Thứ Tư, tháng 10 29, 2025

Chuyện năm thứ 2 – Môn Kinh tế chính trị và kí ức hai người thầy

 

Sau Triết học, Kinh tế chính trị cũng là môn học cho tất cả các ngành học trong trường. Riêng ngành Kinh tế nông nghiệp, môn Kinh tế chính trị học 240 tiết chia 2 kì, nhiều hơn các ngành kĩ thuật tới 60 tiết.

Phần Kinh tế chính trị tư bản chủ nghĩa thầy Công dạy (kì 1)

Tôi còn nhiều kí ức về thầy Công. Thầy Công quê miền Trung, Quảng Nam hay Quảng Ngãi gì đó. Khi đó thầy khoảng trên 50 tuổi, có dáng khắc khổ như người lính chuyển ngành. Người tầm thước vừa phải, da hơi ngăm đen, môi thâm, mặt có nhiều vết hằn gian khó một thời. Giọng thầy nhỏ, kiểu phát âm như bị nuốt mất từ ở cuối câu nên nghe rất khó. Hồi đó tôi phải mất mấy tuần mới nghe kịp và nhiều người vẫn phải hỏi nhau khi không chép được. Ví dụ từ “manh mún” thầy phát âm nghe như “mông mún” nên có khi lại bị hiểu ra “mong muốn”(!) Thầy giảng bài rất ít khi cười, hàm răng nói không lộ trong lúc phát âm nên nếu nghe theo kiểu nhìn miệng sẽ thấy “như người ngậm hột thị” rất khó mà đoán biểu thị giọng nói qua cách mấp máy môi. Thầy ăn mặc kiểu “nửa đại cán”, áo ngoài dạ nâu may kiểu Tôn Trung Sơn, thường có cái khăn len nâu và đôi khi cái mũ cát-két da đen cũ trông “cả cây” nâu đen trên bục giảng, nhất là những tiết đầu giờ sáng mùa đông rất thiếu nắng. Cảm giác như thấy lờ mờ một mục sư đứng yên trên mục đang truyền đạo kiên nhẫn và tận tình. Một dạng khắc khổ nhưng không giống kiểu khắc khổ của thầy Thủy dạy Triết: thầy Thủy thì nói to, hào sảng hay cười chứ không có giọng trầm lặng như thầy Công.

Tuy vậy, tôi lại rất nhớ những nội dung mà thầy dạy. Tất nhiên, cũng như mọi môn học khác, Kinh tế chính trị có chương đầu là Đối tượng, phương pháp nghiên cứu của môn học. Đây là Kinh tế chính trị Mác – Lênin nên tất nhiên là duy vật, là biện chứng, là khách quan… Sau đó là các vấn đề cơ bản của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Tôi ghi ra ở đây vài tóm tắt các vấn đề thầy dạy mà chắc nhiều người trong lớp sẽ vẫn còn nhớ:

Hàng hóa có 2 thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng.

Có 2 loại lao động: lao động cụ thể và lao động trừu tượng: Lao động trừu tượng là lao động xã hội kết tinh trong hàng hóa nghĩa là hao phí lao động xã hội cần thiết.

Tiền tệ có 5 chức năng: thước đo giá trị, phương tiện trao đổi, phương tiện lưu thông, phương tiện cất trữ và tiền thế giới (vàng).

Các quy luật kinh tế cơ bản của kinh tế thị trường là quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh…

Kinh tế chưa có tiền tệ: H-H; Kinh tế hàng hóa có tiền tệ: H-T-H

Lý luận của Mác về giá trị thặng dư: các chủ thể tham gia thị trường sẽ ứng tiền để tìm kiếm giá trị, tức là T-H-T’ sao cho T’>T càng nhiều càng tốt. Chênh lệch T’>T liên quan đến giá trị thặng dư. Công thức C+v+m với C là giá trị tư bản vật hóa, v là giá trị lao động và m là giá trị thặng dư. Biểu hiện của m là lợi nhuận, lợi nhuận bình quân, lợi nhuận thương nghiệp, lợi tức cho vay, địa tô (trong nông nghiệp)

Phần tích lũy và tái sản xuất TBCN, thầy giảng về tích lũy có được là do năng suất lao động, do tỷ suất giá trị thặng dư, do chênh lệch tư bản sản xuất và tư bản tiêu dùng, do quy mô tư bản ứng trước. Hậu quả của tích lũy TBCN dẫn đến tăng cấu tạo hữu cơ[1], tăng tích tụ tập trung tư bản, chênh lệch giàu nghèo…

Các khâu của quá trình tái sản xuất: sản xuất – lưu thông – phân phối – tiêu dùng.

Khủng hoảng kinh tế có tính chu kỳ: khủng hoảng – tiêu điều – phục hồi – hưng thịnh – khủng hoảng…

Phần chương cuối thầy nói về các dạng công ty độc quyền và tính chất độc quyền nhà nước.

Sở dĩ phần thầy Công tôi còn nhớ nhiều nội dung như trên vì hồi đó thầy yêu cầu sinh viên làm 3 bài tiểu luận. Sau này tôi mới thấy rõ sự tận tâm của người thầy qua cách cho sinh viên làm tiểu luận môn học. Các bài tiểu luận của tôi đều được thầy có bút tích phê khen chê - nghĩa là thầy đã đọc rất cẩn thận. Ta thử tính: 2 lớp có 120 sinh viên, mỗi sinh viên làm 3 bài, vị chi thầy phải đọc 360 bài (chưa kể thầy dạy các ngành khác). Mà tiểu luận thì ít nhất cũng 4-5 trang. Các bài tôi viết thường có tới 6-8 trang. Có một trong 3 bài của tôi được thầy phê: “Tốt, chịu khó đọc tài liệu”. Nhờ thế tôi càng viết dài hơn và nghiêm túc hơn.

Tôi còn nhớ hôm thi vấn đáp môn thầy Công là ngày 7-2-1977, trời khá rét. Các thầy ngồi trong khăn áo ấm đầy đủ, còn chúng tôi thì rét run vì sợ hỏi thi, vì áo quần không đủ ấm. Thi vấn đáp nhưng chưa được trả điểm ngay vì nghe nói thầy còn kết hợp với điểm tiểu luận. Chắc nhờ thế tôi được 4/5 điểm. 

 

Phần Kinh tế chính trị xã hội chủ nghĩa thầy Cấn dạy (kì 2)

Thầy Cấn quê Thanh Hóa, người nhỏ thấp, da trắng hơi xanh xao. Thầy đeo kính trắng mắt tròn, gọng đen. Đầu kỳ 2 còn rét nên thấy thầy mặc cả áo khoác dạ tây. Thầy cỡ gần 60 tuổi, sắp về hưu. Khi thầy cười, cái cười khó tả, chỉ “hơ hơ” hai tiếng rồi thôi, không ra kiểu cười gì cả. Tôi không biết tả nó ra làm sao nhưng tạm so sánh thế này: nếu tả kiểu cười “sằng sặc” là cười tự nhiên không khống chế được cảm xúc gây cười, mang tính “ngặt nghẽo” sung sướng của người cười thì cười “hơ hơ” của thầy có lẽ trái ngược với “sằng sặc”. Cười chỉ cất lên 2 từ “hơ hơ” như một kiểu cười bôi bác, chủ động điều khiển âm lượng và độ dài của cảm xúc, mang tính chế nhạo, coi thường, khinh bạc… nhiều lắm. Cho đến nay tôi vẫn không ngừng nghĩ đến cái cười “hơ hơ” đầy tinh quái của thầy.

Thầy có hàm răng trắng, dáng vẻ nhỏ thó, mặt sáng và sang trọng. Nghe nói thầy từng là công chức tỉnh Thanh Hóa trước khi là giảng viên đại học.  Giọng thầy nói rất to, khỏe, rất vang và không ngại từ địa phương Thanh Hóa. Chẳng hạn thầy nói loại đó “mê ra”, các anh chị trong lớp không hiểu là gì – “mê ra” tiếng địa phương Thanh Hóa nghĩa là loại đó thì có đầy ra, nhiều lắm. Có thể nói thầy dạy rất hay, không có cảm giác buồn chán, lại còn được cười nhiều khi thầy kể chuyện ngoài lề. Nhưng… điều đặc biệt là tôi lại nhớ rất ít về các nội dung thầy giảng. May mắn thay chăng (nếu nhớ chắc còn khổ biết bao)?

Tôi chỉ còn láng máng thầy dạy về năng suất lao động của chủ nghĩa xã hội sẽ cao hơn chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản sẽ bị thay thế vì quy luật cơ bản của chủ nghĩa xã hội là năng suất lao động ngày càng cao (nhờ công hữu về tư liệu sản xuất!). Cũng lơ mơ láng máng về giai đoạn chủ nghĩa đế quốc là tư bản “giãy chết” nghĩa là giai đoạn cuối cùng của chủ nghĩa tư bản, là “đêm hôm trước” của chủ nghĩa xã hội. Nhưng thực ra trong giọng của “ông già” gần 60 này có cái gì đó mang ý khiên cưỡng, không tin cậy, không thuyết phục khi giảng về kinh tế chính trị xã hội chủ nghĩa. Chắc “ông già” đã có nhiều kinh nghiệm nên cố diễn đạt cho chúng tôi thấy những thứ thầy nói “còn lâu mới có thật”, chúng là điều “không thể có” ở Việt Nam. Các bạn có nghe thì rất nên “nghi hoặc” trước tình cảnh hiện hành… Đối với tôi, ngay từ khi đó tôi đã nghĩ “ông thầy này đang phù phép” một cách kín đáo để chúng tôi tự biết cái lý thuyết “đêm hôm trước” hay “giãy chết” gì đó là không chắc lắm(?)

Tuy bài giảng thì nhớ ít nhưng tôi lại rất nhớ nhiều câu chuyện thầy Cấn kể. Thầy nói vừa qua thầy được chuyến đi thăm phía Nam, đến Đại học Thủ Đức và thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu trong một chuyến “tập huấn” gì đó. Vài ghi chép của tôi dưới đây qua những buổi thầy nói rất say sưa.

Thầy nói về Vũ Quốc Thúc[2] tham gia chính quyền Sài Gòn và sách của Vũ Quốc Thúc được thầy xin một bộ về tặng Thư viện trường ĐHNNI. Nhờ có thầy mà tôi đã được đọc quyển này của Vũ Quốc Thúc[3]. Sách khổ A4, bìa xanh cũ, rất dày, in roneo khó đọc trên giấy nâu (không rõ NXB nào). Sách nêu mô tả khái quát quy mô kinh tế của miền Nam thời chiến và những triển vọng phát triển sau chiến tranh. Tất nhiên là tò mò đọc cho biết chứ không học hỏi được gì, nhờ đó biết rõ thêm về tác giả và những tiểu sử của tác giả.

Khi nói chuyện thăm thư viện Đại học Thủ Đức, thầy có liên hệ Thư viện trường ĐHNNI. Thầy nói trường ta có thư viện lớn, có tới 50 vạn đầu sách. Cho đến nay tôi vẫn nghĩ là thầy nhầm hay chuyện đó của ngày xưa nào đó chăng? Chỉ một kho bé tẹo ở tầng 4 nhà Hành chính lấy đâu ra nơi chứa 50 vạn đầu sách (chắc là 5 vạn đầu sách cũng đã khiếp rồi). Hồi năm thứ 2, nhờ thầy Công yêu cầu làm tiểu luận nên tôi đã thường xuyên lên thư viện nên tôi khá rành chuyện mượn sách ở đây.

Thầy kể rằng ở Đại học Thủ Đức có những con bò giống rất quý hiếm trên thế giới. Thế nhưng quân giải phóng tiến vào đã nổ súng “cải thiện” mất rồi. Chuyện ở miền Nam đã rất hiện đại thời Mỹ tham chiến: Một hóa đơn xuất kho ở Sài Gòn, 1 giờ sau đã có hóa đơn in ra ở Tây Nguyên (chắc máy fax[4] đã có từ hồi đó). Rồi chuyện tư sản mại bản sản xuất bom, dây thép gai cung cấp cho quân đội đánh nhau với ta thì dứt khoát phải tiêu diệt vì có tội với nhân dân, nhưng người dân làm kinh tế tư nhân có nên coi là có tội không, có nên quy là tư bản không?

Còn hai chuyện vui của thầy tôi còn nhớ:

Một lần có mấy anh nói thầy ăn mặc ra vẻ sang trọng. Thầy bảo: Tớ thì “trên Tây thải – dưới Tàu cho”, có gì là sang với trọng! Ý nói áo và giày đều do con cái hay ai đó biếu tặng hoặc dùng lại của ai đó.

Một lần thầy dạy công thức Mác: một cái rìu = 20kg thóc để nói sự trao đổi ngang giá trong kinh tế thị trường. Thầy cười “hơ hơ”, tại sao Mác lại dùng ví dụ cái rìu, hay ngày đó chợ toàn bán rìu búa. Ở ta cũng có từ “chợ búa”[5] phải chăng chợ thường bán búa?

Nói chung cái hay của thầy Cấn là dạy mật ngữ dành cho chúng tôi. Cho đến nay, phần kinh tế chính trị xã hội chủ nghĩa hồi đó đều không có thể vận dụng cho nền kinh tế nước ta hiện nay. Hôm nay cả nước đang khẳng định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của đất nước. Thầy là người dám “chê” rất khéo chế độ ngay từ khi chúng tôi học. Một người thầy dám “chê” nền kinh tế XHCN là nền kinh tế “xếp hàng cả ngày” hồi đó hiếm lắm, cực hiếm!

Môn của thầy thi ngày là 22-7-1977, cũng thi vấn đáp và tôi cũng đạt điểm 4/5.

 

Những kiến thức từ môn học Kinh tế chính trị liên quan đến nghề nghiệp

Chuyện chức năng của tiền

Sau này tôi có giảng môn Tài chính – Tiền tệ cho sinh viên các ngành Kinh tế, Kế toán và Quản trị kinh doanh nên có điều kiện tiếp tục được mở rộng và sâu thêm các chức năng của tiền tệ. Tài liệu chúng tôi sử dụng là một tác phẩm rất hiện đại và nổi tiếng là Kinh tế học về tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính của Ferideric S. Mishkin[6].

Mishkin cho rằng tiền tệ có 3 chức năng gồm phương tiện trao đổi (medium of exchange), đơn vị tính toán hay thước đo giá trị (unit of account) và dự trữ giá trị (store of value). Về tên gọi thì 3 chức năng này cơ bản cũng giống Mác, nhưng thiếu đi 2 chức năng là phương tiện thanh toán và tiền thế giới. Vì những vấn đề thời đại nên Mishkin đã lờ đi 2 chức năng của Mác. Cái khác là Mishkin trình bày 3 chức năng này là cách nhìn thực tiễn chứ không đi sâu vào khái quát như Mác. Chẳng hạn ở chức năng thước đo giá trị, Mác nói về lao động trừu tượng hay lao động xã hội cần thiết tạo ra giá trị hàng hóa, còn Mishkin thì nhấn mạnh tính tiện ích của tiền trong đo lường. Ví dụ của ông đi từ những cái rất cụ thể: giả sử có 4 hàng hóa A, B, C, D đem ra trao đổi. Nếu không có tiền (trong kinh tế H-H) thì sẽ có tới 6 giá so với nhau: A-B, A-C, A-D, B-C, B-D, C-D. Nhưng nếu có tiền (trong H-T-H) thì chỉ còn 4 giá vì cả A, B, C, D đều đo được bằng tiền.

Công thức hóa chuyện đó thành [n*(n-1)]/2 (chẳng hạn nếu 4 hàng hóa thì n=4, 4(4-1)/2 = 6). Theo công thức đó, giả sử một cửa hàng có 10 loại mặt hàng thì người bán hàng phải nhớ 45 giá, nếu có 100 mặt hàng thì người bán hàng phải nhớ tới 4950 giá! Nền kinh tế có 1000 mặt hàng thì có tới 44950[7] giá. Thật quá phiền khi nền kinh tế có cả triệu, cả tỉ mặt hàng. Trong H-T-H thì có bao nhiêu mặt hàng sẽ có bấy nhiêu giá, tiện lợi biết bao.

Ở chức năng này, Mác tập trung nhấn mạnh khía cạnh nhờ tiền mà hàng hóa được đo bằng giá trị lao động xã hội kết tinh. Hồi chúng tôi đi học, tôi nghĩ rằng khi đó không ai hiểu (kể cả thầy dạy) vì “hiểu được là chết liền”! Thầy Công dạy lao động trừu tượng là sự tiêu hao sức lực chung của con người (cơ bắp, thần kinh), là yếu tố tạo ra giá trị hàng hóa. Lao động trừu tượng khác lao động cụ thể. Lao động cụ thể là lao động có hình thức xác định, tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa. 

Khía cạnh Mác đề cập là giá trị hàng hóa là giá trị lao động xã hội kết tinh. Chuyện này đặt ra vấn đề: làm sao tính lao động xã hội kết tinh? Ví dụ người công nhân sản xuất ra cái búa thì lao động xã hội kết tinh (cơ bắp và thần kinh) ở đấy là bao nhiêu để định giá cho nó. Đó là chưa kể thợ vụng so với thợ khéo. Mác rất tinh quái đã không đưa ra cách đo giá trị lao động xã hội kết tinh trong hàng hóa. Nhưng kinh tế thị trường thì đã có cách rất hay: đem cái búa đó ra chợ (cung) người mua (cầu) sẽ mặc cả. Giả sử cái búa được người mua và người bán chốt giá 100đ, tức là cung và cầu đã gặp nhau – cái búa bán được – thế là đo ngay được giá trị lao động xã hội kết tinh trong cái búa là 100đ. Haha, kinh tế thị trường đã rất tài tính tìm ra giá trị cái búa bằng mặc cả chứ không cần suy nghĩ lao động xã hội kết tinh đó là bao nhiêu, không liên quan đến thợ vụng hay thợ khéo… Tuyệt quá cái kinh tế thị trường!

Đó là chưa có điều kiện bàn sâu về giá trị sử dụng tạo ra từ lao động cụ thể. Người sản xuất nghĩ ra hàng hóa được sử dụng để làm gì, khi sử dụng mới là giá trị thực tế của người dùng. Nhưng ôi thôi, đâu phải cái người sản xuất nghĩ ra đã giúp người mua làm được hết tiện ích của cái giá trị sử dung đó. Cái búa để đập đá nhưng người sử dụng còn có thể dùng búa để đập đầu người (đánh nhau). Ngày nay cái điện thoại di động thông minh ngày nay có cả trăm ứng dụng mà các cụ U70 chỉ dùng để nghe và gọi. Cái giá trị sử dụng thì người bán nghĩ ra, còn người mua thì nghĩ khác lắm, khác lắm thay!

Chuyện công thức C+v+m

Đa số cho là công thức không chính xác và quá đơn giản hóa, vì nó không giải thích đầy đủ nguồn gốc của giá trị thặng dư và bỏ qua vai trò của lao động sống trong quá trình tạo ra giá trị. Các điểm chính phê phán công thức là không thể phân tích quá trình sản xuất: C+v+m chỉ cung cấp một phép đo về đầu ra của quá trình sản xuất, nhưng không giải thích cách thức giá trị được tạo ra. Ví dụ, nó chỉ nói rằng sản phẩm cuối cùng có giá trị bằng tổng giá trị của các yếu tố đầu vào, nhưng không giải thích được nguồn gốc của giá trị thặng dư (m).

Công thức này cho rằng giá trị thặng dư (m) được tạo ra bởi lao động sống (v) và máy móc (C). Tuy nhiên, nó bỏ qua vai trò quan trọng của lao động sống trong việc chuyển đổi giá trị các yếu tố đầu vào thành giá trị mới. Ngoài ra công thức này không giải thích được sự phân hóa của giá trị thặng dư thành lợi nhuận, tiền thuê và lãi suất.

 

Hai người thầy dạy Kinh tế chính trị: Một người thầy dạy cho tôi nhớ nhiều về chuyên môn và sau này nghề nghiệp cũng dùng đến nhiều lần, còn một người thầy dạy tôi biết ngầm phản biện thực tiễn cuộc sống. Cho đến nay tôi thầm cám ơn 2 người thầy đã giúp tôi trong công việc và cuộc sống!

 



[1] Tức C/v ngày càng lớn (hay dùng máy móc là chính), công lao động ngày càng ít đi trong chi phí sản xuất nên lao động thất nghiệp nhiều.

[2] Vũ Quốc Thúc (1920 – 2021) là giáo sư, nhà kinh tế học và chính khách Việt Nam Cộng hòa. Ông là người góp phần quan trọng trong việc đào tạo môn kinh tế học tại trường Đại học Luật khoa và Trường Hành chính Quốc gia Việt Nam Cộng hòa. Ông từng giữ chức Thống đốc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (1955–1956).

[3] Vũ Quốc Thúc là đồng tác giả cuốn "Kế hoạch Lilienthal – Vũ Quốc Thúc" - Kế hoạch phát triển kinh tế miền Nam Việt Nam 10 năm sau chiến tranh của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa.

[4] Ngay từ 1964, hãng Xerox đã bán máy fax thương mại có thể kết nối với đường dây điện thoại. 

[5] Từ "búa" trong cụm từ "chợ búa" có nguồn gốc Hán-Việt có nguồn từ chữ "phố" () có nghĩa là cửa hàng, nơi buôn bán. Xem thêm ở https://cophong.vn/cat-nghia-tu-cho-bua/

[6] F.S. Mishkin, giáo sư nổi tiếng viết cuốn The Economics of Money, Banking, and Financial Markets

[7] Nguyên văn ví dụ của Mishkin: If the economy has only three goods, say, peaches, economics lectures, and movies, then we need to know only three prices to tell us how to exchange one for another: the price of peaches in terms of economics lectures (that is, how many economics lectures you have to pay for a peach), the price of peaches in terms of movies, and the price of economics lectures in terms of movies. If there were ten goods, we would need to know 45 prices in order to exchange one good for another; with 100 goods, we would need 4950 prices; and with 1000 goods, 499 500 prices.

Thứ Sáu, tháng 10 24, 2025

Một chuyến thực tập giáo trình nhiều kỉ niệm

Cùng nhau nhớ lại kỉ niệm về Mộc Châu 1978-1979 


Từ giữa tháng 12/1978 đến giữa tháng 1/1979, theo chương trình học kì 1 năm thứ 4, chúng tôi có chuyến đi thực tập giáo trình khu vực kinh tế quốc doanh, thời gian 8 tuần. (Lần thứ nhất đi thực tập khu vực kinh tế HTX 4 tuần tại Gia Lâm). Khoa Kinh tế nông nghiệp của ĐHNNI có địa bàn thực tập chiến lược là Nông trường quốc doanh (NTQD) Mộc Châu, Sơn La, cách Hà Nội 185km đi theo đường số 6 cũ[1]. Tất cả sinh viên Khoa Kinh tế nông nghiệp của ĐHNNI ngay từ khi mới vào trường đều biết sẽ được đến thực tập giáo trình tại NTQD Mộc Châu.

 1. Các chuẩn bị và tinh thần háo hức đi thực tập

Nội dung thực tập trực tiếp lần này là các môn Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp, Kế toán nông nghiệp, Kế hoạch nông nghiệp. Khi đó chúng tôi đã thi xong môn Kế toán nông nghiệp, đang học môn Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp Kế hoạch nông nghiệp. Phần Tổ chức quản lý xí nghiệp nông nghiệp đã được các thầy cho học xong nội dung tổ chức ngành chăn nuôi để kịp đi thực tập lần này (vì Nông trường Mộc Châu có chăn nuôi bò sữa).

Trước khi đi, Khoa tổ chức tập huấn nghiêm túc. Ban chỉ đạo gồm nhóm 5 giáo viên do Thầy Nguyễn Liễm phụ trách. Việc tập huấn khá kĩ về công tác xây dựng kế hoạch sản xuất cấp đội (trồng trọt, chăn nuôi, chế biến). Lúc này chúng tôi cũng đã học xong các môn về trồng trọt như Trồng trọt đại cương, Trồng trọt chuyên khoa (gồm cây lương thực, cây công nghiệp, rau quả…). Riêng cây chè cũng đã được học 30 tiết do thầy Nguyễn Ngọc Kính dạy nên cũng đã biết sơ sơ về sản xuất-chế biến chè. Về chăn nuôi thì đang học môn Chăn nuôi cơ bản (trâu bò, lợn, gia cầm) do cô Nhàn dạy. Chúng tôi được yêu cầu mang theo sách vở chuyên môn để có thể hỗ trợ công việc trong quá trình thực tập.

Trong các buổi tập huấn, chúng tôi được nghe về một mô hình xí nghiệp công – nông nghiệp sản xuất lớn ở Mộc Châu. Có 2 ngành sản xuất chủ lực là chè và bò sữa. Đàn bò lang trắng đen là giống quý do Cu Ba tặng Việt Nam cho năng suất sữa cao, chất lượng sữa tốt… Đồi chè ở đây trồng từ những năm 1960 cho năng suất cao và ổn định. NTQD Mộc Châu còn có nhiều ngành hỗ trợ như nhà máy điện, xưởng cơ khí, đội máy kéo, đội sản xuất thức ăn gia súc, những đồng cỏ chăn thả tự động, trại chăm sóc bê… Rồi được nghe nói về lịch sử NTQD Mộc Châu thành lập năm 1958, đến năm 1979 đã là 21 năm. Họ vừa kỉ niệm 20 năm thành lập NTQD, ban đầu từ 1 trung đoàn bộ đội giải ngũ xây dựng kinh tế miền núi… Các thầy hướng dẫn tập huấn luôn nói đây là địa bàn kết nghĩa của Khoa Kinh tế nông nghiệp và yêu cầu chúng tôi phải giữ uy tín của Khoa, phải làm tốt công việc và tuyệt đối không được vi phạm kỉ luật khi về thực tập ở địa bàn này.

Cũng phải nói thêm về bối cảnh đất nước lúc này: nền kinh tế suy sụp, sinh viên đói dài vì phải ăn mì hạt là chính, chỉ có một phần bánh mỳ rất nhỏ và rất ít cơm. Một mâm cơm 6 người chỉ có gần 2 cái bánh mỳ, cả mâm chỉ có chừng một bát cơm đầy và còn lại là mì hạt. Thật là khó chia nhau khi ăn, mỗi người chỉ được vài thìa cơm. Về chính trị thì chuyện “nạn kiều” phá phách và người Hoa đòi về nước gây nhiều rối loạn. Phía Nam thì biên giới bị Khmer Đỏ đánh phá. Đồng bào Ba Chúc[2] bị quân Pol-Pot tràn qua tàn sát giết mấy nghìn dân thường.

Chúng tôi rất háo hức đi lần này vì được đi đến NTQD lớn, đã nghe thông tin từ các khóa KT18 và KT19 nói ở đây rất hấp dẫn: nào là đồi chè mênh mông, nào là bò sữa vắt máy tự động, nào là cảnh quan núi đồi Mộc Châu đẹp, sản vật địa phương ngon… Khi đi thực tập về họ còn lấy được nhiều hoa phong lan rừng. Tụi trẻ háo hức còn vì được đi xa, đến miền núi xa xôi, sẽ được thấy bao điều mới lạ… Tôi thì nghĩ sẽ được đến Tây Bắc như những gì được đọc trong tác phẩm của nhà văn Tô Hoài[3].

Mấy anh KT18 và KT19 còn kể nhiều chuyện hay: nào là thực tập cũng nhàn nên được đi chơi nhiều, lại được ăn no vì công nhân rất quý sinh viên, họ sẵn lòng mời sinh viên ăn khoai sọ, ngô, lạc… là thứ họ tăng gia được. Lại chuyện các nữ công nhân trẻ mới tuyển lên đây rất khó lấy chồng vì nữ nhiều hơn nam. Phần lớn các nữ công nhân mới tuyển từ Thái Bình, Hà Nam Ninh, Hải Hưng… cũng quý anh em sinh viên. Hàng năm mọi người đợi sinh viên lên thực tập như một dịp đón người đi xa về. Các anh ấy còn nói là ai cũng có kỉ niệm về những gia đình công nhân hay về những cô gái trẻ. Nhiều người thư từ qua lại cho nhau mấy năm trời (khi đó KT18 và KT19 không có ai cưới cô công nhân nào từ Mộc Châu, nhưng sau đó thì có[4]).

Rồi ngày đi cũng đến, bọn trai trẻ chúng tôi thì quá dễ dàng nhưng khi thấy chị Lục, chị Noãn phải gửi con nhỏ trước khi đi mới biết vất vả riêng của các chị. Cả 2 lớp KT20 có 4 xe ca chở đi. Xe đi rất sớm, từ lúc trời mới sáng. Thời tiết đã vào đông se lạnh… Dọc đường còn vui vẻ nói cười, xe qua Hà Nội vào đường 6 hướng Hà Đông lên Xuân Mai, Hòa Bình. Anh Hoàng Việt Cường quê Hòa Bình nói về địa danh Dốc Cun, Cao Phong… Chúng tôi nghỉ trưa tại Mãn Đức, Hòa Bình. Khi xuống xe, tôi thấy nhiều người say xe quá vất vả: Chị Lục nằm dài ra bãi cỏ ven đường, bạn Nhung ôm bụng mặt xanh nhớt, lảo đảo…

Lên đến Mộc Châu trời đã tối. Nhìn ra ngoài thấy đen sì, không rõ cây cối nhà cửa, lại nhiều sương mù. Xe vào khu Nhà khách NTQD Mộc Châu. Người ta đã chuẩn bị sẵn bữa ăn tối. Chúng tôi được đưa đi ăn và được phân chỗ ngủ. Phần lớn ngủ tại khu nhà khách tập thể đơn giản, nhưng vẫn có mỗi người 1 giường. Trời se lạnh, rét ngọt, áo quần sinh viên không đủ ấm. Sáng dậy thấy trời mù sương…

2. Nghe các báo cáo tại nông trường bộ - Những cảm nhận đầu tiên

Chúng tôi được ở nhà khách khoảng 4 ngày trước khi về các đội. Ngay sau khi đến, chúng tôi được tập trung tại Hội trường để nghe các báo cáo. Đây là một Hội trường lớn mới xây kỉ niệm 20 năm thành lập NTQD Mộc Châu. Phía trước Hội trường có 20 bậc thang tượng trưng cho 20 năm xây dựng và phát triển. Hội trường có đủ chỗ cho mấy trăm chỗ ngồi, có sân khấu, bục nói có micro. Mỗi buổi được nghe vài báo cáo. Nhớ nhất là buổi nói chuyện của Giám đốc Tài Anh về quá trình xây dựng và triển vọng phát triển NTQD. Ông Lạng, Phó Giám đốc nói về mô hình nông – công nghiệp.  Ông Yên - Trưởng phòng chăn nuôi, nói về ngành bò sữa, ông Thợn - Trưởng phòng kế hoạch, nói về kế hoạch sản xuất hàng năm. Một ông khác (nay không còn nhớ tên) nói về sản xuất và chế biến chè… Trong Ban lãnh đạo NTQD Mộc Châu, qua nói chuyện biết nhiều người đã được đi thăm Liên Xô, Bulgaria… Rồi chúng tôi có các buổi tham quan Nhà máy điện, Xưởng chế biến sữa, Nhà máy chế biến chè đen, Đội bò sữa 19-5, Đội chè 66.

Qua các buổi nói chuyện và tham quan, chúng tôi được biết NTQD Mộc Châu có tới hơn 30 đội sản xuất. Có 2 đơn vị chăn nuôi là nuôi bò thịt ở NTQD Cờ Đỏ và bò sữa ở NTQD Mộc Châu. Cả chục đội sản xuất chè, nhiều trại nuôi bò sữa theo kiểu chăn thả tự động, có đội máy kéo, xưởng cơ khí, nhà máy điện, có đội sản xuất cây ngắn ngày, đội nuôi bê, trại bò giống (đội 77)… Lại có mấy đội công nhân nhiều người dân tộc như Bản Ôn, Bản Bun, Chiềng Đi…

Tôi rất ấn tượng về một trung đoàn quân đội đã được “hạ sao” để trở thành công nhân nông trường[5]. Ông Tài Anh kể hồi 1958, Mộc Châu còn đầy lau lách, còn cả cọp beo. Những người công nhân đã rất gian khổ tự tăng gia sản xuất và xây dựng thành cơ ngơi như ngày nay – một giấc mơ ở Tây Bắc đang có nhiều khát vọng ATP[6] của Bulgari. Chắc ông đã được đến thăm các Nông trang và NTQD ở Liên Xô, được thăm ATP ở Bulgari nên trong phát biểu của ông tôi thấy cả những nét ông coi thường kiểu sản xuất ở Liên Xô hay Bulgari hồi đó, nhất là ông nói họ không dựa vào sức lực con người như Việt Nam mà chỉ dựa vào máy móc.

Mấy ngày ở khu nông trường bộ, chúng tôi thấy ở đây công nhân kỉ luật, cán bộ làm việc nghiêm túc, chuẩn mực tác phong (như người lính). Nhiều cán bộ ăn mặc đồ Âu - chắc là đã được đi nước ngoài. Nói chung ăn mặc sang trọng hơn giảng viên trường ĐHNNI nhiều.

Các buổi đi tham quan tôi khoái nhất là được “thấy và sờ tận tay” các đồi chè được trồng thành các luống theo kiểu đồng mức chống xói mòn đẹp như tranh vẽ[7]. Các trại bò sạch sẽ, đàn bò đi rất thong dong, ăn cỏ tự do trên đồng theo kiểu chăn thả tự động.

Lại được biết ở đây luôn luôn có các phong trào thi đua của các tổ chức thanh niên, phụ nữ, của các đội sản xuất trong công việc. Một số cán bộ trao đổi với sinh viên được giới thiệu là kiện tướng hái chè, kiện tướng cắt cỏ… những danh hiệu từ các phong trào thi đua XHCN rất lành mạnh và xứng danh năng lực cống hiến của người lao động.

Quanh khu vực nông trường bộ, công nhân lâu năm đều có nhà riêng, có đất vườn. Họ tăng gia được lợn, gà, rau xanh, lại có cả ao nuôi cá, có nương trên núi trồng được ngô, khoai, sắn… Nhà công nhân đều khá khang trang, loa đài, điện sáng… rất sung túc. Bọn trẻ em, nhất là con gái mới lớn khá xinh đẹp, da trắng hồng, trời càng rét càng hồng hào, khỏe mạnh…

Thật là một tương lai đầy hứa hẹn cho vùng kinh tế Tây Bắc!

 3. Đến các đơn vị sản xuất và các công việc của các nhóm

Tiếp đến là chúng tôi được đưa xuống các đơn vị sản xuất. Cả 2 lớp KT20 có khoảng 120 sinh viên được chia đến hơn 20 đội, xưởng sản xuất. Nhóm tôi được phân công về Xưởng chế biến sữa, gồm anh Chu Văn Khang (Nhóm trưởng), chị Nguyễn Thị Liên, các anh Trần Gia Lộc, Hoàng Hữu Đài, Hoàng Nam, Phạm Trọng Lỳ và tôi (nghe anh Khang nói đã tranh thủ ý kiến anh Nguyễn Đình Chình – lớp trưởng để được phân về đây). Anh Nguyễn Đăng Hợp là Nhóm trưởng đến Đội chăn nuôi bò sữa Vườn Đào.

Khi chúng tôi đến Xưởng chế biến sữa, chị Liên được phân ở chung phòng với các công nhân nữ. Các anh em nam được phân ngủ 2 phòng. Có lẽ người ta đã chuyển tạm công nhân ở đây đi chỗ khác để nhường cho chúng tôi ở trong thời gian chúng tôi đến thực tập.

Buổi đầu tiên, anh Thích - Xưởng phó gặp gỡ nhóm và trao đổi công việc. Chị Trưởng xưởng chỉ qua chào xã giao và nói giao toàn bộ công việc cho anh Thích hướng dẫn, giúp đỡ. Chúng tôi được thâm nhập sản xuất, đến thăm khu sản xuất lon làm sữa hộp, khu sơ chế sữa tươi, khu làm casein[8], khu tách bơ, làm bánh sữa, sữa hộp… Chỉ vài ngày là tôi đã nắm rõ các việc trong Xưởng, đã hỏi được các định mức sản xuất – gồm định mức vật tư, nguyên liệu và định mức công lao động. Công việc liên quan đến lập kế hoạch chế biến, tiêu thụ… qua các năm trước đều được anh Thích cho mượn tài liệu. Như vậy công việc làm kế hoạch quá đơn giản, chỉ cần biết lượng sữa tươi hàng tháng và cả năm, từ đó theo các định mức sẽ tính ra được các hao phí sản xuất và sản lượng sản phẩm làm ra. Tuy nhiên, cái khó là kế hoạch xưởng chế biến chỉ có thể được làm sau khi các đội chăn nuôi bò sữa có kế hoạch sản xuất sữa hàng tháng. Như vậy chúng tôi phải đợi công việc từ các nhóm sinh viên thực tập ở các đội chăn nuôi bò sữa, nghĩa là chúng tôi chỉ xong công việc khi kế hoạch các đội chăn nuôi bò sữa xây dựng xong.

Thực ra cũng chẳng biết làm gì nhiều. Nếu có đến Xưởng hàng ngày thì cũng tìm hiểu về kỹ thuật quy trình sản xuất bánh sữa, bơ tách sữa, sữa hộp… mà không liên quan đến công việc thực tập. Chỉ xem qua bản kế hoạch cũ của Xưởng là biết cách lập kế hoạch năm mới. Nhưng để công việc kế hoạch chế biến sữa năm 1979 xong sớm thì chúng tôi phải đến các đội nuôi bò sữa lấy số liệu chứ không đành ngồi đợi các đội chăn nuôi bò sữa báo cáo (vì lúc này đã gần hết tháng 12/1979).

Đến các đội chăn nuôi bò sữa lấy số liệu

Đầu tiên là đến Đội Vườn Đào, nhóm của anh Hợp. Chúng tôi đến không chỉ để lấy số liệu mà khi phân công xuống các đơn vị sản xuất, thầy Liễm còn giao cho các nhóm phải có giao lưu để tìm hiểu công việc ở một đội gần để học hỏi. Nếu thực tập ở đội chè thì phải đến học ở đội bò sữa và ngược lại. Việc này phải viết trong báo cáo của nhóm trước khi tập trung về nông trường bộ. Ngay từ đầu anh Khang đã chọn đăng kí đến đội chăn nuôi bò sữa. Một hôm cả nhóm chúng tôi đến đội Vườn Đào, cách Xưởng sữa chừng 6-7km, đi bộ phải mất hơn 1 giờ. Tôi còn nhớ khi đi có nhìn thấy Đội cơ khí, thấy đường vào Đội 70. Ở đội Vườn Đào ngoài anh Hợp (hình như) còn có anh Trần Duy Học (và những ai nữa thì tôi không nhớ). Khi đó anh Chiêu là đội trưởng ở đây. Anh Chiêu học đại học ngành chăn nuôi bò từ Cuba về. Anh Chiêu vừa tiếp chúng tôi một lát thì bỗng thấy thầy Liễm đi từ phía sau đồng cỏ vào. Thầy đi một mình, kiểu đi tắt vì thầy chắc đã thuộc địa hình ở Mộc Châu. Khi thấy chúng tôi, thầy hỏi ở nhóm nào đến mà đông vậy, đến từ khi nào, đã tìm hiểu được gì… Sợ quá, ai cũng khiếp. Tôi không nhớ lắm chuyện trả lời thầy nhưng có một lí do là vừa đi “học chéo” lại vừa hỏi kế hoạch sữa của đội Vườn Đào để về xây dựng kế hoạch cho Xưởng sữa. Anh Hợp có vẻ cũng rất sợ thầy với những câu hỏi về việc đã học được gì. May có anh Đội trưởng Chiêu tỏ ra thông cảm vì anh biết chúng tôi đến nhưng không thể nắm sâu ngay được các công việc của một đội chăn nuôi bò sữa.

Cuối buổi chiều chúng tôi được ra thăm trại vắt sữa bằng máy. Trại được xây ở chỗ khá rộng rãi và sạch sẽ. Hình như có 6 máy vắt sữa. Người ta làm một đường cho bò đi lên chỗ máy vắt. Khi bò đã lên đủ thì công nhân làm vệ sinh vú và đặt máy hút vào vú bò. Máy hút sữa theo nhịp, khi hút sữa thì bò được ăn thức ăn tinh trong cái máng phía trước. Chừng mươi phút là hút xong sữa 1 đợt. Máy nhả vú bò ra, chuồng được mở để bò đi xuống theo đường khác. Tiếp đến công nhân lại làm thủ tục cho đợt hút sữa tiếp: lấy thức ăn vào máng, dồn sữa vào các bình lớn và gọi tiếp lũ bò mới. Tụi bò lác đác tự đi về trại vắt sữa từ phía đồng cỏ và đứng tụ lại trước trại. Mỗi con bò đều có một số đeo ở tai. Chị công nhân gọi số nào thì con bò đeo số đó đi lên vắt, số còn lại đứng rất trật tự chờ đến lượt gọi. Tôi thấy rất thú vị về chi tiết này. Đây là một nơi xếp hàng văn minh bậc nhất, không chen lấn, xô đẩy hay gây rối như kiểu xếp hàng mua đủ thứ của dân Hà Nội… Thì ra phản xạ vắt sữa là khi các bầu vú đã căng đầy sữa, bò sẽ tự động từ đồng có về trại mà không cần người đuổi về. Hơn nữa ở đó có thức ăn tinh nên khi vắt chúng được ăn ngon, nghe nói khi ăn sẽ tiết ra nhiều sữa hơn (?)

Hôm đến xin kế hoạch sữa của Đội 19-5, tôi thấy có anh Hảo KT19 (quê Thanh Hóa) thực tập tốt nghiệp ở đây. Anh Hảo thì rất quen với anh Khang và tôi. Khi ở trường, vì nhóm đồng hương Thanh Hóa nên đôi khi qua anh Hảo qua nói chuyện tào lao với nhau. Thế là anh Hảo giúp tôi lấy số liệu kế hoạch sữa vì ông Chinh đội trưởng Đội 19-5 hơi khó tính. Mấy anh em nhóm thực tập ở đây cũng chưa làm được gì.

Hôm vào Đội 8-4 thì cũng có thú vị khác là được nếm sữa đầu. Sữa đầu dành cho bê mới sinh những ngày đầu, không được dùng chế biến. Được nếm chút xíu sữa đầu ở đây không phải do người ta đãi chúng tôi mà chắc có sự kiện gì đó (bê bú không hết, bò mẹ có vấn đề đau ốm…). Chỉ một chút thôi nhưng thấy lạ và cũng không cảm thấy ngon gì. Người ta hấp sữa đầu thành một tấm như cái bánh đúc, cắt ra mỗi người một ít, ăn không thấy vị ngọt, chỉ có cảm giác nhiều bơ ngậy – đó là thức ăn rất quý giá của những con bê mới sinh vì sữa đầu rất nhiều dinh dưỡng quý. Sữa này cấm không được chế biến vì phải bảo đảm trước khi tách bê về trại nuôi bê, chúng sẽ được bú sữa đầu. Còn bò mẹ thì sau khi đẻ ít ngày sẽ được thụ tinh trở lại và việc vắt sữa diễn ra cho đến khi bò mẹ sinh lứa tiếp theo (chỗ này tôi nhớ không được có bao nhiêu ngày vắt trong năm/bò sữa).

Còn các đội khác thì tôi quả thật không nhớ ai đã đi lấy số liệu, nhưng cuối cùng thì kế hoạch cũng đã xong ngay khi chúng tôi có số liệu từ các đội. Điều đó chẳng khó gì vì đã nắm được các định mức.

Chia tay Xưởng sữa

Rồi công việc của chúng tôi ở Xưởng chế biến sữa cũng hoàn tất. Buổi chia tay tôi nhớ anh Thích có vài lời khen ngợi trước buổi giao ban toàn xưởng và bữa chia tay có chút ăn tươi. Anh Khang phát biểu cảm ơn và chúng tôi đi bộ về nhà khách. Không có nhiều tình cảm lắm với lần chia tay này. Mấy cô công nhân trẻ ở phòng bên cũng chia tay xã giao, chỉ lơ mơ chào và nghĩ chắc không hẹn gặp lại…

Có thêm một chuyện còn nhớ khi thực tập ở Xưởng chế biến sữa: vào ngày 7-1-1979, qua loa phát thanh của Xưởng, chúng tôi được biết Nhà nước Campuchia của Hunsen đã được thành lập. Chuyện thời sự này rất đáng chú ý vì chúng tôi đều biết nhiều lính Việt Nam đã giúp Hunsen giành chính quyền. Năm 1983, tôi là sĩ quan ở QK9 đã được đến Campuchia - lúc đó vẫn chưa yên tiếng súng - tôi đã hiểu thêm nhiều về cuộc giúp đỡ này[9].

Tôi đã rất nhớ sự kiện này vì trước khi đi thực tập Mộc Châu, chúng tôi đã nghe tin người ta sẽ tuyển sinh viên vào bộ đội. Tôi liên tưởng đến khi thực tập về có lẽ tôi sẽ được gọi tuyển quân. Cũng may là nhờ đi thực tập nên chúng tôi đã thoát đợt tuyển sinh viên vào bộ đội lần đó. Trong thời gian chúng tôi đi thực tập thì một số anh em nam các lớp KT21 đã phải đi bộ đội, chuẩn bị cho cuộc chiến phía Bắc…

4. Trở lại nông trường bộ - Công việc tổng kết chuyến đi

Tại nông trường bộ, chúng tôi còn một tuần để hoàn thành báo cáo thực tập và phải trình bày báo cáo trước các thầy. Các buổi báo cáo cơ bản chỉ là một đại diện nhóm trình bày trước các thầy, các thầy nghe và góp ý. Thầy Nguyễn Liễm có những nhận xét sâu và hỏi nhiều câu khó nên ai cũng ngại. Nhóm nào cũng có bản kế hoạch nộp lại cho đoàn, không biết đoàn có gửi lại cho nông trường không?

Quan trọng nhất là buổi đánh giá kết quả của đoàn thực tập do Thầy Liễm đọc với đông đủ các cán bộ phòng ban tham gia. Nhiều cán bộ phòng ban phát biểu xã giao. Trong buổi đó có một số sinh viên được phân công phát biểu cảm tưởng. Giám đốc Nguyễn Tài Anh dự và phát biểu đánh giá cao sự giúp đỡ của Khoa Kinh tế với NTQD Mộc Châu. Ông là Giám đốc sắc sảo nắm từng chi tiết rất cụ thể, ăn to nói lớn không sợ mất lòng ai. Cái giọng khàn khàn đầy thổ âm Thanh Hóa của ông (quê ông ở Đông Hòa gần Đồng Tiến quê tôi) rất ấn tượng về tính oai vệ của người chỉ huy quân sự. Kiểu quản lý quân đội nhiều người sợ khiếp vía vì ông biết rất rõ bản chất công việc, khó có thể lừa dối được ông. Ông còn trách sinh viên chưa biết gì về Mộc Châu thì đừng có những nhận xét vô tâm. Một câu hỏi của ông: “Các anh chị đã yêu gì từ đất này?” Rồi chính ông trả lời: có thể các anh chị chỉ yêu Mộc Châu ở củ khoai, củ lạc, chứ làm sao biết được con người ở đây đã đổ máu xương xây dựng từ những ngày còn đầy cọp beo thú dữ…

Khi tôi đã là giảng viên đưa sinh viên lên thực tập, tôi mới biết ông Nguyễn Tài Anh rất coi trọng công tác kế hoạch. Có những khóa chính ông là người ngồi duyệt kế hoạch các đội sản xuất. Ông yêu cầu sinh viên báo cáo, cán bộ các đội chỉ ngồi dự. Những buổi báo cáo đó rất nghiêm túc và sinh viên học được rất nhiều từ thực tế. Còn nhớ Khóa KT29 còn có một nữ sinh viên đã tức tưởi khóc khi bảo vệ kế hoạch vì em cho rằng các em đã làm chính xác hơn, làm hay hơn cách làm theo nề nếp cũ!

Hôm tổng kết còn có phát biểu của anh Lê Viết Phán khá vui. Anh lên nói vo mấy lời và rút giấy ra đọc bài thơ tự sáng tác về cảm tưởng đối với NTQD Mộc Châu. Tôi còn nhớ câu anh viết về một thảo nguyên ở độ cao 1050m

Có buổi tối văn nghệ chia tay phối hợp cả bên thanh niên nông trường và đoàn sinh viên thực tập. Thực ra 2 lớp cũng đã tập nhiều buổi văn nghệ trước đó. Tối đó có rất nhiều người dân đến xem văn nghệ. Hội trường chật kín chỗ, một số bạn trẻ còn trèo lên đứng ở bậu cửa sổ. Một số bài hát của sinh viên, đa số là nhóm đồng ca. Phía Nông trường có nhiều tiết mục hay, tôi nhớ nhất là một anh cán bộ ở nông trường hát bài về bản Mèo[10]. Có mấy câu rất dễ nhớ là: “Bản Mèo xa vời lưng núi, chỉ thấy mây bay theo bước chân người, trâu với người đi chung một lối…” Sau này tôi được biết bài hát đó của tác giả Vương Đình Nguyên - khi đó anh đang ở tổ phát thanh của Nông trường.

Có một tiết mục khác là tốp múa của các nữ sinh lớp KT20A. Tôi không rõ tiết mục được dàn dựng ra sao nhưng các nữ sinh lớp tôi ra sân khấu có mặc trang phục áo dân tộc nhiều màu. Khi nhạc nổi lên, các chị từng người vừa đi vừa múa xuất hiện từ phía cánh gà. Sau khi ra đủ (6 hay 8 chị gì đó), các chị bắt đầu quay lại xếp thành hàng theo nhịp điệu múa thì phía hội trường mấy thanh niên gào hú hò hét không hiểu vì lí do gì[11]. Tiếng hú hét và tiếng cười to dần lên, nhất là của bọn bám trên bậu cửa sổ. Thế là các nữ sinh KT20A mất tinh thần. Khi đến cánh gà thì bạn Quế đã chạy thẳng vào, mọi người ào theo. Tiếng vỗ tay, hoan hô cũng rất nhiều âm thanh náo nhiệt. Tiết mục đứt rụp, mất công tập mấy tuần! Nay nói chuyện này chắc mấy chị còn nhớ nhiều hơn tôi.

Sát ngày về, tôi lại thấy rất nhiều nhóm có nhiều quen từ các đội lên chơi. Thì ra nhiều người là đồng hương, là những người có tình cảm sinh viên đến chia tay, gửi quà cáp… Nhiều sinh viên nói đã được các bác yêu quý đùm bọc, mời lên nương, mời ăn lạc, ăn khoai cùng gia đình… Thì ra thực tập ở phía các đội hình như nhiều tình cảm hơn ở phòng tập thể như chúng tôi về Xưởng sữa.

Chỉ có gần 2 tháng ở Mộc Châu mà ai cũng thấy có thay đổi. Hình như được ăn no hơn, được đi lại và nhàn hạ hơn chăng? Riêng chị em thì khác rất nhiều: chị nào cũng trắng ra, hồng hào lên nhiều – sinh viên cũng xinh như công nhân trẻ của nông trường!

Vài chi tiết khác: khi về qua trạm kiểm soát 4 bên[12], mọi người phải xuống xe để các anh công an, bộ đội… lên kiểm tra rất kĩ. May là đoàn đã quán triệt không được mang thớt gỗ, trà khô, lương thực về nên khám xét một hồi mà không bị thu giữ gì. Hồi đó bao cấp, mọi thứ vận chuyển được kiểm soát khá nghiêm ngặt!

5. Một số trải nghiệm từ chuyến đi

Cảm nhận dốc Mộc Châu

Chủ nhật đầu tiên chúng tôi đi loanh quanh lên phía huyện Mộc Châu. Hồi đó qua dốc Mộc Châu quả là rất mệt vì dốc không dài nhưng khá cao. Lên đến đỉnh dốc nhìn xuống mới thấy dốc đứng khủng[13], khi xuống cứ phải đi kiểu ngả người ra sau. Nếu đi xe đạp thì lên dốc tất nhiên phải xuống đẩy xe, nhưng có xuống dốc cũng ít ai dám ngồi vì độ dốc đó khó có thể kiểm soát tốc độ. Chúng tôi vừa đi vừa thở, riêng anh Lộc kêu quá mệt. Hết dốc là phố huyện, chỉ thấy 2 bên có dãy phố lèo tèo không mua bán gì nhiều. Đứng xem một lúc thì trèo về. Trên đường về, đang xuống giữa dốc thì nghe ào ào sau lưng. Thì ra một thanh niên đi xe đạp lao xuống dốc có buộc một cành cây sau xe kéo lê trên đường như kiểu một cái phanh hỗ trợ. Thế mà xe vẫn chạy với tốc độ khá nhanh, rất nguy hiểm.

Chuyện quen các nữ công nhân

Anh Khang làm quen được với một nam công nhân kĩ thuật trong Xưởng sữa. Anh ta từng đi học kĩ thuật từ Bulgari về. Một hôm anh đến chơi có mang theo cái máy quay đĩa, sau đó anh Khang đã mượn luôn để ở phòng. Có cái máy này nghe hát cũng vui, nhưng có lẽ khá ồn ào. Hộp đĩa than có cả 2 đĩa nhạc Tây, nghe không hiểu gì. Tôi còn nhớ một đĩa có bài hát Tiếng hát giữa rừng Pacbó của Nguyễn Tài Tuệ, Rặng trâm bầu của Thái Cơ do ca sĩ Kiều Hưng hát. Nhờ có cái máy này mà mấy em nữ công nhân cũng khoái nghe nên có khi qua phòng chúng tôi nói chuyện và nghe đĩa hát. Nhờ thế là quen được các cô công nhân trẻ từ xuôi mới đến Nông trường.

Có lần các em rủ chúng tôi lên núi lấy phong lan. Hôm đó nắng ấm, hai em nữ công nhân trẻ rủ chúng tôi leo núi lấy phong lan rừng. Núi ngay phía sau Xưởng sữa, không xa lắm nhưng khá cao. Chúng tôi đi thong thả qua mấy đám nương của công nhân cũng không thấy mệt gì. Nhưng vào sát núi thì anh Lộc leo một lúc thì dừng vì mệt và về trước. Hai em nữ trẻ động viên tôi, chị Liên, anh Khang, anh Đài leo cùng. Có một cô em tên Hồng quê Hưng Yên, người thấp, mập trông rất khỏe mạnh, mặt hồng hào, căng tròn hết cỡ chừng khoảng 19-20 tuổi. Em nói mới được tuyển lên làm công nhân năm ngoái. Nhìn mớ tóc cô hơi xoăn dính bết trên mặt hồng hào lấm tấm mồ hôi (mà trời hơi lạnh nhé) cứ hăm hở rủ tôi đến chỗ có nhiều phong lan. Mọi người leo một lúc mệt đứng lại cả, chỉ còn tôi và 2 em tiếp tục leo. Lên cao một chút thì thấy quả có nhiều hoa phong lan thật nhưng rất khó lấy vì chúng bám trên cây quá cao. Em Hồng bảo tôi là em có thể leo lên được nhưng phải có người đỡ chân hoặc em sẽ đỡ để anh leo lên hái. Tôi thì ngượng không dám làm vì tôi đỡ cô hoặc cô đỡ tôi thì đều ngại cả. Sau đó một em đi đâu mất, thế là chỉ còn mình tôi với cô Hồng. Chúng tôi đứng bên nhau nói chuyện và giúp nhau bám víu cũng chỉ gỡ được vài nhành lan nhỏ bám ở những cành cây thấp. Tôi có cảm giác như em rất mạnh dạn đứng gần, có cả những cái chạm vô ý nhưng không dám làm gì cả. Một hồi sau thì 2 đứa xuống núi, chỉ thu hoạch được mấy nhành lan bé tẹo. Sau đó có lần muốn rủ các cô ấy đi leo núi nữa và bàn cách lấy được những nhành lan ở cao nhưng các cô ấy có vẻ không ham lắm. Chắc các cô nghĩ đi với các anh chẳng được tích sự gì! Mà nhóm tôi thì chỉ có mình tôi chưa vợ.

Một hôm khác tôi ở nhà một mình, các cô ấy trên Xưởng về nhưng chắc không biết tôi ở trong phòng nên cứ nói chuyện tự nhiên ở phòng bên. Tôi nghe Hồng nói: “Từ hôm có các anh sinh viên, bọn mình đ… dám nói tục gì, khó chịu quá!” Tôi nghe vậy biết cuộc sống các cô lao động chân tay mạnh mẽ lắm, nhìn các cô khỏe mạnh rắn rỏi chứ không ẻo lả đói ăn như sinh viên nên chúng tôi thì không dám quen thân hơn. Đại loại thế, nếu có quen hơn thì cũng chẳng đi đến đâu.

Chuyện sinh viên lao động thêm

Ở Xưởng sữa vì không có việc nhiều lắm nên anh Khang đặt vấn đề với anh Thích là anh em sinh viên có thể bốc sữa lên xe để có kinh phí có thể mua một số sản phẩm phế phẩm của Xưởng. Các sản phẩm phế phẩm là sữa hộp bị phồng (do tiêu chuẩn vệ sinh gì đó) hay một số bánh sữa đáy nồi (hơi bị khét cháy)… Mỗi khi ra vác sữa lên xe, tôi cứ nghĩ là mình đã lấy mất công việc của mấy anh em công nhân và sinh viên đi bốc vác cũng có cảm giác ngượng ngượng. Tôi vẫn còn nhớ cái cảm giác sọt nứa đựng sữa nặng cỡ 20 kg. Tuy không quá nặng nhưng cũng hơi ghê tay vì các nan nứa cũng khá sắc, dễ đứt tay (mà không ai có bao tay cả).

Chuyện đi dự một đám cưới công nhân

Hồi ở Xưởng chế biến sữa, chúng tôi được mời đi dự một đám cưới công nhân. Cưới giản dị, không có áo dài hay comple sành điệu gì. Bạn nữ mặc sơ mi trứng có cái áo len khoác. Bạn trai kiểu áo len Lào… Đám cưới có vài phát biểu ngắn rồi hát và hát, đủ kiểu hát. Trên bàn khách có hạt bí rang và mấy điếu thuốc lá để trong cái đĩa, một đĩa kẹo nhỏ - nghe nói thuốc lá và kẹo là tiêu chuẩn được mua khi cưới. Nước chè thì có người đi rót mời từng bàn.

Một đám cưới công nhân nhưng có quá nhiều tặng phẩm hiện vật (hồi đó chưa có kiểu đi mừng cưới bằng phong bì). Sang nhất là cái phích Rạng Đông màu đỏ và rất nhiều tặng phẩm là… những đôi thùng gánh nước. Sao lại cần nhiều thùng gánh nước như thế nhỉ? Khi về chị Liên nói với tôi: đó là những thứ mà công nhân có thể mua được ở cửa hàng của nông trường. Mua được thì có cái đi tặng, còn dùng thế nào thì tùy người nhận. Mà có ai biết đâu người khác cũng tặng giống như mình. Không dùng hết thì bán lại cho người khác cũng coi như có khoản tiền nhỏ để tiêu, mà ngay cả đôi thùng gánh nước cũng đâu dễ có mà mua!

 

6. Một tư liệu quý của Tổ 1

Tổ 1 chúng tôi có kỉ niệm rất quý. Khi đó anh Trần Duy Học và anh Phùng Đức Thoại có mượn được cái máy ảnh đem theo. Một buổi sắp về trường, cả nhóm ra đồi phía sau nhà máy chè đen dàn cảnh chụp. Tôi không nhớ ai là người bấm máy nhưng cả 14 người trong Tổ 1 đều có mặt (chỉ thiếu anh Hợp, anh Lê Xuân Trí). Nay nhìn tấm hình tuy đã mờ nhưng mọi người vẫn còn nhận ra nhau thời ấy. Ai cũng thấy mình dường như không thay đổi nhiều lắm so với cái hồi còn sinh viên ấy. Hồi đó mỗi người đều có ảnh cỡ 6x9, nhưng giữ được cho đến nay thì chỉ anh Lê Ngọc Lan. Các hình này do chính anh Lan cung cấp. Tôi tạm dùng A.I. để sơ bộ chỉnh sửa, chắc có ngày công nghệ A.I. sẽ làm 2 tấm hình này nét hơn. Hôm nay đưa hình lên, rất tiếc anh Trần Duy Học đã ra đi - chúng ta cùng mong anh được thanh thản trong "hành trình hạnh phúc" của anh!

Hình bên phải là bản cũ - bên trái là đã chỉnh sửa cơ bản nhờ công nghệ A.I.

Hình bên phải là bản cũ - bên trái là đã chỉnh sửa cơ bản nhờ công nghệ A.I.





[1] Khi đó chưa có đập Thủy điện Hòa Bình, đường 6 cũ khi có đập đã bị nước dâng nhiều đoạn.

[2] Vào tháng 12/2023, một số anh em trong lớp KT20A đã đến Ba Chúc và thăm quần thể chứng tích tội ác. Từ 18/4/1978 đến 30/4/1978, quân Khmer Đỏ tràn vào Ba Chúc. Trong 12 ngày chiếm đóng chúng đã giết chết 3.157 dân thường vô tội. Tại quần thể chứng tích tội ác có nhà mồ hiện tại chứa đựng sọ của 1.160 nạn nhân. 

[3] Truyện Tây Bắc có 3 truyện ngắn của nhà văn Tô Hoài xuất bản  năm 1953, gồm Mường Giơn; Cứu nước cứu mường; Vợ chồng A Phủ

[4] KT20 có anh Cương (anh Cương học KT19 “đúp” xuống học ở KT20B) lấy một cô công nhân ở đây. Sau này tôi có dịp gặp vợ chồng anh ở Mộc Châu. KT26 cũng có mấy anh lằng nhằng chuyện trai gái, sau đó có một đôi cưới nhau.

[5] Năm 1958, sau khi hoàn thành nghĩa vụ quốc tế trên chiến trường Lào, 1.700 cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 280, Sư đoàn 335, đã tập kết tại cao nguyên Mộc Châu. Ngày 8-4-1958, Trung đoàn 280 chuyển sang xây dựng Nông trường Quân đội với nhiệm vụ: “Xây dựng cao nguyên Mộc Châu thành vùng giàu về kinh tế, mạnh về chính trị, vững về quốc phòng”.

[6] ATP – Mô hình nông – công nghiệp quốc doanh ở Bulgaria hồi XHCN bao cấp.

[7] Khóa KT29 có sinh viên Hoàng Phương sáng tác bài hát về NTQD Mộc Châu đã ví các hàng chè như những phím đàn dương cầm.

[8] Casein chiếm khoảng 80% protein trong sữa, rất lý tưởng để tạo ra những sản phẩm mới thân thiện với môi trường, được sử dụng trong nhiều lĩnh vực: thức ăn; y học; mỹ phẩm; keo dán. 

[10] Xem thêm https://dulichmocchau.net/nongtruong/chuyen-tu-mien-ky-uc/co-mot-mien-que-tuoi-tho-tren-cao-nguyen-moc-chau-9.html. Sau này bài này thành nhạc hiệu của Đài phát thanh NTQD Mộc Châu.

[11] Về sau tôi được biết là thanh niên ở đây khi đó rất thích văn nghệ, nhưng nếu mô phỏng kiểu múa dân tộc thiểu số thì họ không có hứng thú, nhất là các thanh niên trong các bản gần nông trường bộ.

[12] Bốn bên là công an, quân sự, thuế, thị trường.

[13] Ngày nay dốc này được người ta bạt đi, không còn cảm giác qua dốc nữa.