Thứ Sáu, tháng 7 05, 2024

Ăn nem thổi kèn lá chuối

Món nem Thanh Hóa là đặc sản quê hương, quà quê cho rất nhiều người khoái khẩu món nem này. Món này dễ ăn, có chất gây nghiện vì ngon, nhưng một thời bị gán cho nhiều chuyện xấu như thói gian của người Thanh Hóa (bọc rất nhiều lá chuối cho cái nem bé tẹo bên trong) hay chuyện gói nem bằng thịt lợnn chết, bằng thịt chuột... Tất cả điều đó cho đến nay không còn ai nhắc nữa bởi nó thành đặc sản nổi tiếng và những người kém hiểu biết mới nói thế. Nem ngon thì phải làm bằng thịt nạc lợn tươi, sạch thì mới tạo được men chua và lá chuối càng quấn nhiều lớp và dày thì nem mới được bảo quản lên men đúng cách, lại giữ được lạnh để được lâu và gửi đi được xa...

Đó là chuyện của nem, sẽ có dịp nói sau. Ở đây chỉ là chuyện bàn ăn...

Bữa ăn có nem thường được nếm trước khi ăn và sau bữa ăn. Nhìn đống lá chuối tươi bọc nem sách đầy bàn, ông Tỏn nghĩ ngay đến tuổi trẻ trâu lấy lá chuối làm kèn thổi khi xưa. Ông làm thử, 2 đứa hau háu xem và bắt chước, thế là kèn ông bố thổi thì kêu, còn kèn của bé làm không kêu. Bà mẹ thấy thế cũng làm, cả cụ Tôn cũng làm. Thì ra họ đều nhớ những thời trẻ trâu...

Kèn của ông Bố kêu tú... ụ... Kèn của bà Tủng kêu Tí tí tí tí... Kèn cụ Tôn kêu Tét tét... Ông Tỏn nói kèn bố kêu kiểu tiếng thổi cái tù-và thổi bắt trâu ăn lúa dọa trẻ con của ông quản đồng ruộng hồi xưa. Bà Tủng nói kèn của bọn trẻ bắt chước kèn tổ sâu, còn cụ Tôn thì bảo giống kèn của mấy ông bán kẹo đổi lúa thổi ở ngoài đồng...

Hai đứa bé thì không kêu vì chưa biết thổi vì không biết ngậm và lấy hơi.

Khi bà mẹ và ông bố làm sẵn thì bắt đầu biết thổi, kèn của Tun kêu tu tét, tu tét, kèn của Téng kêu te te tụt...

Bữa ăn nem là những bữa cười vang nhà, con mèo thấy lạ bỏ chạy ra xa, con chó nhơ ngác tưởng hôm đó có đội văn công thổi kèn. Tun bảo kèn con thổi giống tiếng... Téng bảo kèn con giống...

Thế là từ đó các kiểu kèn có thêm nhiều kỹ năng mới ngày càng cao và ăn nem thổi kèn vừa ngon vừa vui vì đầy tiếng cười trên mâm...



 

Chuyện quê hồi ấy: En-giê-hát...

Khi tôi còn bé tí, chưa đi học, đã nghe cha tôi kể chuyện về phong trào bình dân học vụ những năm mới hoà bình (1954-1955). Thanh Hoá khi là vùng tự do những năm 1950-1954 (là căn cứ địa của cuộc kháng chiến chống Pháp 46-54). Sau khi hoà bình, nghe theo lời Bác Hồ về chống giặc dốt, phong trào bình dân học vụ rất phát triển và chỉ trong một thời gian ngắn, số người biết chữ (người lớn) tăng vọt. Đây là phong trào rất thiết thực để nâng cao dân trí và truyền bá chữ quốc ngữ thay cho chữ Nôm còn thịnh hành ở địa phương lúc bấy giờ. Tuy nhiên, do không khai thác ưu thế đó nên nhiều người tái mù trở lại sau rất nhiều năm không dùng chữ sau này.

Cha tôi kể rằng khi đó mọi người đều phải học thì mới được tham gia các hoạt động ở địa phương. Mọi người lấy nong, nia, dần, sàng, bất kỳ công cụ sản xuất gì cũng đều viết chữ lên đó để vừa làm vừa học. Chữ được viết lên tường, lên cổng, lên cả lưng trâu... để vừa đi cày vừa học.

Người ta nghĩ ra nhiều cách học sáng tạo: chẳng hạn ở cổng chợ có bàn kiểm tra, ai đọc được thì vào chợ, ai không đọc được thì phải ở ngoài. Và vì thế cũng phát sinh nhiều chuyện cười...

- Có người nói là ở nhà tôi đọc được hết, nhưng do chữ làng tôi khác nên ở đây không phải chữ làng tôi, tôi không đọc được...

- Ở nhà tôi học thuộc rồi, nhưng đi đường mải lo nghĩ chuyện cày cấy nên quên hết, cho tôi nợ để khi mua, bán xong tôi nhớ lại và đọc giả các ông...

- Ở nhà tôi học xong lại gửi hết cho chồng giữ nên phải đợi chồng tôi trả lại tôi mới đọc được. Sáng nay chồng tôi được gọi đi dân công...

- Tôi viết ở quạt mo, hôm nay đi chợ quên quạt ở nhà nên không đọc được...

... Các cách sáng tạo đó đã làm cho mọi người học quốc ngữ rất nhanh chóng, góp phần tạo tinh thần lạc quan và góp sức thực hiện tốt các chính sách nhà nước.

Có một chuyện tôi không bao giờ quên là cha tôi kể về ông Du, một ông vui tính trong làng. Ông Du học vần nhưng chỉ biết ghép vần en-giê-hát (ngh). Mỗi khi bắt đầu đánh vần chữ gì, ông đều en-giê-hát: ngủ là en-giê-hát u-ngu-hỏi-ngủ; học là en-giê-hát-o-ho-xê-hoc-nặng-học, Du (tên ông) là en-giê-hát-u-du; rượu là en-giê-hát-ư-rư-ơ-rơ-u-rươu-nặng-rượu... 

Tất cả đề bắt đầu bằng en-giê-hát... nên ông còn được dân làng gọi vui là ông En-Giê-Hát.

 

Một thời ‘sính Tây’

Từ hồi sinh viên những năm 1975-1980, thỉnh thoảng chúng tôi thấy những người nước ngoài (nôm na gọi là Tây) đến làm việc tại trường. Họ là người quan trọng (VIP) vì họ đến từ nơi xa (được coi là văn minh, giàu có) nên nhìn từ ăn mặc đến những thứ họ cầm trong tay đều rất được ngưỡng mộ. Sau này có nhiều dịp gặp gỡ, trao đổi với người nước ngoài, tôi có lúc cũng không còn giữ được lòng kính phục như trước vì cũng thấy nhiều khiếm khuyết hạn chế của họ. Mặc dù gặp được nhiều chuyên gia nhưng chúng tôi vẫn thấy muốn tiếp thu nhiều hơn cái tinh hoa học thuật kèm theo sự hoàn thiện của những kĩ năng mà chúng tôi luôn thấy thiếu.

Có một chuyện tôi rất nhớ và cứ suy nghĩ mãi. Hôm đó, khoảng những năm 1996-1997, chúng tôi được cử đi dự một hội nghị kiểu tập huấn ở Bộ Nông nghiệp. Tại hội nghị có 2 người nước ngoài trình bày bằng tiếng Anh và có phiên dịch ra tiếng Việt. Ngoài hành lang hội nghị, ban tổ chức có để mấy cái bàn xếp ngăn nắp những cuốn sách liên quan đến nội dung hội nghị. Tôi nhìn thấy toàn sách quý, khi đó không có bán ở Việt Nam, trong đó có một cuốn nhỏ, đẹp có tên là Policy Analysis Matrix (PAM). Nghe tên đã thấy sướng vì người Tây giỏi ‘ma trận hóa’ nhiều thứ trong cuộc sống, đến cả chính sách mà cũng ‘ma trận’ được.

Khi vào hội nghị, các chủ đề về PAM được một vị khách Tây trình bày hấp dẫn, có nhiều minh họa. Một vài bài khác cũng được trình bày theo kiểu đồ thị định tính rất hấp dẫn. Chúng tôi những năm tiếp cận sách kinh tế tiếng Nga chỉ thấy chữ là chữ, mấy khi thấy có được cái sơ đồ, đồ thị minh họa định tính (figure). Gần trưa đến nghỉ giải lao (tea break) kiểu Tây: có bánh trái, hoa quả, cà phê… mọi người được dịp trao đổi vài câu chuyện về gặp gỡ và rất ít bàn đến chuyên môn (tôi nghĩ đa số chúng tôi khi đó đều còn rất ngu ngơ các chuyện này).

Hết giờ giải lao vào phòng, một vị khách Tây lên nói giọng rất khó chịu phàn nàn gay gắt rằng có nhiều sách trưng bày đã bị mất, ai lấy thì trả lại vì việc này còn phải dùng để tiếp tục đi trình bày một vài nơi khác. Hồi đó ‘chuyện ấy’ cũng thường xảy ra nhưng người Tây thì thấy lạ vì kiểu ‘ăn cắp’ đó không hề có ở bên họ. Nhìn thái độ của vị đó, chúng tôi cảm thấy ngượng và buồn vì mấy chục người ngồi đây ai lấy, ai mượn làm sao biết, vả lại bây giờ nếu có cầm làm sao dám trả lại?

Thiết nghĩ chắc chắn những cuốn sách gọi là quý đó có thể đang có trong túi ai đó rất cần nó (hồi đó ở Việt Nam còn hiếm máy photocopy). Một số cuốn sách quý đó được đến tay người cần biết đâu lại là cơ hội tốt để phát triển nhận thức và ứng dụng. Giá mà ông ấy nghĩ đến chuyện hy vọng cuốn sách đó được ai đó vô tình cầm đi sẽ có nhiều tác dụng trong cuộc sống và chuyện đó được nói ra thay cho bực tức có thể sẽ làm cho buổi hội nghị đó đạt được tinh thần cao hơn và biết đâu còn thôi thúc người lấy sách đó nhận được ý nghĩa về trách nhiệm nhiều hơn chăng?

Sau này tôi đọc được một ý qua cuốn Cái cười của Thánh nhân[1]: liêm khiết không phải là không trộm cắp mà là biết mức nào mình có thể trộm cắp và biết làm cách nào dùng đúng những gì mình đã trộm cắp. Nay nhớ chuyện này tôi biên lại để cùng suy nghĩ đến cách xử lý và hoàn cảnh… như là sự ‘cải biên’ cho những thứ chưa chắc đã xấu xa như quan niệm đạo đức xã hội thường nghĩ.

(2023, viết lại ngày 15-6-2024)

 

 



[1] tác giả Thu Giang Nguyễn Duy Cần

Làng Phúc Ấm - Một số giai thoại liên quan (Bài 3)

1. "Roọc Đồng Pho, Chùa Phúc Ấm"

Đồng Pho là lỵ sở mấy trăm năm của Cửu Chân, Ái Châu, là kinh đô một thời của "Hoàng đế" Lê Ngọc hẳn phải nổi tiếng là nơi có nhiều công trình kiến trúc quan trọng như thành lũy, trại lính, trại ngựa, chợ, chùa chiền, danh thắng... Về mặt địa hình, đây chắc chắn phải là nơi cao ráo có địa thế rộng rãi và nhất định phải có ưu thế về công - thủ, lưu thông và tập hợp quần cư đông đúc.

Tuy nhiên, do vị trí sát sông Gốm nên cũng như các làng xung quanh (Phúc Ấm, Đồng Xá, Trúc Chuẩn, Hữu Bộc...), Đồng Pho có nhiều vùng đất trũng gọi là roọc (rộc hay dộc) và vì Đồng Pho nhiều roọc nên mới được coi là một đặc trưng của địa phương.

Ở Đồng Pho có chùa Phúc Hưng, tuy nhiên, chùa Phúc Hưng mới có từ Thế kỷ XVII, như vậy sau khi lỵ sở từ Đông Phố từ Thế kỷ XI chuyển về Duy Trinh (Hậu Lộc ngày nay), những chùa chiền cổ ở đây hoặc cũng được chuyển theo hoặc chuyển thành phế tích khi Lê Ngọc bị sát hại (Thế kỷ VII).

Chúng tôi nghĩ rằng làng Phúc Ấm có 2 chùa, nhưng một làng mà có tới 2 chùa thờ Phật cách nhau không đầy 500 m thì chắc phải là đặc trưng quan trọng của làng. Việc lấy 2 đặc trưng của 2 làng làm đơn vị so sánh (cách làm nổi bật trong giai thoại) cho thấy ngụ ý lấy số nhiều hơn, rất nhiều... của nơi này so với nơi khác. Trong dân gian đây là nghệ thuật ẩn dụ truyền miệng kiểu vè sống mãi trong dân nhằm nhấn mạnh tính địa phương đặc trưng.

Một địa danh lỵ sở thuộc chính quyền trực thuộc nhà nước, là Kinh đô nổi dậy của vị Thái thú dũng cảm sao lại không lấy di sản lớn để so sánh mà lại lấy rộc? Rất có thể giai thoại trên xuất hiện sau này khi Đồng Pho đã không còn những chùa thời còn là Kinh đô. Từ khi Lê Ngọc chết (năm 618) cho đến 1029 mới đổi lỵ sở, lẽ nào Đồng Pho lại ít chùa hơn Phúc Ấm? Trước khi Đồng Pho có chùa Phúc Hưng (Thế kỷ XVII) thì Phúc Ấm khi đó đã có 2 chùa? Vậy làng Phúc Ấm có tự bao giờ và chùa ở Phúc Ấm được xây từ năm nào?

2. "Đồng Pho Phúc Ấm Đại Từ, Gặp 3 làng ấy thì từ mặt ra"

Câu này nổi tiếng trong dân gian vùng Nông Cống, Đông Sơn xưa. Cách hiểu câu này cũng có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau. Theo quan điểm cá nhân, có thể trao đổi trên 2 mặt sau đây:

Quan điểm "kiềng" mặt

Chữ "từ mặt" mang nghĩa khó chơi, khó hợp tác,... là cách hiểu phổ biến, cho là 3 làng không chơi được, do tính ngỗ nghịch, thái độ tránh xa cho yên ổn, để không bị bắt nạt, ức hiếp...

Vị trí 3 làng này như 3 đỉnh của một tam giác cân. Đáy tam giác là Đồng Pho ở phía Bắc và Phúc Ấm ở phía Nam. Đỉnh tam giác là Đại Từ cách Đồng Pho và Phúc Ấm chừng 4km. Trong tam giác ấy còn nhiều làng lớn khác như Ngọc Lậu, Cẩm Nga, Mục Nhuận... Rõ ràng đây không hẳn là 3 làng lớn nhất vùng.

Đồng Pho là làng cổ có giá trị "Kinh đô" thì đương nhiên về hình ảnh có những tác động lớn đến xung quanh, còn Đại Từ là một làng thuộc Doãn Xá. Thời Doãn Xá (thế kỷ XIV), làng Đại Từ thuộc đất lập ấp của họ Doãn. Rất có thể là một số cư dân ở đây cũng chính là người được cấp khi đó (chế độ nô lệ thời Trần) cho Doãn Bang Hiến. Cũng có thể họ là quân lính của vị quan Thượng thư. Nếu vậy họ tất từ xa đến, lại có nguồn gốc quân sự thì việc lập làng Đại Từ phải có tính "giang hồ" kiêu binh... lập địa danh mới sinh sống. Với tính cách ấy, nên "từ mặt" họ có lý do chính đáng.

Vậy Làng Phúc Ấm dựa vào đâu trong quan hệ với 3 làng ở quan điểm này khi vị thế Đồng Pho và Đại Từ rất đáng nể?

Quan điểm kính nể

Đây là quan điểm được cho là ít phổ biến, nhưng tôi thiên về quan điểm này bởi chữ "từ mặt" được hiểu là họ tự thấy mình kém hơn, sự "từ mặt ra" do không đủ sức "chơi" với họ.

Lại phân tích tiếp tính cách người Đồng Pho, rõ ràng điều kiện phát triển ở lỵ sở nhất định tạo ra những người giỏi, người giàu, có thế lực. Đại Từ nếu xét theo nghĩa làng ở đây có 2 giả thuyết: i/ Giả thuyết 1: Họ là dân nhập cư đến thời Doãn Bang Hiến (như đã nói ở trên); ii/ Giả thuyết 2: Họ là dân làng cũ, nhưng bị bán nô lệ cho Doãn Xá trong cơ chế cống đất. Ở giả thuyết 1, nếu họ từ nơi khác đến nhất định sẽ phải đoàn kết nhất trí để làm ăn, sinh sống, vì thế cố kết thống nhất thành một khối và vị thế đồng sức, đồng lòng khi giải quyết các va chạm xã hội. Đó là lợi thế mà các làng khác không có nên họ được kính nể! Còn ở giả thuyết 2 khi họ là làng gốc nhưng bị ép giao ruộng đất cho Doãn Xá chắc chắn là bị va chạm về quyền lợi đất đai, cư trú... với nhà quan lớn. Các xung đột bảo vệ quyền lợi này tạo ra sức mạnh của làng và gây ra sự kính nể cho làng khác.

Vậy làng Phúc Ấm khi đó thì sao? Theo tôi, làng Phúc Ấm cũng có những thế mạnh ngang hàng với 2 làng trên theo nghĩa này. Phúc Ấm cũng được coi là đất học, nhiều người có lý lẽ, có sức thuyết phục. Tất nhiên khi có học, họ sẽ bang giao rộng. Mặt khác đây cũng là nơi có nhiều ruộng đất, nhiều nhà giàu nên có điều kiện kinh tế trong việc tạo ra sức mạnh ở cửa trên để các làng khác phải kính nể. Đó là chưa kể trong quan hệ quyền lực, khi làng có nhiều nhà giàu, có học, có lý lẽ thì thường sẽ có những người tham gia chính quyền. Chính vì thế nên có điều kiện phát huy các giá trị kính nể như tài giỏi, năng động, mạnh mẽ, đoàn kết thành một khối khi quan hệ với các làng khác.

Rõ ràng câu này mang nghĩa kính nể thì hợp lý hơn nghĩa nghịch ngỗ, thiếu văn hóa. Sau này, có người cho rằng thời "giặc" Văn Thân[1], 3 làng này đoàn kết nên "giặc" không làm gì được... Đây cũng là cách giải thích cho giai thoại trên, nhưng điểm quan trọng vẫn là cơ sở nào để Phúc Ấm tạo ra được điều kiện chống "giặc", bảo vệ làng mà các làng khác không chống lại được?

3. "Một sào Phúc Ấm bằng 3 sào Trúc Chuẩn"

Câu này tôi đọc được trong sổ tay viết văn của Tô Hoài khi ông tham gia Cải cách ruộng đất ở Trúc Chuẩn. Ghi chép của ông để nói về kinh nghiệm viết văn. Theo tôi ở đây chỉ thuần túy về kinh tế: Làng Trúc Chuẩn sát sông Gốm (như Đồng Xá, Đồng Pho...) nên mùa màng thất bát rủi ro nhiều hơn so với Phúc Ấm (do ở xa sông hơn và có đường Cửa Rộc chắn ngang hạn chế lụt lội). Làng không chỉ có nhiều ruộng đất mà còn có đất tốt, điều kiện canh tác thuận lợi hơn nên giàu có hơn. Từ sau 1928, nông giang tưới nhờ đập Bái Thượng của người Pháp càng làm cho Phúc Ấm có điều kiện canh tác tốt hơn khi tưới tiêu dễ dàng hơn các cánh đồng làng khác, nhất là Trúc Chuẩn.

 



[1] Xem Phong trào Văn Thân (1864) chủ yếu ở Nghệ An, Hà Tĩnh. Ở Thanh Hóa thì phong trào có thể bị lợi dụng để gây bạo động mất trật tự ở một số địa phương (nên gọi là "giặc Văn Thân") khi vào những năm thoái trào.

Làng Phúc Ấm - Một vài ý ngoại suy (Bài 4)

1. Phúc Ấm nhất định là ngôi làng cổ, có niên đại không kém các làng cổ khác trong vùng. Một ngôi làng cổ có nhiều dấu tích di sản, từng có chứng tích Mả Tàu và cách quận lỵ (đơn vị trực thuộc nhà nước) 2 km là chứng cứ về sự cư trú lâu đời. Tiếc thay điều đó nay không còn nữa! Những tàn tích của di sản còn in mãi trong thế hệ những con người đã từng chứng kiến. Rồi đây, những biến động của đô thị hóa, làng Phúc Ấm có thể còn bị thay đổi nữa, nhưng hào khí nghìn năm sẽ còn mãi trong tâm hồn của những con người làng Phúc Ấm.

2. Phúc Ấm chắc chắn là làng có nhiều đóng góp cho đất nước. Những giá trị đóng góp được thể hiện thời xưa còn được nêu trong di sản của địa phương, những giá trị thời đại là lớp lớp con em lên đường chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, hàng trăm liệt sĩ, thương binh đã đổ máu chiến trường, là con em tham gia hoạt động chính trị, quân sự, khoa học và các hoạt động kinh tế xã hội khác trên mọi miền đất nước. Những kết quả mà họ tạo ra chắc chắn mang trong lòng niềm tự hào từ nơi sinh ra, lớn lên, hội tụ trong họ là tình yêu đất nước từ tình làng nghĩa xóm quê hương Phúc Ấm.

3. Phúc Ấm là làng quê truyền thống văn hóa, yêu văn hóa. Những giá trị di sản là tín ngưỡng tâm linh, là kết tinh của lòng yêu mến quê hương, là biểu thị ứng xử văn hóa. Những năm chiến tranh chống Mỹ ác liệt, dân làng náo nức thưởng thức các buổi chiếu phim lưu động, những đêm xếp gạch sân làng chờ xem hát bội tự biên... Đói no từng trải rau má, cháo khoai nhưng sẻ chia những "nhén lúa lỏn", những củ khoai "móc lọng" xơ sượng là hương vị không thể quên trong những bữa ăn giáp hạt để hình thành kí ức về vị, về hương tạo nên giá trị văn hóa ẩm thực tinh tế mà đậm đà của những món nổ rang làm lớ, bánh đúc lá chuối, chè lam "trấy cố"[1]...

4. Phúc Ấm là quê hương đồng chiêm trũng thuần nông[2], những người con của làng không ai quên những trải nghiệm bắt ốc, kéo te, đánh dậm... đầu đời. Cánh đồng ngập nước quanh năm đã tạo ra hàng trăm kiểu kiếm cá sinh nhai... đầy sáng tạo[3] như đẩn cườn, câu cặm, câu nhắc, đẩn riu, tát đằm, khoát nơm... sau này là ống lươn, đèn man, đặt lờ (lầu) cá rô, đơm tép... Đơn giản cuộc đời, sống hiền hòa củ khoai, ngọn lúa, con tép, con tôm,... mỗi con người làng Phúc Ấm mang nặng tình quê, chăm chỉ kiếm ăn, tích lũy kiến thức, lặng lẽ tình người... tạo nên những tâm hồn yêu thiên nhiên, sống không thể thiếu thiên nhiên bên mình...

 



[1] Những món ăn dân dã địa phương không thấy có ở những miền quê khác. Ghi chú: nhén (bông), lỏn: cắt những bông chắc hạt trước trong ruộng; móc lọng: đào luống khoai lấy tỉa củ non; lớ: món lúa lửng rang lên, giã lấy bột (cả trấu), xúc ăn bằng lá (lá cây gai nhọn, lá bưởi); trấy (trái), chè lam trấy cố: chè lam nặn tròn như quả cố (quả gáo ngoài Bắc).

[2] Ở Đông Yên có đền thờ Bà Bích – Bà chúa tép riu. Truy cập ngày 2-8-2021 tại https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_Y%C3%AAn,_%C4%90%C3%B4ng_S%C6%A1n

[3] Lại những kiểu bắt cá ít thấy ở nơi khác: đẩn (đẩy), cườn: ván mỏng, có cái thang nhỏ để trước bụng, khi đẩy nước thì phải chạy thật nhanh để thấy cá loáng qua mà úp bằng nơm; đằm: một ao nhỏ giữa ruộng để khi gặt hay khi ít nước thì cá tập trung vào; khoát nơm: lấy chân té nước rộng ra phía, cá sợ chúi xuống bùn sẽ có dấu bùn thì lấy nơm úp; lầu (lờ); đơm tép: đắp bờ quanh chỗ nước sâu trên ruộng lúa, khi nắng lên thì lờ quay ra ruộng để nước ruộng nóng thì tép rút xuống chỗ sâu tránh nóng, chiều tối đặt ngược lại khi tép quay ra ruộng kiếm ăn lúc nước mát hơn...

Làng Phúc Ấm trong quan hệ lâu dài với cộng đồng địa phương (Bài 2)

1. Làng Phúc Ấm trong tư liệu địa danh hành chính

Để thấy rõ hơn địa danh làng Phúc Ấm, chúng tôi trước hết điểm qua danh xưng có tính chất hành chính địa phương, từ đó có cơ sở để xác định mối quan hệ với những địa phương khác và tập trung phân tích quan hệ giữa làng với những địa danh quan trọng trong phạm vi bán kính 10km nhằm nêu lên những giả thuyết có cơ sở về địa danh làng Phúc Ấm.

1.1 Danh xưng Thanh Hóa

Thanh Hóa là nơi sinh sống của người Việt cổ từ 6000 năm trước. Cuộc khảo cổ học 1926 của người Pháp tại Đa Bút (xã Vĩnh Tân, Vĩnh Lộc ngày nay) đã khẳng định văn hóa Đa Bút[1] thuộc thời với văn hóa Hòa Bình. Còn cuộc khảo cổ học của người Pháp năm 1924 tại Đông Sơn[2] cho thấy Văn hóa Đông Sơn xuất hiện từ Thế kỷ VII trước CN cho đến Thế kỷ I và II sau CN.

Thời dựng nước: Thanh Hóa thuộc Bộ Cửu Chân[3] của nước Văn Lang (tương đương Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay).

Thời Bắc thuộc[4] (từ 179 trước CN cho đến năm 938): Thời nhà Hán, đây là đất thuộc quận Cửu Chân. Thời Tam Quốc, Đông Ngô trực tiếp cai trị và chia quận Cửu Chân thành 2 là Cửu Chân (gồm Thanh Hóa và một phần Ninh Bình ngày nay) và Cửu Đức (Nghệ An và Hà Tĩnh). Thời Nhà Lương gọi quận Cửu Chân thành quận Ái Châu, nhưng sang thời nhà Tùy thì lại đổi Ái Châu thành Cửu Chân. Nhà Đường (năm 622) đổi Cửu Chân thành Ái Châu Cửu Chân quận, năm 742 lại đổi thành Cửu Chân. Sang đời Nhà Nguyên (năm 758) lại gọi là Ái Châu.

Thời quân chủ[5] (939-1945): Nhà Đinh và Tiền Lê gọi Thanh Hóa là đạo Ái Châu. Đến đời Lý (năm 1029) đổi thành Phủ Thanh Hóa. Đây là danh xưng Thanh Hóa đầu tiên trong lịch sử được ngành văn hóa tỉnh Thanh Hóa xác nhận. Tuy vậy, năm 1397 thời Trần, phủ Thanh Hóa được đổi thành Trấn Thanh Đô, năm 1430 nhà Hồ gọi là Phủ Thiên Xương. Những năm thuộc nhà Minh cai trị thì tên Thiên Xương lại đổi thành Thanh Hóa. Thời Hậu Lê, năm 1428, Lê Lợi chia đất nước thành 5 đạo thì Thanh Hóa thuộc Hải Tây đạo. Năm 1466, Lê Thánh Tông gọi là Thừa Tuyên Thanh Hóa. Đến năm Hồng Đức 21 (1490) đổi thành xứ Thanh Hoa. Thời Gia Long (1802) gọi là Trấn Thanh Hoa, đến Thiệu Trị năm thứ 1 (1841) đổi Thanh Hoa thành Thanh Hóa (do kị húy Hoàng Thái hậu Hồ Thị Hoa) và từ đó Thanh Hóa không thay đổi tên cho đến ngày nay.

Mặc dù nhiều thay đổi nhưng tên Cửu Chân, Ái Châu hay Thanh Hóa luôn là đơn vị hành chính trực thuộc nhà nước (như đơn vị tỉnh ngày nay). Chính vì thế, đây là vùng đất luôn có nhiều ảnh hưởng quan trọng đến vận mệnh đất nước mọi thời đại.

1.2 Danh xưng Đông Sơn

Thời Nhà Hán, Đông Sơn là vùng đất thuộc huyện Tư Phố (phần phía bắc huyện) và huyện Cư Phong (phần phía nam huyện). Thời nhà Đường, năm 622 chia Ái Châu thành 4 huyện, Tư Phố (có thể) khi đó thuộc huyện Cửu Chân. Thời quân chủ, khi nhà Trần gọi Thanh Hóa là Trấn Thanh Đô (1397) thì bắt đầu có tên huyện Đông Sơn. Năm 1419, nhà Minh nhập huyện Đông Sơn vào huyện Cổ Đằng. Thời Hậu Lê, năm 1435, Đông Sơn thuộc phủ Thiệu Thiên. Thời Nguyễn, huyện Đông Sơn thuộc phủ Thiệu Hóa (khi đó đổi Thiệu Thiên thành Thiệu Hóa). Như vậy danh xưng Đông Sơn có thể có từ thời nhà Trần (1397). Tuy nhiên, dưới tên Tư Phố và Cư Phong, đất Đông Sơn đã có từ những năm đầu Bắc thuộc[6].

1.3 Các cấp hành chính trực tiếp của làng Phúc Ấm trong lịch sử

Rất tiếc chúng tôi chưa có điều kiện khảo cứu chi tiết làng Phúc Ấm có từ bao giờ và các đơn vị hành chính quản lý trực tiếp làng trước thời Nguyễn.

Thời Gia Long, huyện Đông Sơn thuộc phủ Thiệu Hóa có 6 tổng với 145 xã, thôn, trang, vạn, gia, giáp, sở, phường (nghĩa là các đơn vị hành chính dưới tổng, tên gọi chưa được thống nhất). Các xã, thôn, làng... đó thuộc Đông Yên, Đông Thịnh, Đông Anh ngày nay khi đó thuộc tổng Lê Nguyễn (thời Gia Long), tổng Thanh Hoa (từ thời Minh Mạng 1824 cho đến 1886) và từ 1887 - 1945 gọi là tổng Tuyên Hóa[7].

Sau Cách mạng Tháng 8 -1945, 7 tổng của Đông Sơn được chia thành 22 xã thì Đông Yên khi đó gọi là xã Vạn Thắng. Năm 1948, xã Vạn Thắng đổi thành Đông Yên cho đến ngày nay. Đông Yên gồm Cẩm Nga, Trường Lai, Mục Nhuận, Doãn Xá, Trung Hàng, Phúc Ấm và làng Bằng[8].

2. Làng Phúc Ấm thuộc vùng văn hóa lâu đời

Năm 1981, các công trình khảo cổ học tại Đông Yên - Đông Hòa[9] đã công bố nhiều di tích quan trọng: tại di chỉ Đông Hòa phát hiện trống đồng Đông Hòa 1 và Đông Hòa 2, tại di tích Cồn Sồng, Bãi Phủ, Cồn Trôi đều có các chứng cứ liên quan đến thời kỳ văn hóa Đông Sơn (Thế kỷ 7 trước CN đến thế kỷ I và II sau CN). Các di chỉ này chỉ cách làng Phúc Ấm khoảng 2km.

3. Làng Phúc Ấm trong quan hệ với những địa danh nổi tiếng trong vùng

Các tên làng nổi tiếng xứ Thanh quanh vùng là Cổ Định, Cổ Bôn, Đồng Pho, Trường Xuân, Doãn Xá, Đồng Xá, Ngọc Lậu, Đại Từ, Mục Nhuận, Phúc Ấm,... Dưới đây là một số điểm có liên quan làng Phúc Ấm.

3.1 Cổ Định - Ngàn Nưa lịch sử

Cổ Định - Ngàn Nưa[10] là nơi cư trú lâu đời của người Việt, cách làng Phúc Ấm khoảng 7km. Làng Cổ Định sát chân núi Nưa (Na Sơn) nay thuộc Thị trấn Nưa là nơi phát tích cuộc khởi nghĩa của Triệu Thị Trinh (năm 248) đánh quân Đông Ngô[11]. Cổ Định là nơi phát tích của nhiều dòng họ nổi tiếng: Doãn, Hứa, Lê Bật, Trịnh, Nguyễn, Hoàng, Phan, Ngô... Đây là địa danh được cho là có từ thời vua Hùng dựng nước với tên Chạ kẻ Nưa (dưới chân Ngàn Nưa). Các thời Hán, Tùy, Đường có tên Cà Ná giáp, thời Lý, Trần đổi thành Cổ Na. Thời Lê Sơ, Lê Thái Tổ đổi thành Cổ Ninh, sau đó Cổ Ninh đổi thành Cổ Định thời Lê Trung Hưng (để tranh tên húy vua Lê Ninh tức Lê Trung Tông).

Cổ Định có nhiều danh nhân văn hóa nổi tiếng. Thời phong kiến có 24 vị tiến sĩ, trong đó có 4 vị lãnh việc đi sứ sang Trung Quốc, đem lại nhiều kết quả tốt đẹp cho Việt Nam. (Doãn Anh Khai đi sứ thời nhà Tống, Doãn Tử Tư đi sứ thời nhà Tống, Doãn Bang Hiến đi sứ thời nhà Nguyên, Lê Bật Tứ đi sứ thời nhà Minh). Ở đây còn có Doãn Nỗ (chắt nội Doãn Bang Hiến) là khai quốc công thần thời Lam Sơn... Cổ Định (nay là Thị trấn Nưa) có rất nhiều di tích cổ xưa thể hiện danh tiếng ngôi làng cổ Việt Nam với nhiều tên đất, tên người huyền thoại trong suốt hơn 1000 năm qua.

3.2 Đồng Pho và Kinh đô Trường Xuân

Đồng Pho xưa có tên là Đông Phố, là lỵ sở hành chính của quận Cửu Chân, nay là xã Đông Hòa, Đông Sơn (cách làng Phúc Ấm chưa đến 2km).

Từ năm 420, Quận Cửu Chân lấy Đông Phố làm lỵ sở hành chính. Di chỉ khảo cổ 1981 (như trên đã nói trên) cho thấy đây là nơi có người cư trú từ thời văn hóa Đông Sơn. Đến Thời Lý, lỵ sở của Cửu Chân, Ái Châu trước từ Đông Phố được chuyển về Duy Trinh[12] (nay thuộc Văn Lộc, Mỹ Lộc, Thiên Lộc của Hậu Lộc). Như vậy Đông Phố là trung tâm hành chính của Cửu Chân, Ái Châu trong suốt hơn 600 năm, từ 420 - 1029.

Kinh đô Trường Xuân (608-618) và "Hoàng đế" Lê Ngọc: Trường Xuân nay thuộc Đông Ninh, Đông Sơn, cách làng Phúc Ấm khoảng 6km. Lê Ngọc[13] (còn gọi là Lê Cốc) là Thái thú quận Nhật Nam (tương ứng Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay), sau đó nhà Tùy đổi thành quận Cửu Chân. Khi nhà Đường thay thế nhà Tùy, Lê Ngọc không thuần phục đã nổi dậy tự quản quận Cửu Chân chống nhà Đường. Năm 608, Lê Ngọc đóng đô ở Đông Phố gọi là Kinh đô Trường Xuân (gồm cả Đông Ninh và Đông Hòa ngày nay). Tại Đông Hòa vẫn còn nhiều di tích dấu vết Kinh thành Trường Xuân thời Lê Ngọc. Đến 618 cuộc nổi dậy bị nhà Đường tiêu diệt, Lê Ngọc và 4 con (3 trai 1 gái) bị tử nạn. Nay ở làng Trường Xuân (Đông Ninh)[14] còn lưu giữ 2 sắc phong triều đình thời Lê Trung Hưng (Cảnh Hưng năm thứ 1, 1740) gọi Lê Ngọc là "Hoàng đế" có công Hộ quốc tý dân (giúp nước che chở cho dân). Gần đây người ta còn tìm thấy bia đá cổ nhất Việt Nam[15]: Bia Trường Xuân có chữ "Đại Tùy Bải An Đạo Trương Chi Vi Văn". Lê Ngọc và 4 con ông được thờ nhiều nơi quanh vùng, nhất là Đông Ninh, Đông Hòa, Đông Phú và Cổ Định (Cổ Định là nơi con trai út của ông bị thương và chết tại đây) và nhiều nơi ở huyện Nông Cống.

3.3 Doãn Xá và Thượng thư Doãn Bang Hiến

Doãn Xá (nơi cư trú của người họ Doãn) gồm Ngọc Lậu, Đà Ninh, Đại Từ (thuộc Đông Thịnh), Nhuệ Sâm (nay thuộc Thị trấn Rừng Thông), làng Doãn (thuộc Đông Yên), thôn Thiều (thuộc Đông Văn) là đất phong ấp cho Doãn Bang Hiến[16] khi ông có công trong đi sứ nhà Nguyên. Doãn Bang Hiến (1272-1322) (dân còn gọi ông là Bang Hài) người làng Cổ Định, đỗ tiến sĩ năm 1304, Thượng thư Bộ Lại năm 1314, Thượng thư Bộ Hình năm 1322 và đi sứ năm 1322. Khi đi sứ nhà Nguyên, ông đòi được đất đai tranh chấp, trên đường về ông mất. Vua Trần Anh Tông ban cho ông 100 mẫu đất (mẫu Trung bộ, khoảng 0,5km2) để lập ấp Doãn Xá. Con trai ông là Doãn Định (1312-1363) là Giám sát ngự sử, chắt nội ông là Doãn Nỗ, khai quốc công thần thời khởi nghĩa Lam Sơn (như đã nói ở trên). Làng Phúc Ấm cách Doãn Xá khoảng 5 – 7km, nhưng Phúc Ấm cùng với làng Doãn là các đơn vị làng thuộc xã Đông Yên trước 1954.

3.4 Những địa danh nổi tiếng khác

Các địa danh nổi tiếng luôn gắn với những con người và dấu ấn mang tính lịch sử của hiền tài phát sinh được vinh danh và thờ phụng.

a/ Làng Cổ Bôn[17] (cách làng Phúc Ấm gần 10km)

Thời phong kiến, làng Cổ Bôn có tới 7 vị đỗ tiến sĩ được tạc bia ở Văn Miếu Quốc Tử Giám, trong đó tiêu biểu nhất là Nho thần Nguyễn Văn Nghi, Đệ nhất Giáp chế khoa, khoa thi năm Giáp Dần (1554), được phong tặng là Tuyên Lực Công Thần, là thầy dạy của 2 vị vua: Lê Anh Tông và Lê Thế Tông. Làng Cổ Bôn còn nhiều dòng họ lớn và sản sinh ra nhiều “nhân kiệt” như họ Thiều, Cao, Lê Khả, Lưu, La... góp phần làm cho vùng này trở thành “đất học” của xứ Thanh.

b/ Các làng Cẩm Nga, Mục Nhuận, Trường Lai, Doãn Xá, Trung Hàng, Trùa Tra và Làng Bằng cùng Phúc Ấm xưa đều thuộc tổng Lê Nguyễn[18] (sau đổi thành tổng Tuyên Hóa) và từ 1953 là các đơn vị thuộc xã Đông Yên. Ở đây có di tích Cồn Trôi (thuộc Văn hóa Đông Sơn Thế kỷ VII trước CN đến Thế kỷ I và II sau CN), có chứng cứ thời Trần (Doãn Xá), có đền thờ Nguyễn Nhữ Soạn, Lê Ngân, Phạm Cuống là các vị khai quốc công thần thời khởi nghĩa Lam Sơn. Rõ ràng chứng cứ người Việt cách đây 2000 năm và các chứng cứ thời Trần, thời Lê Sơ phải chăng là các khẳng định cư trú, lập làng và phát triển của Phúc Ấm cùng các làng trên.

c/ Các làng Ngọc Lậu, Đại Từ... (nay thuộc Đông Thịnh[19]) cách Phúc Ấm 5km là những làng có chứng cứ thời Trần (liên quan đến Doãn Bang Hiến).

d/ Làng Hoàng Lạp (nay thuộc Đông Phú[20]) có Nghè thờ Thần hoàng lập làng là con trai thứ của Lê Ngọc, chứng cứ lập làng từ Thế kỷ VII.

e/ Các làng Minh, Phú, Hiền, Thư, Bình, Chính, Thượng, Tự, Cựu, Đại, Tân, Hòa là 12 làng cổ của quận lỵ Đông Phố (Đồng Pho) nay thuộc Đông Hòa[21], cùng các làng Hữu Bộc, Trường Xuân... (nay thuộc Đông Ninh[22]) từng nổi tiếng từ Thế kỷ V và Thời Lê Ngọc Thế kỷ VII. Đông Hòa còn 3 di chỉ khảo cổ khẳng định Văn hóa Đông Sơn, có đền thờ Lê Ngọc. Đông Ninh còn đền thờ Nguyễn Chích, Lê Lan – Lê Lệnh (khai quốc công thần thời khởi nghĩa Lam Sơn)

g/ Thành Hoàng Nghiêu[23] (nay thuộc xã Đông Nam, Đông Sơn) cách Phúc Ấm 6km là di tích lịch sử từ Thế kỷ XV của Nguyễn Chích.

Như vậy, trong bán kính cách làng 10km có mật độ di tích, huyền tích... dày đặc, liên quan chặt chẽ trong không gian cộng đồng làng quê. Điều đó càng khẳng định các ảnh hưởng của lịch sử đến sự hình thành, tồn tại và phát triển của làng Phúc Ấm.

 



[1] Văn hóa Đa Bút: nền văn hóa Việt Nam ở sơ kỳ thời đại đồ đá mới có niên đại sau các nền văn hóa Hòa Bình và Bắc Sơn, cách đây từ 5000 đến 6000 năm. Không gian của văn hóa Đa Bút là dải đất nằm từ hữu ngạn sông Đáy đến tả ngạn sông Mã thuộc các tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa ngày nay. Xem tại trang website

https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_%C4%90a_B%C3%BAt (truy cập ngày 1-8-2021).

[2] Văn hóa Đông Sơn: nền văn hóa cổ xuất hiện vào khoảng 800 năm trước công nguyên, tồn tại ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam và Bắc Trung bộ Việt Nam. Truy cập ngày 1-8-2021 tại website

https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a_%C4%90%C3%B4ng_S%C6%A1n

[3] Xem tại website https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%ADu_Ch%C3%A2n (truy cập ngày 25-7-2021).

[4] Lịch sử hành chính Thanh Hóa, truy cập ngày 5-5-2021 tại website

https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_h%C3%A0nh_ch%C3%ADnh_Thanh_H%C3%B3a.

[5] Lịch sử hành chính Thanh Hóa, truy cập ngày 5-5-2021 tại website

https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_h%C3%A0nh_ch%C3%ADnh_Thanh_H%C3%B3a

[6] Huyện Đông Sơn, Thanh Hóa, xem https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_S%C6%A1n (truy cập ngày 25-5-2021).

[7] Theo Nguyễn Văn Nhật (chủ biên): Địa chí huyện Đông Sơn. NXB Khoa học – Xã hội 2006 và xem https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_S%C6%A1n (truy cập ngày 25-5-2021).

[8] Xã Đông Yên, Đông Sơn, truy cập ngày 25-5-2021 tại website

https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_Y%C3%AAn,_%C4%90%C3%B4ng_S%C6%A1n

[9] Theo https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_Y%C3%AAn,_%C4%90%C3%B4ng_S%C6%A1n và https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_H%C3%B2a,_%C4%90%C3%B4ng_S%C6%A1n (truy cập ngày 25-5-2021).

[10] Xem https://vi.wikipedia.org/wiki/N%C6%B0a_(th%E1%BB%8B_tr%E1%BA%A5n) ngày 30-5-2021.

[11] Xem https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_H%C3%B2a,_%C4%90%C3%B4ng_S%C6%A1n ngày 30-5-2021.

[12] Xem http://donghoa.dongson.gov.vn/web/trang-chu/tong-quan/lich-su-hinh-thanh (truy cập ngày 30-5-2021).

[13] Cuộc khởi nghĩa Lê Ngọc, truy cập ngày 30-5-2021 tại website

https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BB%9Fi_ngh%C4%A9a_L%C3%AA_Ng%E1%BB%8Dc.

[14] Xem Đông Ninh, Đông Sơn tại website (truy cập ngày 25-4-2021) https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_Ninh,_%C4%90%C3%B4ng_S%C6%A1n

[15] Xem https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/1002/28148/bia-truong-xuan.html (truy cập ngày 20-11-2021).

[16] Doãn Bang Hiến: xem tại https://vi.wikipedia.org/wiki/Do%C3%A3n_Bang_Hi%E1%BA%BFn (truy cập ngày 30-4-2021).

[17] Xem tại website https://baothanhhoa.vn/van-hoa-giai-tri/lang-co-bon-lang-khoa-bang/91551.htm và https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_Thanh,_%C4%90%C3%B4ng_S%C6%A1n (truy cập ngày 25-5-2021).

[18] Truy cập ngày 2-8-2021 tại https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_Y%C3%AAn,_%C4%90%C3%B4ng_S%C6%A1n

[19] Xem tại https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_Th%E1%BB%8Bnh (truy cập ngày 2-8-2021).

[20] Truy cập ngày 2-8-2021 tại https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_Ph%C3%BA,_%C4%90%C3%B4ng_S%C6%A1n 

[21] Truy cập ngày 2-8-2021 tại https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_H%C3%B2a,_%C4%90%C3%B4ng_S%C6%A1n

[22] Xem tại https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_Ninh,_%C4%90%C3%B4ng_S%C6%A1n (truy cập ngày 2-8-2021).

[23] Xem tại https://daibieunhandan.vn/thanh-luy-hoang-nghieu-va-anh-hung-nguyen-chich-338219 (truy cập ngày 2-8-2021).