Mở đề
Năm thứ 3 được thiết kế khá thú vị: một
gạch nối quan trọng giữa các nhóm kiến thức. Hết năm thứ 3 là chúng tôi hoàn
thành kiến thức khoa học cơ bản, khoa học cơ sở, thể chất, quốc phòng và các hoạt
động lao động. Các môn học trồng trọt khác cùng với môn Trồng trọt đại cương (học
năm thứ 2) được ghép nối để thành bộ kiến thức cây trồng cho kĩ sư kinh tế. Nhiều
môn học thuộc chuyên môn kinh tế nông nghiệp được thiết kế để hình thành nội
dung thực tập giáo trình lần 1 – khối HTX sản xuất nông nghiệp.
Chuyện năm thứ 2 chỉ còn vài chi tiết về
các tuần lao động và môn học Trồng trọt đại cương tôi sẽ tổng hợp theo nhóm bài
viết riêng.
Thay đổi về tổ chức BCN Khoa
Thời gian này có sự kiện là nhiều giáo
viên lâu năm trong khoa chuyển sang Viện Kinh tế nông nghiệp mới thành lập (trực
thuộc Bộ Nông nghiệp). Kỳ 1 năm học 1977-1978, PTS Nguyễn Lâm Toán đang là Trưởng
Khoa được cử làm Viện trưởng Viện Kinh tế đã kéo theo nhiều giáo viên trong
Khoa sang Viện. Thầy Phan Trọng Đỉnh được cử làm Trưởng khoa Kinh tế nông nghiệp
từ 1978-1982. So với các khóa trước, chúng tôi không được học nhiều thầy giáo lâu
năm khi đó đã chuyển sang Viện Kinh tế nông nghiệp hoặc sang Trường Đại học Nông
nghiệp II (đã chuyển vào Huế) từ năm 1976 và 1977.
Nhiều năm sau này tôi được biết thầy Phan
Trọng Đỉnh vốn là sĩ quan chính trị, cấp bậc đại úy được cử về trường với nhiệm
vụ ngăn chặn phong trào “nhân văn giai phẩm” những năm đầu thập kỉ 1960.
Sau này, thầy học thêm hàm thụ, có bằng kĩ sư hàm thụ kinh tế nông nghiệp.
Thầy có nhiều năm công tác ở Phòng Tuyên huấn trước khi được cử Trưởng Khoa Kinh
tế nông nghiệp. Trong thời gian này, ở các trường đại học nói chung, ĐHNNI nói
riêng cũng có nhiều sĩ quan quân đội được tăng cường (như thầy Bí thư Đảng ủy hồi
đó tên Kình là trung tá quân đội).
Khoa có 3 bộ môn: Kinh tế nông nghiệp,
Tổ chức quản lý XNNN và Thống kê – Kế hoạch – Kế toán. Bộ môn Thống kê – Kế hoạch
– Kế toán dạy nhiều môn học nên có lần tôi được nghe thầy Đức nói đùa rằng nếu gọi
tắt theo tên môn học thì tên Bộ môn là Thống - Kế - Kế - Tài – Phân – Cụ -
Toán[1].
Nhắc lại tóm tắt về chương trình năm thứ 3
Kì 1: Học 2 môn thi là Kinh tế nông
nghiệp (120 tiết) và Trồng trọt chuyên khoa (180 tiết); học 4 môn kiểm tra: Rau
quả (45 tiết), Nga văn (45 tiết), Toán xác suất (45 tiết) và quân sự (4 tuần). Lao
động rèn nghề 1 tuần.
Kì 2: Học 4 môn thi là Thống kê nông
nghiệp (120 tiết), Kế toán nông nghiệp (120 tiết), Cơ khí nông nghiệp (120 tiết)
và Nga văn kì cuối (60 tiết). Kiểm tra môn Công cụ tính (30 tiết).
Lao động rèn nghề tại trường (1 tuần). Lao
động công ích xây dựng Thủ đô (2 tuần).
Thực tập giáo trình lần I: đi khối HTX
thực tập chính là môn Thống kê nông nghiệp, quan sát thực tế một số nội dung môn
Kinh tế nông nghiệp.
Nhìn vào thiết kế chương trình trên chúng tôi thấy năm thứ 3 có các điểm sau:
- Kết thúc các môn khoa học cơ bản, lao động rèn nghề và quân sự;
- Kết thúc kiến thức ngoại ngữ (Nga văn);
- Hoàn thành rèn luyện thể lực;
- Học xong các môn học về cây trồng (chưa có môn học về chăn nuôi – thú y);
- Hỗ trợ kiến thức kinh tế nông nghiệp là môn Cơ khí nông nghiệp;
- Đi thực tập khối HTX môn học Thống kê nông nghiệp và Kinh tế nông nghiệp.
Chuyện học môn Toán xác suất có
tính đột xuất vì chương trình đã cân nhắc loại bỏ môn Bảo quản chế biến
để chúng tôi có cơ hội được học Toán xác suất. Đáng ra kiến thức toán phải kết
thúc ở năm thứ 2, nhưng khi đó PTS Tô Cẩm Tú mới học Liên Xô về và đã kịp dạy
chúng tôi học môn học này (tôi sẽ có dịp nói thêm trong các bài chi tiết ghi
chép về năm thứ 3).
Năm thứ 3, chúng tôi có 2 tuần lao động
tại trại TTTN trường theo quy định là lao động rèn nghề. Vào khoảng dịp đầu năm
1978, lớp được thông báo là mỗi lớp được giao một khu ruộng để cấy, làm cỏ, bón
phân, gặt, phơi, nhập kho theo dõi riêng. Khi đó thầy Trưởng Khoa Phan Trọng Đỉnh
có sáng kiến xin nhà trường cho các lớp của Khoa Kinh tế nhận khoán ruộng.
Đây là sáng kiến mới vì người ta cho rằng nhận ruộng khoán có thể nâng cao
trách nhiệm lao động rèn nghề. Thực chất chỉ là khoán một phần vì từ làm đất,
làm mạ, phân bón, tưới nước, thuốc trừ sâu, máy tuốt, bảo vệ đồng ruộng, sân
phơi và cả quyết định cấy, gặt theo thời vụ vẫn là do trại TTTN quyết định. Dù
sao cũng có chuyện hàng tuần lớp cử người thăm ruộng và lúc quan trọng là lúc gặt
– chú ý không để thất thoát, thu hoạch nhanh gọn, cử người phơi thóc và nhập
kho có văn bản ghi chép hẳn hoi. Chuyện này cũng như một cuộc chơi thú vị, nhưng
không đáng quan tâm lắm. Vào giữa tháng 4-1978, chúng tôi còn có 2 tuần lao động
công ích xây dựng Thủ đô (tôi sẽ ghi chép cụ thể riêng về lao động).
Bối cảnh kinh tế - xã hội và cuộc sống
KTX
Tình hình kinh tế đất nước rất khó
khăn, cuộc sống sinh viên vất vả vì mất điện, mất nước thường xuyên và ăn uống
kham khổ rõ nét, mở đầu cho 3 năm học ăn mì hạt Liên Xô.
Chúng tôi học năm thứ 3 (từ tháng
9-1977 đến 7-1978) trong tình trạng Hoa kiều đòi về nước gây ra sự kiện “nạn kiều”
phá rối rất phức tạp. Chiến tranh Tây Nam ngày càng nghiêm trọng. Quân Khơ me đỏ
gây ra cuộc thảm sát Ba Chúc 4-1978 rất tàn bạo gây kinh hoàng cả nước. Sinh
viên khi đó sống trong tình trạng “bán thời chiến”[2].
Vài nét về cuộc sống KTX
Năm thứ 3 chúng tôi chuyển sang ở tầng
3 KTX B3, một đơn nguyên có mỗi tầng 8 phòng, một cầu thang đi giữa (Nhà B3 chỉ
bằng một nửa so với A1 hoặc A2). Trước đây, KTX B3 là nơi ở của nữ sinh nên ít
bị phá phách như các KTX nam sinh. Hồi đó, trường đã lấy toàn bộ các phòng (từ
phòng 15 đến phòng 18) cả 3 tầng nhà A1 dành riêng cho lưu học sinh Lào, vì họ
đã bắt đầu sang học ngày càng nhiều.
Kí ức quan trọng nhất mà tôi còn nhớ là
việc nấu ăn sáng rất phổ biến. Một số nhóm thường xuyên có ăn sáng là anh Học –
Thoại, Khang - Ảnh, Giang – Kình – Quân… Vài người còn sắm được bếp dầu để nấu
ăn. Hồi đó các buổi sáng trên sân thượng luôn có các nhóm ăn uống của 2 lớp KT20AB.
Phía trước nhà B3 có một sân bóng chuyền
nên các buổi chiều hoặc cuối tuần đều có người “loẹt quẹt” tập đánh hoặc đấu
các nhóm với nhau. Các anh KT19 và KT20 lúc này đã tổ chức ghép nhóm chơi bóng.
Anh Thước KT19 (cùng quê anh Thoại) thường xuyên chơi bóng chuyền với chúng
tôi. Các buổi chơi rất vui góp phần giải phóng năng lượng đám trẻ chưa biết làm
gì ngoại học hành.
Hồi này Chủ nhiệm Khoa Kinh tế nông
nghiệp là thầy Phan Trọng Đỉnh[3]
rất quan tâm phong trào nội trú. Trường ĐHNNI được gọi là “quê hương nội trú”
của các trường đại học ở Hà Nội. Việc phân công quét dọn vệ sinh rất thường
xuyên. Anh Khang được bầu là Phó ban nội trú toàn trường cũng chịu khó hoạt động,
tuy nhiên việc thiếu nước sinh hoạt, thiếu điện đã hạn chế nhiều nỗ lực chung.
Hồi đó thầy Phan Trọng Đỉnh yêu cầu toàn bộ nam sinh ở KTX B3 đi ăn cơm phải
xếp hàng kiểu quân đội. Các buổi trưa đi học về ai cũng muốn lao xuống bếp
ăn, nay lại chờ nhau xếp hàng đi rất nhiêu khê. Chỉ duy trì được chừng 1 tháng
thì thí điểm bị thất bại. Lại có chuyện vài lần thầy Trưởng Khoa Phan Trọng Đỉnh
ban đêm mời sinh viên lên sân thượng để nói chuyện “thời sự” rất nhiệt tình. Thầy
nói về tình hình trong nước, quốc tế, phong trào ủng hộ Việt Nam… Có thể nói thầy
thể hiện nói chuyện rất tự nhiên, giọng sang sảng, tinh thần lạc quan và một bố
cục chuyện rất chặt chẽ, rất đẹp ở kết luận, đem lại tinh thần cổ vũ động
viên như kiểu chính trị viên khá xuất sắc. Đúng là một sĩ quan chính trị có nghề!
Xuất hiện vài thay đổi: Các anh KT20 ở
tầng 3, KT19 ở tầng 2 nhà B3 thường xuyên có trò trêu các nữ sinh từ nhà KTX B4
đi ngang qua B3. Chuyện trêu chọc cũng không quá đáng lắm nhưng nhiều chị em B4
cảm thấy ngại khi bị trêu chọc. Có vài chị em dám nói vài câu “chọi lại” nhưng đa
số cúi mặt cười đi nhanh qua vì biết khó chọi nổi vì đám nam sinh rất đông. Ở
cuối “phố thối” ra ngoài làng đã có chỗ tường bị phá và người ta bắc những khúc
gỗ nhỏ qua mương để có thể ra các quán nước chè mới mở thay vì phải ra tận Trâu
Quỳ như hồi các năm trước. Các buổi tối thứ 7 nhà trường vẫn duy trì được chiếu
phim sau nhà 4 tầng, nhưng các tối khác thì sinh viên vượt tường qua ngả “phố
thối” để đi xem TV ở doanh trại quân đội gần nghĩa địa Gò Cung. Hồi đó đang có
phim “Trên từng cây số” có diễn viên Di-a-nov đóng vai tình báo Bungaria
rất nổi tiếng.
Trong lớp có thêm một số người mới: Anh
Tường, anh Tuấn (nhái) từ KT19 vì lí do gì đó đã được bố trí với KT20A. Anh Tường
quê Hải Phòng ở tổ 2, anh Tuấn quê Hà Nội ở tổ 1 cùng phòng chúng tôi. Sau này
có thêm chị Nguyên cũng đến với KT20A từ KT19.
Chuyện lo học hành, phấn đấu
Hồi này cơ bản chúng tôi đã có kinh
nghiệm học hành nên không còn phổ biến chuyện đi học đêm trên giảng đường bằng đèn
dầu như 2 năm đầu. Các buổi tối ai cũng chờ có điện là tập trung học. Buổi chiều
cũng thường tìm đến các giảng đường trống để tự học. Tôi cũng thường xuyên đến
thư viện mượn sách để đọc thêm về chuyên môn.
Lúc này Chi bộ đã có phong trào bồi dưỡng
cảm tình Đảng cho các sinh viên có chí hướng và học khá giỏi. Tôi và một
số người khác đã được coi là cảm tình Đảng và qua anh Khang tôi biết Chi bộ đã
giao cho anh Chình (lớp trưởng) quan tâm bồi dưỡng tôi. Một hôm cùng mấy anh em
đi dạo chơi, có dịp tôi hỏi anh Chình về việc tôi cần phải làm những gì để từ cảm
tình Đảng thành đối tượng Đảng. Anh Chình nói tôi cứ phấn đấu học hành, việc trở
thành đối tượng Đảng sẽ tự nhiên đến nếu tôi có ý thức phấn đấu và trở thành “người
ưu tú” trong quần chúng. Tôi biết việc đó có thể còn lâu lắm nhưng quan trọng
là tôi biết anh Chình cũng không có kế hoạch gì trong việc theo dõi giúp chúng
tôi trở thành đối tượng Đảng nhanh hơn.[4]
Cũng từ đó tôi không quan tâm nhiều đối với công tác Đảng. Cuối năm 1978, một số
anh em chúng tôi được cử đi học một lớp cảm tình Đảng ở Trại TTTN. Ở lớp đó,
người ta nói chung chung về lý tưởng của thanh niên, của trí thức, về con đường
Đảng đưa đất nước lên sản xuất lớn XHCN…
Có một thời gian rất đáng nhớ là những
tuần đi TTGT lần I. Chúng tôi được đi cùng KT19 về các xã ở huyện Gia Lâm để
làm quen với công tác tổ chức HTX NN toàn xã và được bắt tay thực hành một vài
công việc về Kinh tế nông nghiệp và Thống kê nông nghiệp (tôi sẽ chi tiết hơn
vào bài khác). Riêng tôi rất chú ý đến những công việc sau này có thể làm khi
ra trường, nhất là quan sát cách làm việc của cán bộ địa phương. Mặt khác, qua
thực tập chúng tôi đã bước đầu làm quen với một vài giáo viên chuyên môn hướng
dẫn thực tập – gọi là bước đầu gần hơn với những người dạy chúng tôi – những
người có trình độ cao và rất đáng kính trong mắt sinh viên chúng tôi hồi đó.
Có một sự kiện tôi còn nhớ là hồi đó ở
trường ĐHNNI tổ chức buổi bảo vệ luận án phó tiến sĩ cho thầy Phan Trọng Cung
ngành Bệnh lý học và chữa bệnh động vật, đề tài phòng trừ ve bét gì đó
trên trâu bò[5].
Buổi bảo vệ diễn ra ở Hội trường nhỏ tầng 3 nhà Học tập do chính Hiệu trưởng
PTS Lê Duy Thước làm Chủ tịch Hội đồng. Mặc dù tôi không hiểu gì về chuyên môn
nhưng tôi thấy 11 vị trong hội đồng đều rất trang trọng. Ai cũng ăn mặc đẹp, PTS
Lê Duy Thước mặc áo trắng mới tinh chỉ đạo buổi bảo vệ. Sau này tôi mới biết
đây là luận án PTS đầu tiên được bảo vệ thành công tại trường ĐHNNI. Nghiên cứu
sinh Phan Trọng Cung người thấp lùn to đậm cũng mặc đẹp: áo complê có cà vạt.
Tôi chỉ đứng ngoài hành lang nhìn vào một lúc nhưng cứ nhớ mãi ấn tượng buổi
sinh hoạt khoa học này.
[1] Tên các môn học trong Bộ môn này: Thống kê nông nghiệp,
Kế toán nông nghiệp, Kế hoạch nông nghiệp, Tài chính nông nghiệp, Phân tích hoạt
động kinh tế, Công cụ tính, Toán kinh tế.
[2] Tiếp đó là sự kiện 17- 2- 1979 Trung Quốc xâm lược Việt
Nam.
[3] Thầy Phan Trọng Đỉnh Chủ nhiệm Khoa Kinh tế Nông nghiệp
từ 1978-1982.
[4] Sau này KT20A chỉ có anh Đỗ Văn Đức được kết nạp Đảng (khoảng
7-1980). Anh Đỗ Văn Đức đã là đối tượng Đảng từ khi đi bộ đội về, anh cũng là lớp
phó KT20A nhiều năm.
[5] Năm 1978, NCS Phan Trọng Cung là người bảo vệ thành công
luận án PTS đầu tiên ở ĐHNNI.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét