Thứ Sáu, tháng 11 14, 2025

Chúng tôi học tiếng Nga (kì 1)


Môn Nga văn hồi chúng tôi đi học được thiết kế cho 3 năm học: năm thứ nhất học 45 tiết; năm thứ 2 học 105 tiết; năm thứ 3 học 105 tiết. Có 3 lần kiểm tra và 2 lần thi[1]. Đây là môn học trải 3 năm liên tục với số tiết 255 - nhiều nhất trong các môn ở đại học (chiếm gần 10% số tiết học toàn chương trình đại học).

Chúng tôi được quán triệt phải học tiếng Nga vì Bác Hồ[2] đã nói “Là người cách mạng thì phải học tiếng Nga – tiếng nói của Lênin”. Vào đại học tôi mới biết có vài anh chị đã được học tiếng Nga hồi cấp III. Tôi rất thán phục anh Ngô Quý Quân đọc rất nhanh mấy bài học đầu tiên vì anh đã được học hồi cấp III. Khi đó ở Thanh Hóa, chúng tôi không được học ngoại ngữ nào ở trường phổ thông.

Cả trường ĐHNNI khi đó chỉ dạy tiếng Nga. Bộ môn Ngoại ngữ thuộc Khoa Chung thực ra là Bộ môn Nga văn gồm thầy Oánh Trưởng Bộ môn, cô Bái (dạy KT20B), thầy Lịch, thầy Tôn An, cô Nguyễn Thị Hòa... Cô Hòa rất trẻ, mới tốt nghiệp đại học từ Liên Xô về. Năm thứ nhất 1 và thứ 2, chúng tôi được cô Hòa dạy tiếng Nga cơ bản. Năm thứ 3, thầy Tôn An dạy tiếng Nga chuyên ngành. Chỉ có thầy Tôn An là giáo viên tiếng Nga chuyên ngành Kinh tế nên cả KT20A và KT20B đều thầy dạy, nhưng khác giảng đường[3].

1. Chuyện học tiếng Nga cơ bản năm thứ nhất và thứ hai

Học tiếng Nga năm thứ nhất chủ yếu là mức cơ bản: nhận diện bảng ch cái, đọc và xác định từ vựng, ngữ pháp 6 cách.

Tiếng Nga là một ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Slavơ, có ngữ pháp rất phức tạp, bao gồm nhiều từ loại khác nhau. Các từ loại cơ bản trong tiếng Nga gồm Danh từ, Tính từ, Động từ, Đại từ, Số từ, Trạng từ, Giới từ, Liên từ… Tiếng Nga có 6 cách: Cách 1 – cách danh từ (danh từ và đại từ nhân xưng làm chủ ngữ giữ nguyên như trong từ điển). Cách 2 – Cách sở hữu. Cách 3 – Cách gián tiếp (được sử dụng để chỉ đối tượng nhận hành động). Cách 4 – Cách đối tượng (biểu thị đối tượng trực tiếp chịu tác động của hành động). Cách 5 – Cách công cụ (chỉ công cụ, phương tiện, cách thức được sử dụng để thực hiện hành động). Cách 6 – Cách giới từ (được áp dụng để xác định danh từ hoặc đại từ đứng sau các giới từ, giúp làm rõ đối tượng trong câu).

Các danh từ gồm số ít, số nhiều, giống đực, giống trung, giống cái. Danh từ ở 6 cách đều có biến đổi (đuôi) khác nhau theo số ít, số nhiều, giống đực, giống trung, giống cái. Tiếp theo là các từ loại đi kèm danh từ (như tính từ, số từ,…) cũng biến đổi khác nhau theo các cách. Khi kết hợp với giới từ thì các danh từ lại biến đổi khác nhau. Động từ3 thì (quá khứ, hiện tại, tương lai) và 2 thể (hoàn thành và chưa hoàn thành). Đại từ gồm đại từ nhân xưng, đại từ sở hữu cũng biến đổi theo 6 cách.

Tóm lại, ngữ pháp quá phức tạp, rất khó xác đnh. Khi muốn đặt 1 câu thì đầu tiên là phải xác định được câu đó liên quan đến chọn từ vựng, xác định danh từ cách mấy, biến đổi đuôi thế nào. Rồi các tính từ, đại từ sở hữu biến đổi đuôi theo danh từ, trạng từ đổi theo sự phù hợp với động từ. Lại có mấy chục động từ chia đặc biệt (không theo quy tắc thông thường). Người ta đã tổng kết thành nhiều bảng về biến đổi danh từ, tính từ, đại từ,… theo 6 cách. Lại còn phải nhớ khi cùng cách 4 nhưng giới từ dùng không giống nhau: tôi đến trường (Я иду в школу) dùng giới từ в, nhưng tôi đến công trường lại dùng giới từ на (Я иду на фабрику). Chỉ vài tháng học là các ông bà đi bộ đội về hoàn toàn mất phương hướng, coi như đầu hàng hẳn vì không thể biết đâu mà lần. Đi học chỉ là ngồi cho có mặt và để cười khi nghe các từ phát âm lạ là nghĩ ngay đến nghĩa tiếng Việt! Học từ “con voi”[4] thì đỏ mặt lên khi đọc, lại thích bịa ra kiểu đọc như từ “giảng viên” (преподаватель) đọc thành vừa-đi-vừa-đá-vừa-chen. Mấy bác lớp KT20A còn khoái cả từ “trường học” школa, khi đọc số nhiều là школы[5] vì trùng tên chị Lư trong lớp. Bịa ra kiểu đọc“con voi con vỏi con vòi”. Cả câu “con cò bay lả bay la” đọc kiểu aист летал летал (aixờtờ lechẻn, lechen)…

Phải nói cô Hòa dạy nhiệt tình. Như một số ghi chép tôi đã đề cập, cô Hòa là giáo viên trẻ nhất Bộ môn Nga văn, người T Liêm, Hà Nội[6], vừa đi học từ Nga về lại được phân công dạy lớp kinh tế toàn sinh viên lớn tuổi hơn cô. Các anh chị lớn tuổi học chậm hiểu nên được cô Hòa quan tâm hơn. Cô có mấy lần đến KTX xem điều kiện ăn nghỉ của chúng tôi, cô kể chuyện đi học bên Nga. Khi dạy nhớ tên chúng tôi khá nhanh, nhờ đó sm biết được các đối tượng theo trình độ tiếp thu. Trên lớp thì dù học tiếng Nga nhưng cô nói tiếng Việt là chủ yếu. Sinh viên chỉ tập trung vào ngữ pháp nên đọc và nghe rất kém – nói chung nếu chăm chỉ nhất cũng chỉ là đọc được câu tiếng Nga và phân biệt được các cách đã dùng trong câu đó. Đối với tôi, tôi nhận diện rất tốt câu tiếng Nga – câu đó dùng cách mấy – nhưng bắt tôi đặt câu và tự chọn từ vng thì cũng khó ghép được câu đúng.

Năm thứ nhất lại bị gián đoạn bởi lao động nghề nghiệp 2 tháng và 1 tháng học quân sự nên người ta bố trí thời lượng chỉ 45 tiết (tức là kiểm tra chứ không thi). Bài kiểm tra viết, một số anh em trẻ đều đạt điểm cao, đa số các anh chị bộ đội đều qua được bài kiểm tra (chắc được cô Hòa động viên và chúng tôi cũng giúp đỡ nhau khi làm bài kiểm tra – kiểu bố trí len lỏi khá kèm kém trong chỗ ngồi khi làm bài).

Tuy vậy hết năm thứ nhất thì cô cũng biết những ai học khá và vào năm thứ 2 lớp cử Ban cán sự môn học – tôi được chọn Trưởng Ban cán sự môn Nga văn. Gọi là Ban cán sự nhưng chẳng phải làm gì, có vài lần đi với anh Hợp đến gặp cô Hòa liên hệ phụ đạo môn học trước khi thi hoặc kiểm tra. Cô Hòa thì quá nhiệt tình nên đề nghị của lớp rất dễ dàng được cô chấp nhận. 

Kỳ 1 năm thứ hai không có gì đáng nói vì cũng chỉ 45 tiết (cuối kỳ là kiểm tra) nhưng vào k 2 môn Nga văn được tổ chức thi lần 1 bằng hình thức vấn đáp, mọi người lo lắng hơn. Theo đề nghị của lớp, Ban cán sự môn học gặp cô bàn chuyện kết hợp lớp và Đoàn Thanh niên tổ chức một buổi trao đổi về cách học môn học này để thi cho tốt. Cô Hòa nhận lời đến dự. Buổi trao đổi diễn ra vào một tối trong tháng 6/1977, trước khi học hết chương trình kỳ 2 để vào ôn tập thi.

Đoàn thanh niên theo kịch bản đã phân công trước một số người được lên báo cáo kinh nghiệm. Đầu tiên tôi là Trưng Ban cán sự phát biểu trước. Tôi còn nhớ kinh nghiệm của tôi xoay quanh cách nhớ các từ vựng, về ngữ pháp thì cơ bản xác đnh chọn đúng các ch (nhất là cách 4 và cách 6 đi với giới từ), các “mẹo” xác định một câu trong tiếng Nga thuộc cách mấy... Chắc cũng không mấy ai hiểu tôi đã nói kinh nghiệm gì.

Nhiều người phát biểu cũng theo kiểu phải viết cho đúng, ghi được câu để ghép các thành phn câu. Một câu đủ ngữ pháp phải gồm chủ ngữ (đại từ nhân xưng hay danh từ) vị ngữ (cần phải chọn đúng động từ, xác định có được chia thường hay đặc biệt, quá khứ, hiện tại hay tương lai, chia theo ngôi theo số của chủ ngữ), sau đó mi đến tân ngữ (một danh từ thuộc đối tượng của động từ, phải chia cách mấy theo ngữ pháp) rồi các trng từ bổ ngữ cho động từ và tính từ bổ ngữ cho danh từ. Đây thực chất là giải thích các thành phần một câu tiếng Nga, nhưng ghép được một câu thì đầu tiên phải biết từ vựng, xác định được thành phần từ loại trong câu. Đó là chưa kể một từ có từ vựng có thể chuyển đổi từ loại như danh-động từ, tính-động từ... Học theo kiểu này chủ yếu chỉ là đọc hiểu chứ khó mà viết được một câu, lại càng không thể nói (hội thoại) được một câu khi giao tiếp.

Buổi trao đổi khá tự do và cô Hòa đến dự thấy vui vì nghe các báo cáo đều là những người học khá. Trong buổi trao đổi tôi còn nhớ anh Nguyễn Đức Trí lên báo cáo kinh nghiệm, anh bảo muốn nhớ từ vựng thì phải vận dụng cho dễ nhớ. Ví dụ: từ "kỳ thi" trong tiếng Nga là экзамен (đọc là "ek-za-men") thì cần nghĩ đến ếch–da–cam là có thể nhớ. Hay từ tổng hợp” tiếng Nga là обобщение (đọc ôbb-se-nhi-e), thì phải nghĩ ngay đến con ếch kêu ộp - ộp. Mọi người cười ran, cô Hòa cười rất to, sảng khoái.

Phần cô Hòa phát biểu cũng không có gì quan trọng lắm, cô chỉ nhắc phải ôn theo hướng dẫn của bộ môn đã gửi cho lớp, còn chuyện nhớ từ vựng thì không thể nhớ nhanh, nhớ nhiều được. Khi nào thi nếu từ nào không biết có thể giáo viên hoặc hỏi người khác mt chút cũng chấp nhận được. Cái quan trọng là phải nhận dạng được ngữ pháp.

Rồi ngày thi cũng đến, lớp KT20A thi kết thúc phn tiếng Nga cơ bản của cô Hòa vào ngày 28-7-1977 theo kiểu thi vấn đáp. Bàn hỏi thi của tôi có cô Hòa ngồi cùng thầy Oánh - Trưởng Bộ môn Nga văn. Tôi dễ dàng trả lời đúng các câu hỏi nên được 5/5 điểm công bố ngay tại bàn thi. Tôi vần A là người thi đầu tiên nên mọi người nhìn tôi vẻ ngưỡng mộ, nhưng hy vọng “đầu xuôi đuôi lọt” để ai cũng tr lời qua được môn “hóc búa” này.

Qua 2 năm học tiếng Nga này tôi được cái quan trọng nhất là bắt đầu biết nhiều về ngữ pháp tiếng Việt. Thì ra hồi phổ thông, các thầy cô dạy nhưng không còn nhớ gì (dù vẫn dùng khá tốt tiếng Việt). Qua học tiếng Nga tôi đã biết rõ thành phần của một câu tiếng Việt như chủ ngữ, vị ngữ, tân ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ… Đúng là “học cái nọ - biết cái kia”!



[1] Số tiết 45/kỳ là kiểm tra, > 60 tiết/kỳ là thi. Ba lần kiểm tra Nga văn là hết năm thứ nhất, kỳ 1 năm thứ 2 và kỳ 1 năm thứ 3. Hai lần thi vào kỳ 2 năm thứ 2 và kỳ 2 năm thứ 3.

[2] Bác Hồ nói tháng 10-1955, theo thông tin bài viết  https://ulis.vnu.edu.vn/pgs-ts-bui-hien-tieng-nga-la-cong-viec-suot-doi-toi/

[3] Khi đó quy định lớp Nga văn không được quá 60 sinh viên

[4] Từ con voi tiếng Nga là слон, đọc là sờ-lôn

[5] Đọc là sờ-cô-lư

[6] Anh Công Phương Kình là bạn học cùng lớp với cô Hòa. Cả hai đều ở thôn Phú Gia, Phú Thượng, Từ Liêm, Hà Nội.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét