ ràng tiếng
Nga năm thứ 3 được định hướng cho đọc sách chuyên môn, cách dạy của thầy rất bổ
ích. Một vài bài có những câu về khía cạnh kinh tế phức tạp thì có khi thầy hỏi
ngược lại chúng tôi xem ý thầy hiểu thế đúng nghĩa kinh tế chưa.
Kỳ 1 được học 45 tiết, đủ số tiết để kiểm
tra, còn kỳ 2 là 60 tiết, đủ số tiết để thi. Phần tiếng Nga của Thầy Tôn An dạy được thi vấn đáp vào ngày 5-8-1978, tôi đạt được 4/5 điểm.
Khả năng hài của thầy Tôn An
Thầy Tôn An rất hay kể chuyện cười qua
tiếng Nga nhưng tôi không còn nhớ. Thầy bảo chúng tôi phát âm đúng động từ tiếng
Nga "жить" (sống) khi chia ở thì hiện tại ngôi thứ nhất đại từ nhân
xưng “я
живу” thì phải đánh trọng âm mạnh vào nguyên âm y để khi đọc
người Nga mới hiểu được (tức là đọc thành “ia rờ-vú”).
Nói đến thầy
Tôn An là phải nói đến một “nhà báo” cười. Vào những năm 1985-2000, các báo đều có mục vui vười. Thầy Tôn An sưu tầm gửi
đăng rất nhiều bài trên các báo - có lẽ chỉ trừ báo Nhân dân không có mục này. Một lần tôi đến thăm nhà thầy ở phố Quán
Thánh – khi đó tôi đã là giáo viên của trường – thầy lôi ra mấy cái hòm sắt tây to tướng đựng các mẩu báo đăng các sưu tầm của thầy về mục vui cười, có thể đến cả mấy trăm bài. Thầy nói thầy đọc báo tiếng Nga và thu nhặt
các chuyện cười khắp thế giới, nhất là Tạp chí “Cá sấu”[1] của
Nga. Hồi đó thầy có món thu nhập ngoài lương kha
khá nhờ nhuận bút mục vui cười của Tôn An st. trên các báo.
Thầy nói
chuyện vui và thoải mái, ví dụ chuyện ghép thầy tên các cán bộ trong trường thành An-Nhàn-Quý-Phái-Giao-Hợp-Lâu[2] như một vế thách đối, các cán bộ đi xe vé tháng nay còn nhắc mãi chuyện này. An chính là tên
thầy, còn Hợp chính là tên anh Hợp KT20A, khi đó anh đang làm ở phòng
Tài vụ trường ĐHNNI.
3. Nhìn lại việc học tiếng Nga trong trường đại học
Trước hết phải nói người ta đã cho
chúng tôi học tiếng Nga tới 3 năm, số tiết 255 tiết, nhiều nhất trong các môn học
thời gian học đại học. Rõ ràng ý đồ dạy ngoại ngữ được thiết kế cho sinh viên được
đề cao. Nhưng vấn đề đặt ra là tại sao học nhiều mà người học sử dụng không
được mấy?
Lấy trường hợp tôi để minh họa: tôi thích
tiếng Nga và đã đầu tư học rất nhiều - kể cả sau khi ra trường và khi quay lại
trường làm giảng viên đại học. Như trên đã nói, sau khi học xong phần thầy Tôn
An dạy thì tôi đã có thể đọc được những sách nói về chuyên ngành kinh tế nông
nghiệp khá dễ dàng, ít phải dùng từ điển nghĩa là tôi đã có vốn từ vựng khá
tốt và cơ bản hiểu được cấu trúc câu khi diễn đạt tiếng Nga chuyên ngành. Tất
nhiên chỉ là phương diện đọc hiểu – một khả năng duy nhất mà chúng tôi
có được khi học xong tiếng Nga đại học. Các kĩ năng nghe, nói và viết
thì rất tệ. Ngoài 3 năm học tiếng Nga ở đại học (từ 1975-1978), tôi còn tự đi học
thêm tiếng Nga 5 năm (từ 1986-1989). Tất nhiên kĩ năng đọc sách tốt lên nhiều
nhưng kĩ năng nghe-nói-viết không khá lên được mấy. Từ đúc kết bản thân,
tôi tạm coi vấn đề chúng tôi không sử dụng được tiếng Nga vì mấy nguyên nhân
sau đây:
Một là tiếng Nga rất khó
sử dụng
Học đại học
3 năm tiếng Nga là không ít, thế mà chỉ vài người đọc được những bài viết
đơn giản về chuyên môn tiếng Nga không cần dùng từ điển như tôi – rõ ràng tiếng
Nga khó quá! Sau
này khi tôi được học tiếng Anh (năm 1990), mặc dù đã cao tuổi nhưng tôi thấy tiếng Anh dễ hơn tiếng Nga về kĩ năng nói vì sắp xếp thành phần ngữ pháp trong câu, việc sử dụng đại từ
và danh từ cũng thuận lợi, không bị chi phối 6 cách trong tiếng Nga.
Từ trong công việc sau này, tôi còn biết chắc một điều (rất bí mật) là nhiều người đi học Liên Xô về cũng không nói được tiếng Nga lưu loát, kể cả trong đội
ngũ giảng viên trường tôi, họ cũng chỉ giỏi kĩ năng đọc hiểu. Nghe nói các NCS phó tiến sĩ người
Việt Nam học ở Liên Xô cũng không tự viết được luận án của họ (mà thường phải nhờ các thư ký của giáo sư Nga giúp
đánh máy và sửa ngữ pháp). Họ chỉ viết được kết quả nghiên cứu tóm tắt, còn diễn đạt đúng tiếng Nga thì phải nhờ người giỏi tiếng Nga giúp biên tập.
Thế
mới biết tiếng Nga rất khó sử dụng ngay cả cho những người học nhiều và học cao
hơn chúng tôi!
Hai là, người học
không có mục tiêu sử dụng
Khi đi học, chúng tôi chỉ nghĩ khi ra
trường sẽ được phân công làm việc ở một cơ quan quốc doanh hay chính quyền gì
đó ở các địa phương. Một số ít người có thể sẽ được làm việc ở một cơ quan nào
đó của trung ương (bộ, ngành) nhưng chắc cũng chỉ nhân viên “quèn”. Vậy thì những
địa chỉ công tác đó cần gì tiếng Nga cho công việc? Chỉ nghĩ đến đó là biết việc
học không có động cơ, mục tiêu gì sau này. Ai cũng nghĩ nếu có điều kiện thì học
sau…
Tôi có một kỉ niệm về việc sử dụng tiếng Nga: Năm 1987, khi em trai tôi ở Tiệp Khắc có gửi một vài hàng xách tay
cho một người Tiệp đến công tác tại Việt Nam. Tôi lên đón khách ở sân bay
Nội Bài, em tôi cho biết anh ta nói được tiếng Nga. Do có thời gian chuẩn bị
nên tôi đã ôn lại những câu giao tiếp bằng tiếng Nga và gần
như thuộc rất nhiều câu chào hỏi xã giao để trao đổi với
khách. Chuyến bay đó đến chậm, tôi đợi rất lâu và cuối cùng cũng tìm được vị khách đó. Chúng tôi trao đổi với nhau và được biết anh ta không thể
mang theo quà được vì điều kiện hạn chế gì đó. Qua đó tôi mới biết nếu khi học mà có được mục tiêu cụ thể thì tôi cũng có thể nói được những câu tiếng Nga thông thường. Một anh bạn cùng ở tập thể với tôi nói rằng đấy mới
là cách học ngoại ngữ hiệu quả nhất!
Một chuyện khác cũng nên bàn: Khi về trường làm giảng viên, tôi được đọc thêm nhiều giáo trình, trong đó
có giáo trình tiếng
Nga môn Tài chính nông nghiệp – môn học tôi
giảng dạy bậc đại học. Khi đó tôi mới thấy cách
viết giáo
trình kiểu tiếng Nga thời ấy (XHCN) thật ra cũng không có gì gọi là học
thuật cao siêu. Họ viết giáo trình cho đại học mà chỉ là dạy những công việc thực tế của nông
trường quốc doanh và nông trang tập thể Liên Xô. Ở Việt Nam, chúng tôi cũng phải
dạy kiểu kinh tế hồi bao cấp (như Liên Xô) cho sinh viên đến khoảng năm 1990-1992[3].
Từ khi nhà trường cho chúng tôi học tiếng Anh và đọc tài liệu tiếng Anh thì chúng
tôi bắt đầu đổi mới cách dạy: chuyển từ dạy theo chế độ quy định sang dạy
theo nguyên lý. Các chế độ chỉ là thực tế cuộc sống, mà thực tế cuộc sống sẽ
phải có nền tảng nguyên lý nhất định. Nếu dạy theo thực tiễn thì luôn phải thay
đổi mà có khi không biết cơ sở của thay đổi là gì. Chẳng hạn, môn Tài chính
nông nghiệp dạy chế độ khấu hao tài sản cố định ở Nông trường quốc doanh. Khi
dạy thì phải theo chế độ kế toán quy định, nhưng chế độ hàng năm luôn có thay đổi.
Vừa dạy xong thì chính sách đã thay đổi nên trường đại học luôn chậm hơn thực
tiễn, người học khi ra trường lại phải học lại. Nhưng nếu dạy theo nguyên lý khấu
hao tài sản thì trong thực tiễn thay đổi thế nào cũng chỉ là những vận dụng
nguyên lý. Cách viết giáo trình khối tiếng Anh luôn thể hiện được ý tưởng
này.
Ba là nếu ai đó có mục tiêu rõ ràng thì
cũng phải học thêm rất nhiều và phải có môi trường sử dụng được tiếng Nga, tốt
nhất là đưa qua học ở môi trường toàn sử dụng tiếng Nga. Loại này thì sinh viên
Việt Nam học ở Liên Xô đều khá tiếng Nga, nhưng các nghiên cứu sinh thì có thể không
làm được. Sau này, đội ngũ công nhân lao động ở Nga lăn lộn buôn bán chợ giời cũng
khá tiếng Nga nhờ giao tiếp xã hội tốt, nhưng các đối tượng này chỉ giỏi “khoa
nói” mà không viết được.
[1] Cá Sấu (tiếng Nga: Крокодил) là tạp chí trào phúng tại Liên Xô từ 1922.
[2] Nhàn là tên cô Nhàn dạy cây công nghiệp, Quý là tên thầy giáo dạy hóa, Phái là tên một cán bộ phòng Giáo vụ; Giao là tên thầy Giao dạy cây lúa; Lâu là tên một cán bộ khoa cơ khí.
[3] Từ năm 1991 thì khối cán bộ dạy kinh tế mới được học tiếng Anh. Trước đó vì lấy tư tưởng Liên Xô làm chỗ dựa nên các giảng viên kinh tế không được đi học tiếng Anh, người ta cũng không nhập sách tiếng Anh chuyên ngành kinh tế cho các thư viện (lưu ý hồi đó chưa có internet - ở Việt Nam mãi đến 1997 mới được sử dụng internet).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét