Thứ Tư, tháng 10 09, 2024

Nhớ lại 3 trò tếu táo trong hành trình

 

Hành trình từ Hới vào chỉ còn mấy chuyện gọi là vui tếu táo của lính. Vả lại, hành trình 4 ngày 3 đêm cũng đủ dài cho mấy trăm lính ngồi bên nhau nên chuyện rồi cũng cạn, những tếu táo bước vào pha ‘phá cách’ trêu nhau.

Chuyện thứ nhất

Cuối buổi sáng ngày thứ 2, mọi người thấy mệt mỏi ngứa ngáy, ai cũng nghĩ vào miền Trung bắt đầu nóng hơn, lại mấy ngày không được tắm. Bỗng một thằng phát hiện ra ‘sự kiện khủng khiếp’: những con rận béo núc trong áo quân phục nhàu nát. Thế là cả bọn cởi áo, vạch quần tìm rận trên tàu. Mấy chục chàng cởi áo tìm rận tạo ra những trận cười ran: tao lại thấy thêm 1 con, tao thấy một hàng trứng rận trắng phau, chỗ này tao tìm được 2 vợ chồng rận ôm nhau… Đôi kẻ còn như anh AQ trong truyện Lỗ Tấn thấy mình bắt được ít rận hơn thằng bạn bỗng nổi ghen. Ha ha ha, đoàn tàu của năm 1981 chở toàn kĩ sư, bác sĩ-sĩ quan được đào tạo bài bản từ miền Bắc XHCN và nước ngoài về đều bị bọn kí sinh trùng nguy hiểm bẩn thỉu tấn công. Bọn chúng ‘được hưởng’ từ dòng máu trí thức vô số những tư tưởng mới, kiến thức mới. Khi chấy rận tấn công trí thức thì trí thức làm mồi cho chấy rận còn trí thức chung sống với chấy rận thì trí thức có bị nhiễm bản năng chấy rận để ‘kí sinh’ vào chế độ, ‘kí sinh’ vào niềm tin XHCN? Ôi, Trí thức – Chấy rận!!!

Đúng là con người cao quý lúc này, bần tiện lúc kia, mà lại bần tiện cả đoàn luôn. Cao quý và bần tiện gần nhau quá, gần như một cái trở tay.

Có thể nói đoàn tàu chở chấy rận di cư từ Bắc vào Nam theo lính hay cả đoàn lính mang theo tàu cả một binh đoàn chấy rận nhập cư trái phép vào Nam? Chúng rất ghê tởm nhưng được ngụy trang trong hình hài của những chàng kĩ sư, bác sĩ-sĩ quan danh giá. May quá, bọn này vô tình bị nóng miền Trung phát hiện và nhanh chóng bị tiêu diệt trong những giờ nhàn hạ trên hành trình dài. Suýt nữa bọn chấy rận này thắng trong cuộc đổ bộ vào Nam đầy mưu lược ‘kiểu chấy rận’.

Chuyện thứ hai

Khi tàu qua các hầm ở đèo Hải Vân, cả bọn ngơ ngác thấy bỗng nhiên tàu tối đen giữa ban ngày. Khi ánh sáng trở lại mọi người phát hiện ra tàu vừa qua hầm xuyên núi. Sau những hầm đầu tiên, khi bộ đội nhìn thấy hầm thì kêu to: tàu sắp vào hầm. Mọi người ngồi chờ toa tàu sáng lại để đoán hầm dài ngắn bao nhiêu.

Thế rồi 1 lần tàu vào hầm, trong bóng tối bỗng có chàng kêu oai oái. Tiếng kêu thất thanh: đừng đánh, đừng đánh, mẹ thằng nào đánh tao… Khi tàu qua hầm, mọi người thấy chàng tên Khanh mặt đỏ gay, đau đớn chảy nước mắt. Mấy đứa ngồi bên mặt tỉnh queo. Thì ra Khanh bị ‘đánh hội đồng’ khi tàu vào hầm, chẳng biết kẻ nào, chẳng biết vì sao từ cái lũ mặt tỉnh queo ấy. Có kẻ cũng hơi quá tay một chút nên Khanh bị đau thật.

Khanh là kĩ sư Trồng trọt học trường Đại học Nông nghiệp I. Hồi cùng học sĩ quan dự bị, chúng tôi đã biết Khanh thường xuyên bị trêu chọc. Khanh quê Thái Bình, người thấp nhỏ, da trắng, mắt hơi lé, nụ cười rất “đĩ’ nhưng lại dễ tin người, không hiểu được các bạn trêu thật hay đùa vì thế bị ‘hành hạ’ đủ kiểu chỉ để cười. Khi ở Sơn Tây có bạn gọi Khanh ra nói rằng Khanh có bạn gái đến chơi đang đợi trên phòng đại đội. Thế là Khanh lao đến hỏi, không thấy bạn mới biết bị lừa. Lại có lần bọn thích trêu nói có người hỏi thăm Khanh đang ở mé đồi gần làng, hình như ở quê lên. Khanh vội tìm đến thì gặp một lũ bộ đội bảo Khanh vào quán ăn kẹo dồi, uống nước chè rồi đợi. Sau đó bắt Khanh trả tiền cho cả lũ rồi mới dẫn đi. Khanh trả tiền xong thì cả lũ bỏ chạy, Khanh lại ăn quả lừa.

Sau đó, mỗi khi tàu vào hầm là Khanh bỏ chạy ra xa đám ‘mặt tỉnh queo’ để tránh bị tra tấn kiểu ‘hội đồng’. Có lúc chẳng có hầm nhưng có chàng kêu tàu sắp vào hầm để Khanh chạy rồi cười với nhau. Vui được một chặng đường dài.

Chuyện của Khanh có dịp tôi còn nhắc thêm (Khanh cũng được phân công về Cục Kinh tế Quân khu 9 cùng chúng tôi) với những pha ‘dở khóc dở cười’ kiểu đó.

 Chuyện thứ ba

Còn một chuyện nữa cũng đáng nói là khi tàu dừng khá lâu ở 1 điểm ngoài ga cung đèo Hải Vân. Bộ đội thấy ngay bên dưới có một suối nước trong xanh. Trời về chiều nắng nóng nên ai thấy cũng muốn được tắm. Bỗng một đoàn 7-8 lính lao ra khỏi tàu đi xuống suối tắm. Nhìn họ tắm mà thèm quá, bơi lội trong làn nước trong xanh giữa cảnh núi non xanh ngắt hữu tình. Nhiều kẻ định lao theo thì tàu hú còi và xịch xịch chạy nhanh dần. Đám tắm dưới suối vội lao lên nhưng không kịp nữa rồi. Bộ đội nhìn xuống áy náy cho bọn tắm cởi trần vẫy vẫy áo cho tàu dừng lại, vừa vẫy vừa chạy theo tàu…

Nghe nói bọn này sau bắt xe kịp trở lại tàu ở ga Đà Nẵng. Chắc mấy chàng gan góc này không bao giờ quên được cảm giác suối mát lành và cảm giác giật mình khi tàu chạy bỏ rơi chúng.

Từ đây vào Nam chúng tôi chỉ còn thấy những hình ảnh mới lạ khi tàu vào các ga chứ không còn gì đáng nhớ. Nào là từ ga Đà Nẵng vào Nam bọn lính cãi nhau sao tàu lại lôi ngược ra Bắc, nào là ga gà, ga đường phèn, ga xoài, ga mực khô… trong hành trình khi thấy những cư dân địa phương bán những sản vật trước các cửa toa tàu. Càng vào sâu, bộ đội đều mỏi mệt nên không có trò tếu táo gì hay ho nữa.

Thứ Sáu, tháng 10 04, 2024

Hai chuyện đáng nhớ trên đất Hới


Tàu qua ga Vinh lúc đêm nên tôi không có cảm nhận gì và khi đó tôi cũng chưa từng đến xứ Nghệ. Trong tàu có rất nhiều anh em quê Nghệ An, Hà Tĩnh nhưng tôi không để ý các bạn chia tay Vinh thế nào.

Trời đã sáng rõ, chúng tôi được thông báo sắp vào ga Đồng Hới, Quảng Bình (ngày 18-3-1981). Lúc này trên tàu, lính đã được phát bánh mì ăn sáng. Chúng tôi ăn ể oải món vừa dai vừa cứng kiểu lương khô cho lính và không ai hứng thú gì với bữa ăn sáng đầu tiên trên tàu.

Dưới ga có một số người đưa tiễn lính – thì ra cũng có nhiều anh em Quảng Bình đã xin về nhà nay ra đón tàu. Một anh lính bịn rịn chia tay người vợ trẻ bụng căng lè sắp sinh. Anh băn khoăn nhìn vợ trẻ, chắc có nhiều tâm tư chưa nói hết trong buổi chia tay. Chị vợ sẽ phải chịu đựng cảnh đẻ đứa con đầu lòng mà không có anh ở cùng. Bọn tôi chưa có người yêu chưa thể nghĩ đến điều này. Đám lính mới ngủ dậy ăn sáng xong nên hô hoán ầm ĩ trêu chọc: Em ơi, đẻ cho anh thằng cu nhé; Ở nhà em  nhé, anh đi hết giặc lại về; Chịu khó một mình em nhé, anh sẽ nhớ em rất nhiều… Anh lính chia tay vợ trong cảnh náo nhiệt ầm ĩ đó, chắc người vợ trẻ hiểu được tình cảnh bọn lính chúng tôi trên tàu.

Bỗng nhiên có một “anh khùng” đi dọc theo các toa tàu nói rất to: “chúc các thủ trưởng đi Nam sức khỏe bình thường, tình yêu lộn xộn”. Hay quá, anh ta đi dọc theo các toa và xin bánh mì. Trong toa ai còn mẩu bánh nào thì tung ra cho anh và khuyến khích anh hô to. Anh cười rất tươi, tay nhặt bánh mì, miệng nhắc lời chúc nhiều lần. Vui ghê, cười rũ rượi. Sức khỏe thì chỉ cần bình thường là được rồi, nhưng tình yêu lộn xộn thì nghĩa là gì nhỉ? Tôi nhớ mãi nụ cười trên khuôn mặt đen gầy của ‘anh khùng’ và cái áo bẩn đang mặc giăng ra để đựng những mẩu bánh mì lính tung cho anh một khi anh hét lên lời chúc ‘để đời’. Tàu qua, chúng tôi chia tay Hới với 2 cảnh tượng đó, nhưng thú thiệt cảnh anh khùng làm vui mọi người và át đi sự chia li giữa người vợ trẻ sắp sinh và anh lính lên tàu năm ấy.

Sau này tôi được biết đấy là anh Lê Văn Tiệc chia tay vợ. Chuyện anh Tiệc và người vợ - Chị Ngô Thị Bình có thể sẽ còn trong nhiều bài viết của tôi trên blog này bởi cho đến nay chúng tôi vẫn thường xuyên gặp nhau. Khi đến Quân khu 9, anh Tiệc được quyết định công tác ở Campuchia, chúng tôi cũng được gặp anh Tiệc mấy lần ở Cần Thơ. Khi tôi đi qua Phnom Pênh tôi cũng có những kỉ niệm với anh, hi vọng rồi tôi sẽ có dịp nói thêm sau này.

Qua ga Thanh Hóa – cảm nhận Vọng Phu


Vào khoảng 2.00pm ngày 17-3-1981, tàu vào ga Thanh Hóa. Tại đây tàu thường dừng lâu vì có thể thay đầu máy hoặc bổ sung gì đó cho ca kíp công việc. Lúc này tàu đã đi được hơn 10 giờ nên câu chuyện ở các toa cũng ít dần, không còn huyên náo như hồi sáng.

Tôi xuống ga đi dạo một lúc cho đỡ chồn chân. Ga Thanh Hóa là nơi lần đầu tiên (hồi lớp 5) được ăn que kem ga. Đây là ga lần đầu tiên tôi ra Hà Nội học vào chiều tối ngày 17-12-1975. Lần này tôi rời ga Thanh Hóa để đi Nam coi như kỉ niệm chuyến đi dài cả nghìn km, lại một dịp đầu tiên trong đời.

Khoảng 30 phút sau, tàu xuất phát về phía Nam. Tôi tạm biệt ga và nhìn qua cửa sổ phía Tây thấy ngay hình ảnh hòn Vọng Phu ở núi Nhồi. Thấy hòn Vọng Phu qua cửa toa tàu chỉ một thoáng mà gợi cho tôi bao nhiều điều. Hòn Vọng Phu và một khối đá tự nhiên ở núi Nhồi, Đông Hưng, Đông Sơn (nay thuộc thành phố Thanh Hóa). Hình dáng Vọng Phu là bức tượng người đàn bà bế con nhìn về phương Nam, có cả con chó đứng dưới chân. Vọng Phu trong các câu chuyện văn học là người đàn bà chờ ngóng chồng đi Nam đánh giặc. Tôi nghe về chuyện những chàng trai xứ Thanh ngày xưa từng đi lính vào Nam, về hàng vạn người con Thanh Hóa từng đi Nam trong cuộc chiến vừa qua. Hòn Vọng Phu có lẽ đã in dấu trong bao chàng trai xứ Thanh đi lính phía Nam như tôi trong hàng trăm năm mở cõi và giữ nước.

Nhìn hòn Vọng Phu, sau này tôi có dịp quan sát kĩ hơn tình cảnh người đàn bà Thanh Hóa và văn hóa làng xứ Thanh.

Xuyên suốt chiều dài miền Trung, có biết bao nhiêu làng xã là người xứ Thanh định cư khi mở cõi ở Huế, ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa… Họ ban đầu là lính, sau khi quân dịch hoàn thành, vùng đất mới được giao canh giữ để canh tác và bảo vệ. Rồi chúa Nguyễn quê xứ Thanh, rồi cuộc chiến Trịnh - Nguyễn phân tranh… Ngày nay trên dải đất miền Trung không khó tìm những vùng có cư dân Thanh Nghệ cư trú mấy trăm năm qua. Vọng Phu hóa đá là khi người đàn bà chờ không thấy chồng về. Chồng của họ đã chết trong các cuộc chiến hay đã lấy vợ mới khi định cư nơi xa ngái không về…

Hòn Vọng Phu còn liên quan đến tục đa thê phổ biến ở xứ Thanh cho đến trước 1945. Đa thê ở đây là cảnh người đàn ông lấy nhiều vợ và chung sống ‘êm thấm’ trong gia đình nhiều vợ nhiều con. Đây là một trong những đặc điểm khác miền Bắc. Người đàn bà xứ Thanh quen với cảnh “sản xuất nhân lực” cho các cuộc chinh phạt mở cõi mấy trăm năm nên bản lĩnh nuôi chồng, nuôi con đi đánh giặc vốn đã in hằn trong tình cảnh những người đàn bà cam phận đẻ cho chồng thật nhiều con trai. Bản năng ấy không chỉ có giá trị gia đình mà còn có giá trị cho đất nước. Họ sẵn sàng chung sống hòa thuận để ‘sản xuất’ được nhiều chàng trai mạnh mẽ cho các cuộc chinh phạt phía Nam. Việc chung sống hòa thuận của 2 bà, thậm chí 3-4 bà không thành vấn đề bởi lợi ích quan trọng hơn là có nhiều chiến sĩ ra mặt trận cho sự nghiệp mở cõi của dân tộc Việt.

Có dịp tôi sẽ kể thêm về ‘đặc trưng làng’ của xứ Thanh. Làng của xứ Thanh rất ít có cổng làng. Tên địa danh ‘xá’ như Dương Xá, Đặng Xá, Lê Xá, Nguyễn Xá, Trần Xá,… ở xứ Bắc cũng rất hiếm có. Làng của Bắc bộ có đặc trưng cổng làng, lũy tre và cấu trúc đình-chùa-miếu-giếng-ao… cơ bản như nhau, nhưng làng ở xứ Thanh là kiểu “làng mở’, không có cảnh đóng cổng ban đêm, làng không có ‘xá’ của một dòng họ mà luôn có nhiều dòng họ chung sống, làng hướng ra mọi phía, sẵn sàng ‘ra-vào’ nghĩa là sẵn sàng xuất phát-rút lui. ‘Làng mở’ chứ không phải ‘làng đóng’. Đó là cái rất khác lạ.

Đó cũng là tính cách người xứ Thanh quảng giao khá rộng rãi với mọi người (nhưng không chơi ăn ý lắm với ‘đồng hương’). Có dịp tôi sẽ bàn thêm về chuyện này.

Cục đá buộc phong thư


Sau khi cho lính về quê ăn Tết Tân Dậu (1981) mấy ngày, chúng tôi trở lại đơn vị. Đến ngày 27-2-1981 (tức 23-Giêng-Tân Dậu), mọi người nhận được quyết định đi đến các đơn vị công tác. Số đi các Quân khu 5, Quân khu 7 và Quân khu 9 khá đông, nhất là các anh học ngành nông nghiệp. Chiều 15-3-1981, chúng tôi được lệnh hành quân rời doanh trại đến tập trung ở bãi đất trống ngoài làng Mông Phụ xã Đường Lâm. Bộ đội đều có quân hàm sĩ quan còn mới nhưng các bộ quần áo thì cũ mèm. Việc đóng quân trên đồi rất hiếm nước lại vào mùa đông nên tắm giặt không thường xuyên, quần áo lăn lộn trong khu vực doanh trại thì ‘tiện đâu ngồi đó’ nên đều nhàu nát, bẩn thỉu, có anh còn ‘khoe’ 3 tháng không tắm giặt. Việc tập trung cả mấy trăm người ồn ào trong cảnh thiếu nghiêm túc, rất khó quản lý. Mọi người được nghe phổ biến nhiều thứ nhưng chỉ nhớ là 2 ngày sau thì đến ga Hàng Cỏ đón tàu đi Nam.

Chúng tôi đến ga lúc còn chưa sáng, gặp nhau đầy đủ cả, chắc cũng không có ai muốn trốn hay chậm trễ. Rồi theo các toa, đoàn tàu chở toàn lính rời Hà Nội lúc 6.00am ngày 17-3-1981. Có vài người đưa tiễn (chắc con em người Hà Nội) nhưng không nhiều và cũng không có cảnh rưng rưng như hồi còn chiến tranh, nói chung không tệ lắm về chia li. Tàu qua đường Nam Bộ (nay là Lê Duẩn), tôi nhìn Công viên Thống Nhất, Đại học Bách Khoa, Bệnh viện Bạch Mai, Ngã tư Vọng… như cố nhớ thêm một lần nữa những nơi tôi đã từng đến những năm học Đại học ở Hà Nội.

Qua khỏi Hà Nội, tàu chạy nhanh dần và câu chuyện lính vui vẻ rôm rả là chính, lại trêu đùa, ồn ào. Anh em học cùng trường tụ lại với nhau nói chuyện nên đại loại vui như ngày nay đi du lịch. Có mấy nhóm đánh bài là vui nhất, tiếu lâm râm ran.

Tôi lặng lẽ suy tư về tương lai, không biết sẽ đi đến đâu nhưng cảm giác được đến Sài Gòn, đến miền Nam có phần mới lạ. Tuy chưa biết gì về vùng đất này nhưng vẫn có cái háo hức của tuổi trẻ chưa được đi nhiều trải nhiều.

Tàu qua Nam Định thấy có mấy người lên tàu – nhóm anh em tranh thủ về nhà và xin phép đón ở ga Nam Định. Tàu qua ga Ninh Bình, tôi thấy anh Lê Ngọc Lan len ra gần cửa toa. Tôi nghĩ anh đang chờ vợ ra vẫy tay chào khi tàu chạy qua cổng cơ quan vợ anh. Anh Lan mới cưới vợ được hơn 1 tháng trước khi đi Nam. Tôi ghé mắt qua cửa sổ chờ xem cảnh anh chị chia li thế nào. Bỗng tôi thấy anh Lan ném cái gì đó và nói với người gác đường tàu. Thì ra một cục đá có buộc một phong thư anh gửi cho vợ. Tàu đi nhanh qua không kịp thấy gì nữa. Sau này tôi mới biết anh không kịp báo tin cho vợ ngày đi Nam nên chỉ kịp viết thư buộc một hòn đá để nhờ bác gác đường tàu đưa cho vợ anh. Anh này có vợ sớm nên khôn ghê, thư đó đến được với người vợ trẻ của anh thì thật nhiều ý nghĩa.

Mãi sau này, vào 12-2023 nhóm chúng tôi tổ chức chuyến đi du lịch phía Nam cùng nhau, tôi nhắc lại kỉ niệm này thì chính anh Lan dường như đã không nhớ rõ. Riêng vợ anh – chị Dính – thì nói chị đã nhận được bức thư ấy và chị cũng cho biết nhiều người trong cơ quan của chị cũng từng nhận được thư (kể cả không phải là lính) qua kiểu buộc cục đá nhờ ông “bưu tá” gác đường tàu.

Chuyện anh Lan yêu chị Dính từ trước khi vào Đại học, chúng tôi ở cùng phòng với anh nên biết khá rõ nhiều chuyện, có thể tôi cũng sẽ kể thêm khi có dịp viết về những năm tháng trong kí túc xá Đại học Nông nghiệp I.

Chủ Nhật, tháng 9 22, 2024

Chuyện những que kem

 

Hồi còn bé tẹo (khoảng những năm 1966-1968), chúng tôi đã biết kiếm cá, đánh lươn. Ăn không hết nên bố mẹ bán lấy tiền, đôi khi cho chúng tôi mấy hào (1 hào là 10 xu) để ngày Quốc Khánh 2-9 rủ nhau đi Thị xã Thanh Hóa ăn kem. Những đêm hè nghe kể chuyện ăn kem thật vô cùng thú vị. Mấy anh lớn hơn đã được nếm tả cái ‘bánh lạnh’ này hấp dẫn đến mức chảy nước miếng cả lũ và thế là mỗi dịp 2-9 đều có một ‘thế hệ mới’ phải xuống ga Thanh Hóa để mua cho được que kem như trải nghiệm tất yếu của sự trưởng thành.

Rồi mùa hè 1969, sau đình chiến ném bom miền Bắc[1], chúng tôi được chuyến đi dịp 2-9 đến Thị xã. Mục tiêu chính là được thưởng thức món kem của những thằng chưa từng được nếm. Đi từ 4-5g sáng, mỗi bọn 7-8 đứa thành từng nhóm đi bộ, đến được ga để xếp hàng chờ mẻ kem mới (ở đó toàn trẻ con vì mọi đứa trẻ các làng khác chắc cũng như thế). Khoảng sau 9am thì may ra đến lượt. Có đứa mua được có đứa không, nhưng chẳng đứa nào không được nếm vì ăn đều chung: cùng mút, cùng chia. Cái cảm giác lạnh buốt kẽ răng trong cái nắng sớm ở những khuôn mặt đen nhẻm toát mồ hôi vì chạy bộ, xếp hàng từ sáng sớm đến giờ thật mãn nguyện. Coi như chỉ là được nếm vì vừa khó mua, vừa ít tiền nhưng vài ba lần mút cũng là đời đã biết mùi kem để về còn khoác với đàn em – cái lũ chưa từng biết mùi, còn phải chờ cơ hội sau này. Có mấy bác đi qua chê tụi nhà quê mút kem chung mất vệ sinh, nhưng chúng tôi chả đứa nào quan tâm, cứ chia nhau mút cho đến trơ que, ngon thì cũng chẳng kịp cảm nhận, nhưng lạ và lạnh là cái thằng nào cũng biết.

Đến năm 1973, lần đầu tiên được xem phim Ông già Khottabych (Khốt Ta Bít) lại thấy cảnh ông già phù thủy ấy được mời ăn kem thì ông ấy ăn rất nhiều và nói với bọn trẻ rằng kem là món bánh ngon nhất đời mà ông ấy từng được thưởng thức. Khi đó bọn tôi cười vì đều biết kem khi tuổi còn ít hơn ông.

Sau này lớn lên ít còn cảm xúc với kem như thuở ban đầu nhưng kem dường như vẫn mê hoặc  mọi lũ trẻ choai. Khi tôi đi bộ đội về phép được ra Thủ đô chơi, có lần đưa đứa cháu đi ăn kem. Cháu ăn một lúc hết hơn chục que kem Tràng Tiền. Lại có lần đưa một bé đi ăn kem Tràng Tiền, tôi vô tâm không nhớ nhiều nhưng bé vẫn còn nhắc rất lâu sau đó rằng thấy tôi đạp xe lấm tấm mồ hôi trong gió thu và rất có thể người ăn kem Tràng Tiền cũng chưa quên vị kem hôm ấy.

Ngày nay, kem Tràng Tiền vẫn còn đông người thưởng thức kiểu cầm que ăn thản nhiên giữa phố. Chắc ai cũng muốn thêm một lần tận hưởng món kem nổi tiếng với những cảm giác thuở ban đầu.

 




[1] Chiến dịch Sấm Rền (Operation Rolling Thunder) hay Chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất kéo dài từ ngày 2/3/1965 đến 1/11/1968.

 

Thứ Hai, tháng 9 16, 2024

Nhớ về một quãng đời trai trẻ

 

Theo một văn bản pháp luật kí năm 1980 của Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, nhà thơ Tố Hữu, chúng tôi, hơn 3000 tân kĩ sư[1], bác sĩ tốt nghiệp đại học năm 1980 trở thành kĩ sư-lính, kĩ sư-sĩ quan. Ai chưa là sĩ quan dự bị thì thành kĩ sư-lính (binh nhì), ai là sĩ quan dự bị năm 1980 thì thành kĩ sư-sĩ quan (thiếu úy).

Lớp Kinh tế 20A Đại học Nông nghiệp I chúng tôi có 7 chàng trai trẻ nhất trong lớp đăng lính năm ấy. Lớp có hơn 50 người nhưng số đăng lính ít vì hồi đó có hơn 40 anh chị là cán bộ đi học và là lính trở về từ các chiến trường.

Nói luôn tên 7 chàng này để các câu chuyện sau này còn liên quan nhiều đến từng người: Nguyễn Hữu Đào, Cao Ngọc Đức, Lê Ngọc Lan, Trần Hữu Giang, Lê Cao Bính, Âu Dương Đức và tôi là Lê Hữu Ảnh (Sau này nghe nói có anh Nguyễn Văn Tường cũng đi dịp đó nhưng không ai có thông tin gì thêm về chuyện này). Riêng Âu Dương Đức là kĩ sư-lính, còn 6 chàng là kĩ sư-sĩ quan.

Có chừng hơn 2 tháng đóng quân tại làng Đường Lâm, Sơn Tây để huấn luyện tân binh ở Trung đoàn 826 thuộc Quân khu Thủ đô. Tại đây chúng tôi được chứng kiến cả nghìn chàng lính của rất nhiều trường đại học phía Bắc và cả những chàng lính tốt nghiệp đại học từ nước ngoài tập trung trên quê 2 vua. Một số được phân về ở trong các nhà dân làng Đường Lâm, số còn lại vào các lán trại trong các đồi cây bạch đàn cách làng 4-5km. Ban đầu, giống chuyến đi dã ngoại nên vui vẻ, đàn ca, kể chuyện rôm rả. Được khoảng mươi ngày thì phải chấp hành chế độ tân binh huấn luyện rất nhàm chán: đi đều, học điều lệnh, nghe các buổi chiến thuật, khí tài… Đến lúc này rất nhiều “chất trí thức” bị chán đời cộng với nhiều mưu kế vặt trở nên một chút ngang tàng, thậm chí hơi lưu manh trong câu nói, hành động và đặc biệt là đối xử với cán bộ khung huấn luyện. Càng về sau càng tệ hơn mang tính chống đối cán bộ với những quy định huấn luyện tân binh áp dụng không đúng đối tượng.

Các phá phách từ chỗ không thực hiện quy định doanh trại đến tự do đi chơi, ra chợ, vào dân nói chuyện. Sau đó đến chặt cây của HTX lấy củi cho dân tại các nhà bộ đội ở trọ để giúp họ có chất đốt[2]. Rồi đến những trò tếu táo như lấy quân trang đổi kẹo, uống trà, trêu chọc cán bộ khung cấp đại đội. Họ là những sĩ quan trẻ không đủ kiến thức chọi lại với  những chàng tân trí thức nên mâu thuẫn ngày càng gia tăng. Nhiều lúc như kho thuốc súng chực nổ, không khí căng thẳng các buổi họp hành…

Những sự cố này là do sự tập trung quá lâu một chỗ đối với những chàng lính “tân trí thức” gây ra bất mãn nhất thời. Họ đang có tâm lí cống hiến sau nhiều năm học tập nay bị giam hãm để làm những việc cơ bản vô ích mà cả người quản lý và người bị quản lý cũng đều không rõ mục tiêu làm gì. Chúng tôi lờ mờ nghĩ rằng chắc Chính phủ đã có ý định gì đó nên mới tính đưa chúng tôi vào lính chứ lúc này cơ bản các mặt trận đã tạm yên ổn. Ngoài ra, chúng tôi biết lúc này cũng gần Tết nên có thể họ có thể cho chúng tôi về quê ăn Tết xong sẽ quay trở lại để nhận công việc.

Rồi mấy ngày về quê ăn Tết vội vã và nhận các quyết định hành quân. Chúng tôi cả nghìn người được chia theo các đội hình đi khắp các quân khu, đa số đi miền Nam. Phần lớn chúng tôi được đưa ra tàu hỏa đi Nam trong hành trình 3 đêm 4 ngày. Số đi Quân khu 5 xuống Nha Trang, Số đi Quân khu 7 và Quân khu 9 xuống Sài Gòn. Trong số 6 chàng lên tàu đi Nam có Lê Ngọc Lan đi Quân khu 5, Cao Ngọc Đức đi Quân khu 7, còn lại Đào, Giang, Bính, Ảnh đi Quân khu 9. Xuống tàu còn được tạm trú ở Sài Gòn 2 ngày, sau đó đi ô tô xuống Cần Thơ. Âu Dương Đức cũng về Tỉnh đội Đồng Tháp trong chuyến đi 5 ngày bằng tàu biển. Vậy là có 5/7 chàng đi Quân khu 9.

Tại Quân khu 9, chúng tôi có khoảng 50 chàng từ nhiều ngành học được đưa về Trạm khách Quân khu rồi trong vòng 2 tháng được phân đi các đơn vị trong Quân khu. Nhiều vị đi Cam pu chia, các anh em ngành nông nghiệp chúng tôi được đưa về Cục Kinh tế Quân khu 9 ở Cái Khế, Cần Thơ (khi đó Cục mới thành lập). Cụ thể: Nguyễn Hữu Đào về Phòng Tài vụ, Bính, Giang, Ảnh về Phòng kế hoạch. Đến khi giải tán Cục kinh tế Quân khu năm 1982, chúng tôi được đưa về Phòng Sản xuất thuộc Cục hậu cần Quân khu 9 cho đến ngày ra quân cuối năm 1984.

Điều hiếm có là 3 chàng Bính, Giang, Ảnh trong 4,5 năm đại học, 3 tháng học dự bị sĩ quan đều ngủ chung 1 phòng (phòng 14 người), đến khi vào lính chúng tôi lại có thêm 4 năm ngủ chung 1 phòng (phòng 3 người). Số phận đã cho chúng tôi gần 9 năm ngủ 1 phòng trong quảng đời thanh niên sôi nổi nên có thể nói chúng tôi biết hết các chuyện về nhau. (Còn Nguyễn Hữu Đào thì khi ở Đại học cùng lớp nhưng ngủ khác phòng, khi vào quân đội thì dù đều ăn chung 1 bếp nhưng ngủ khác chỗ). Chuyện 3 chàng đã trở thành số phận: cùng tốt nghiệp đại học 1 ngày, cùng đi lính 1 ngày, cùng kết nạp Đảng 1 ngày, cùng ra quân 1 ngày, 9 năm ngủ chung phòng. Nay đều đã về hưu trí, đều là cán bộ thuộc bậc lương ngạch chuyên viên cao cấp, đều có 1 vợ 2 con gái. 3 chàng ở 3 miền với 3 nghề khác nhau: Giang là chuyên viên cao cấp Bộ Giao thông, sống và làm việc ở Thành phố Hồ Chí Minh, Bính là cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh, sau thành chuyên viên cao cấp ngành lâm nghiệp, sống và làm việc ở Nghệ An (Vinh), còn tôi sống ở Hà Nội, là giảng viên cao cấp ở trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội (nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam). Khi còn công tác đôi khi chúng tôi gặp nhau, về hưu có điều kiện mỗi năm gặp nhau đôi lần.

Nay cũng là đến lúc kể lại nhiều hơn câu chuyện của 7 chàng và 3 chàng trai chúng tôi, nhất là những chuyện trong quân ngũ. Tôi có ý định sẽ kể ngắn những sự kiện mà cả 3 đều còn nhắc mỗi khi gặp lại, nhưng thiết nghĩ có điều kiện ghi chép cũng gọi là để câu chuyện đầy đủ hơn.

Tôi định chia thành 4 mục sau:

1/ Khung trời Đại học - Một thời sôi nổi;

2/ Những ngày đầu quân ngũ;

3/ Quân khu 9 - Muôn nẻo dặm đường;

4/ Cội nguồn thâm sâu - Thành duyên kết tụ.

Chắc cũng phải nhiều ngày, nhiều tháng mới hi vọng kể hết. Mong sao có sức khỏe để ghi chép, đặng thêm thú vui lúc già.


[1] Hồi đó chưa gọi cử nhân đại học như sau này.

[2] Khi bộ đội ở nhà dân chỉ được cấp lương thực, thực phẩm, còn dụng cụ và củi lửa đều nhờ dân.

Thứ Sáu, tháng 9 06, 2024

Cảm giác ba lần cận tử (lần thứ 3)

 

Cận tử là cảm giác rất khủng khiếp, nhất là khi còn trẻ con. Trước 6 tuổi tôi đã cảm nhận được cái chết rất gần, chỉ một chút xíu nữa thôi là qua phía bên kia… Nay ghi lại để thấy mình may mắn còn có được những thú vui tận hưởng cuộc đời. Dù đã trải nhiều vui buồn trong cuộc sống nhưng phút giây cận tử mới thực sự không thể nào quên được.


Lần thứ ba

Lại vẫn con sông ấy nhưng là lần ngớ ngẩn xảy ra khi tôi 6 tuổi và đã biết bơi. Gần trưa hôm ấy mới thằng nhóc đi tắm sớm, giờ đó chưa đông người tắm nên còn nghịch đủ thứ. Một đứa phát hiện chỗ gầm cầu có những hòn đá trong có nhiều tôm cá dựa vào nên cùng nhau rủ mò tôm.

Tôi sờ tay thấy bọn tôm cá nhỏ chạy ào ào qua kẽ tay giữa các khe đá. Tiện tay móc vào trong có nhiều con to hơn trơn tuột. Hết cỡ tay mà chưa vào hết các ngách trong những khe đá. Bọn tôi ngụp đầu xuống mò đến các khe sâu hơn. Thế là lặn một hơi và mò vào, con tôm tanh tách vào sâu mãi và tôi đã túm được nó. Tôi bắt đầu rút tay ra để ngoi lên thở thì tay bị kẹt cứng trong đá. Càng rút càng kẹt, hơi thở thì đã hết. Vùng vẫy một lúc tôi vẫn không rút được. Lại thấy hoa mắt, màu vàng sáng đục, miệng uống nước liên tục, nghẹt thở và lịm dần.

Khi tỉnh dậy tôi thấy tụi trẻ kêu ầm ĩ quanh tôi. Tôi hoàn hồn nghe được chúng nói là đã xúm vào lôi tôi ra. Khi ra được thì tôi đã mềm nhũn, may có mấy người lớn đi ngang qua thấy vậy làm hô hấp nhân tạo một lúc thì tôi ộc được nước ra và tỉnh lại.

Tôi nhìn thấy tay mình trầy xước chảy máu vì tụi trẻ đã xúm vào lôi tôi ra khi tay mắc vào kẽ đá. Hú vía, thoát chết vì mấy con tôm nhỏ. Nhưng có lẽ đau nhất là con trai mà chết trên con sông quê bé tẹo cạnh nhà thì còn ra cái nỗi gì.

Cảm giác ba lần cận tử (lần thứ hai)


Cận tử là cảm giác rất khủng khiếp, nhất là khi còn trẻ con. Trước 6 tuổi tôi đã cảm nhận được cái chết rất gần, chỉ một chút xíu nữa thôi là qua phía bên kia… Nay ghi lại để thấy mình may mắn còn có được những thú vui tận hưởng cuộc đời. Dù đã trải nhiều vui buồn trong cuộc sống nhưng phút giây cận tử mới thực sự không thể nào quên được. 

Lần thứ hai

Tôi chỉ là một đứa trẻ 5 tuổi được cha mẹ cho theo những đứa trẻ khác trong xóm ra sông trước làng tắm trưa hè. Tôi và bọn chúng mon men sát bờ nghịch nước, một vài đứa biết bơi, tôi khi đó chưa biết bơi đang ở những ngày đầu được đi nghịch nước như các bạn cùng tuổi.

Bỗng tôi thấy ai đó kéo chân tôi ra giữa sông và bỏ tôi giữa dòng nước sâu quá đầu tôi. Tôi chới với trong dòng nước mở mắt thấy một màu vàng đục. Tôi cố vùng vẫy, uống rất nhiều nước, bất lực chìm dần. Màu ánh sáng vàng đục trước mắt đó cứ mờ dần, mờ dần... Tôi được ai đó lôi vào bờ và vẫn còn sặc nước, mở mắt thấy sáng chói mắt. Nước mắt nước mũi giàn giụa nghẹn ngào mãi không nói được. Ngồi một lúc rất lâu mới leo run rẩy leo được lên bờ đi về nhà.

Thì ra các anh lớn nghịch ngợm đã lôi tôi ra chỗ nước sâu. Lũ biết bơi thì chới với bơi vào được còn tôi thì các anh nghĩ cũng thế. Nước đục thế lại rất đông trẻ náo loạn cả khúc sông nên không ai để ý đến ai. Họ bỏ mặc tôi vùng vẫy. May sao lúc ánh vàng trước mắt mờ dần, chắc tôi đã đụng phải ai đó và bọn họ đã lôi tôi vào bờ.

Cái ánh vàng đục là tôi nhớ rõ nhất: ánh vàng chấp chới, ánh vàng nhấp nháy, ánh vàng đờ đẫn, ánh vàng khô cứng, ánh vàng đục dần, mờ dần…

Đó chắc chắn là sự cận tử. Chắc chỉ vài mươi giây nữa là ánh vàng đục vĩnh viễn đông đặc mãi: đứa trẻ 5 tuổi sau đó sẽ chìm dần trôi theo dòng nước.

Cảm giác ba lần cận tử (lần thứ nhất)


Cận tử là cảm giác rất khủng khiếp, nhất là khi còn trẻ con. Trước 6 tuổi tôi đã cảm nhận được cái chết rất gần, chỉ một chút xíu nữa thôi là qua phía bên kia… Nay ghi lại để thấy mình may mắn còn có được những thú vui tận hưởng cuộc đời. Dù đã trải nhiều vui buồn trong cuộc sống nhưng phút giây cận tử mới thực sự không thể nào quên được.

Lần thứ nhất

Hồi đó tôi khoảng 3-4 tuổi…

Tôi còn nhớ cha đưa tôi ra nằm võng cói, cha ngồi sàng gạo cạnh võng. Chỉ có cây đèn dầu leo lét trong đêm hè nóng nực. Tôi sốt cao, rất đau ở 2 đầu gối như có những con dòi đục khoét bên trong, hình như tôi ti tỉ khóc và lịm dần.

Tôi bỗng thấy trong vùng trời tối đen kịt, tôi đang ở bên này con sông. Hai bờ sông có 2 người khuôn mặt vuông đen sì to lớn, hai người này cứ đổi nhau nhảy từ bờ này sang bờ kia, tay chống vào đầu gối, miệng gào thét dữ dội, gầm ghè giận dữ.

Tôi chết lặng đi chỉ còn nghe thấy tiếng gào thét của 2 người đó như chực chờ sẵn đưa tôi qua bên kia sông tối đen trong tiếng gào rú và tiếng gió vùn vụt khi 2 người tay chống gối nhảy qua nhảy lại giữa 2 bờ sông.

Có lẽ vào giữa buổi sáng hôm sau tôi nhìn thấy cha mẹ tôi đang đứng cạnh với tấm vải ướt trên trán và tôi nghe được cha nói: nó tỉnh lại rồi, chắc không ra đi như mấy anh chị nó…

Sau này tôi mới biết rõ hơn rằng trước tôi nhà đã có 8 anh chị ra đi ở độ tuổi của tôi (1-3 tuổi) và đều do căn bệnh sốt cao rồi chết rất nhanh. Sốt cao là nguyên nhân của vô số bệnh tôi không rõ đó thực sự là loại bệnh gì. Một người anh sinh ra trên tôi và 7 anh chị khác trước đó cũng đều mất khi đã biết đi, biết nói… Chắc ông bà linh thiêng và các anh chị đã phù hộ để tôi không bị 2 vị mặt đen đó đưa đi.

Hình ảnh cứ mỗi khi tôi ốm, nhất là khi sốt cao sau này tôi vẫn thường thấy rất rõ 2 vị đàn ông mặt vuông đen kịt lần đó.

Thứ Hai, tháng 9 02, 2024

Chuyện lũ mèo nhà tôi (nhiều kì)

Sự tích tên bà Tủng

Hồi đó nhà tôi nhiều mèo lắm, có 2 mẹ mèo đẻ: mỗi năm 2 lứa/mẹ, mỗi lứa 3-4 con/mẹ. Cho lũ con đi không kịp nên nhà có lúc lên đến 13 đứa. Vui mà đau đầu lắm.

Có mấy năm liền lũ mèo mắc căn bệnh kiết lị rất khó chữa vào dịp tháng Giêng ẩm ướt nồm. Nhiều em đã chuyển kiếp ngay sau sân nhà 41 Đường T. Thế rồi 1 thú y viên bày cách chữa dùng thuộc tiêm khi chúng bị ốm.

Bà mẹ thì học ngành ‘sáng cấy - chiều gặt’ nhưng cũng liều mua 1 cái xi lanh và thuốc về tự tiêm. Em mèo choai gầy yếu bị chị Hương (Xì) đưa ra sau nhà giữ chặt cho bà mẹ tiêm. Chọc kim tiêm vào cổ xong bắt đầu bơm thuốc thì ôi thôi thuốc phun ra bên kia cổ ra ngoài: kim tiêm đã chọc thủng cổ mèo choai.

Xì phá lên cười giòn giã, cười bật ra từ sự bất ngờ trong nỗi đau đớn của mèo choai. Còn bà mẹ thì rút kim ra chọc lại. Khổ thân mèo choai đau quá bị mấy lần chọc kim vào cổ trong sự cố gắng của bà mẹ mà còn phải chịu đựng tiếng cười tàn nhẫn của Xì.

Từ đó trong nhà có thêm tên mới: bà Tủng (tiêm thủng cổ mèo).

Ba chiều cuộc sống

 

Khi còn đi làm, để gia tăng giá trị tri thức phục vụ công việc thì tôi cứ tự khuyến: làm giàu tri thức bằng sự tích lũy hàng ngày, liên tục, kiên trì mỗi giờ trôi qua lại có thêm nhiều hiểu biết tri thức mới. Đại loại là chăm lo làm giàu tri thức theo dòng thời gian.

Chiều thời gian thì mỗi ngày ai cũng như ai đều có 24 giờ. Làm thật nhiều hay không làm gì thì 24 giờ cũng vùn vụt trôi qua. Chiều thời gian kéo chúng ta xềnh xệch từ lúc chào đời đến khi ta được trao cho thần chết một cách rất tàn nhẫn và công bằng.

Chiều tích lũy gia tăng giá trị (chiều sâu cuộc sống) phụ thuộc vào khát vọng, năng lực, kĩ thuật và phương pháp tích lũy cùng vô số yếu tố, điều kiện khác trong đó không thể không kể đến yếu tố may mắn mà ta được ‘bề trên tinh túy’ từ vũ trụ ban cho.

Còn chiều thứ ba ta thường quên hoặc giả vờ quên trong suốt cuộc đời mình: chiều rộng của cuộc sống. Người xưa nói ‘lòng rộng 1 thước, đường rộng 1 trượng’. Sách Thái Căn Đàm[1]: ‘đi đường nếu gặp phải đoạn đường chật hẹp thì nhường 1 bước để người ta đi qua’. Nhường 1 bước là cao, lùi 1 bước là nền tảng để bước tiếp.

Chiều thứ ba này tưởng dễ mà lại khó thực hành vô cùng: thực chất Lão Tử coi là đạo của nước (tìm nơi thấp nhất mà ở), còn ở lòng người thì đó là sự khiêm cẩn (khiêm tốn – cẩn trọng) và khoan dung (bao dung – tha thứ).

Chiều thứ nhất ta không thay đổi được, chiều thứ hai là ta cố gắng nhưng chiều thứ ba là ta thực hành trí huệ. Cái có được ở chiều thứ hai chẳng là gì cả, chỉ là sự ham hố tha về đầy tổ để khi nhận thấy chúng vô dụng thì băn khoăn buông bỏ. Chiều thứ ba kiểm lại mới thấy rõ chân giá trị cuộc đời.



[1] Hồng Ứng Minh: Thái Căn Đàm - Tinh Hoa Xử Thế Phương Đông (Dịch giả: Lê Tiến Thành). Nhà xuất bản Hồng Đức, 2024.

 

Chủ Nhật, tháng 8 18, 2024

Tuổi thơ nhân tạo

 

Cứ đúng 8.45am các ngày thứ (trừ ngày mưa) tôi lại thấy các cháu nhà trẻ ở cạnh nhà tôi được các cô đưa đi dạo trong chương trình nuôi dưỡng hàng ngày. Hai cô cầm 2 đầu dây, nắm theo dây là 10-14 cháu, trai mũ xanh, gái mũ đỏ. Nhìn các cháu đi trong hàng, ai thấy cũng vô cùng hoan hỉ khi thấy những khuôn mặt trẻ thơ, hồn nhiên, thánh thiện. Tôi và con Domben đứng bên này đường nhìn qua, các cháu nhao nhao: cháu chào mèo, cháu chào ông ạ. Cứ thế hàng ngày nếu không bận gì tôi cũng đợi nhìn các cô dẫn “một xâu” các cháu đi qua trước mặt. Buổi sáng đang tĩnh lặng bỗng thành ồn ã, vui nhộn. Ai cũng như mong một buổi sáng tốt đẹp cho mọi người. Ai cũng thầm mong các cháu được vui sướng, được nuôi dưỡng tốt để lớn lên đẹp cả về thể chất lẫn tâm hồn. Tất nhiên đây là các cháu được sinh ra trong các gia đình có điều kiện chi ra hơn chục triệu/tháng để các cháu được vui khỏe hàng ngày. Hạnh phúc quá, tương lai tươi đẹp quá!



Nhìn những khuôn mặt thần tiên ấy ai mà không mơ về cái thuở thơ dại của mình… Nghĩ về những năm tháng xưa cũ, cái tuổi thơ hoang dại của những đứa trẻ làng nghèo chúng tôi thời ấy, tôi bỗng so sánh: các cháu đi trong cái “xâu người” ấy ngày nay có sướng hơn chăng?

Không thể kể hết những kí ức xưa cũ, nhưng tôi còn nhớ hồi khoảng 3 tuổi, bố mẹ phải đi làm, chị 9 tuổi trông em (1 tuổi), tôi (3 tuổi) được mẹ ra sông gánh về một gánh cát ẩm đổ ra sân. Thế là sà vào chơi cát cho đến lúc mẹ đi làm về vẫn chưa chán (tất nhiên là đất lẫn cát dây mặt đầy người bẩn như ma lem). Vầy trong đống cát đó cho đến nay tôi vẫn còn cảm nhận thấy có những con hến nhỏ, có các viên sỏi nhiều màu, có cả những con trùng cựa quậy… Càng tìm càng thấy nhiều điều thú vị.

Lớn lên một chút là cái tuổi thơ được tự do với nắng gió sông nước đồng quê ngập tràn năng lượng thiên nhiên: mùa hè tắm sông đến khi mờ mắt mới thôi, cưỡi trâu, thả diều, đá bóng (bằng quả bưởi héo rụng), chơi ú tim có đứa ngủ quên trong đống rơm khi mẹ tìm được thì sương ướt cả đầu. Rồi đùa vui trong những cơn mưa rào tháng 8, rồi trèo cây, bắt cá, trộm quả xanh… Lũ trẻ không có trò nào không trải, lớn lên hồn nhiên như cỏ dại ven đường, gầy đen nhưng đầy năng lượng.

Những năm 1964-1968 (tuổi 7-11) còn được cái “thú” trải nghiệm bom đạn: trưa hè nằm cạnh những đống rạ giữa cánh đồng nhìn máy bay Mĩ sáng loáng nhào xuống cắt bom đánh phá cầu Hàm Rồng, lại được thấy đạn pháo cao xạ của ta bắn 5 viên một cụm nổ 2 lần oặc oặc. Nhiều lần thấy máy bay Mĩ trúng đạn cháy bùng như bó đuốc, thấy phi công nhảy dù… Cũng còn khiếp cái cảnh những mảnh đạn pháo cao xạ của ta nổ trên trời, mảnh pháo lúc rơi xuống kêu như tiếng con ong véo véo quanh mình. May mà lũ trẻ cả làng không đứa trẻ nào, không con trâu nào dính mảnh của chúng. Thú thật nếu có đội 3 lớp mũ rơm thì vẫn thủng đầu…

Ôi cái tuổi thơ tự do, hồn nhiên và dữ dội sao mà sướng. Học hành, chơi games, quần áo sạch sẽ đồng phục, ăn uống đầy đủ… chắc gì tôi muốn đổi?

Cái tuổi thơ của các cháu kia đẹp quá, sướng quá mà sao “nhân tạo” thế. Các cháu còn được ngồi trong phao cao su bơm nước vào, trên thì phun nước như mưa để vui vầy. Tất cả 1 ngày là một chuỗi hành động kèm hiệu lệnh: mẹ đưa-cô đón, ăn-chơi-ngủ-thức-chơi, cô trao-mẹ đón, ngày lại ngày diễn ra trong hiệu lệnh của các cô. Một điều rất quan trọng khác: năm 2023 ở Việt Nam có tới 54% số trẻ được ĐẺ NHÂN TẠO bằng phương pháp "mổ bụng bắt con". Đẻ nhân tạo và nuôi dưỡng nhân tạo. Cái tuổi thơ nhạt nhẽo biết chừng nào, sau này có nhớ lại thấy kinh hoàng lắm lắm không đây?

Có lần tôi được đọc thấy ngày nay người ta lo rằng các nước giàu bây giờ nhiều người không muốn đẻ, tụi trẻ chủ yếu được sinh ra ở các nước nghèo, gia đình nghèo, dân tộc nghèo… Rồi người ta lo mất cân bằng: người giàu thì cứ giàu hơn, người nghèo thì cứ nghèo đi và lũ trẻ đàn đống ấy sẽ lại cứ dốt hoài. Nhưng cũng có người cãi lại rằng cái tụi giàu này sống có ích gì, gen của họ ngày nay yếu kém lắm, có sinh ra đứa nào thì cũng là những đứa trẻ yếu và hèn, rồi lại kiểu sống trong môi trường nhân tạo kia ai dám chắc loài người không thoái hóa biến mất trong mấy trăm năm nữa. Vậy cái sứ mệnh sinh sản vô tội vạ của xứ nghèo phải chăng được Đấng Tạo hóa sáng tạo để trái đất này còn lưu giữ những gen tốt tự nhiên, mạnh mẽ, không bị thoái hóa… đặng sau này còn có cơ nhân giống trở lại vào cái ngày lũ “con người nhân tạo” lụi tàn.

Chủ Nhật, tháng 7 28, 2024

Tình người xa lạ 2 (chuyện chưa từng kể với bất kì ai)

Hồi ấy, tôi 9 tuổi, là mùa hè năm 1966, sắp bước vào lớp 2 (trong chương trình 10 năm phổ thông[1]). Tình tôi nhút nhát, lại gầy-đen-còi cọc, yếu hơn các bạn cùng tuổi nên nhìn bé như 5-6 tuổi. Tôi hay mặc cảm với mình và rất sợ gặp người lạ, chỉ thích chơi một mình quanh nhà.

Hôm ấy trưa hè nắng nóng, tôi mang cái gáo dừa ra cầu ao cạnh nhà tắm. Cả làng như đang ngủ say, rất vắng lặng. Tắm chỉ là ngồi múc nước dội lên người cho mát rồi ngắm con chim trên cây, con cá dưới ao bèo chứ không có kì cọ gì. Tôi đang ngơ ngẩn nhìn mấy con bọ nhảy trên mặt nước, bên dưới có mấy con cá tí tẹo lấp lánh màu rất đẹp bơi qua lại thì bỗng giật mình nghe tiếng bước chân người. Tôi vội thu dọn để chạy về nhà. Khi đứng lên và… không kịp nữa rồi: một chị học sinh K8[2] đang trọ trong làng đã đứng trước mặt tôi. Thấy tôi vội vã bỏ đi thì chị nhẹ nhàng bảo tôi dừng lại và bảo tôi ngồi xuống cầu ao để chị tắm cho tôi.

Chị tắm rất kĩ, kì cọ các ghét bẩn trên người đen gầy của tôi, vừa tắm vừa nói chuyện về phải giữ gìn vệ sinh cơ thể, tự chăm lo cơ thể để khỏe mạnh, từ đó biết tự lập làm nhiều việc của bản thân. Tôi rất xấu hổ không dám nhìn và nói chuyện với chị, chỉ để cho chị kì cọ và lắng nghe. Khoảng mươi phút, chị bảo xong rồi, mặc áo quần vào rồi về. Chị thì đi tiếp lối mòn ngõ nhỏ về phía giữa làng.

Tôi không biết chị ấy là ai, đang trọ ở nhà nào trong làng, chỉ thoáng thấy khoảng độ tuổi 14-15, da trắng, bàn tay rất mềm mại, kì cọ cho tôi và nói chuyện nhỏ nhẹ giọng Quảng Bình, hình như có mái tóc dài khi tóc chạm vào lưng tôi. Chị đến và đi rất nhanh nhưng đã kịp tắm cho tôi sạch sẽ. Cảm giác vừa lạ vừa sợ là những gì tôi còn nhớ được rõ nhất lúc ấy về chị.

Tại sao chị ấy lại dành sự chăm sóc chu đáo cho một đứa trẻ như tôi trong làng này. Nhà tôi khi đó đang có các nữ sinh sư phạm ở trọ nên không được phân công nhận học sinh K8, nhưng vì sao chị lại không ngại ngần để tắm cho tôi. Rõ ràng chúng tôi không hề quen nhau. Hay vì chị ấy thấy tôi bẩn quá, hay vì chị ấy siêng năng quen làm việc giúp người, hay vì chị ấy đang nghĩ tôi như đứa em trai của chị cũng đang được đưa ra sơ tán theo K8 ở một làng nào đó?

Ít lâu sau, lớp K8 của chị ở làng tôi được chuyển lên các huyện vùng núi an toàn hơn (làng tôi gần vùng bom đạn của máy bay Mỹ) nên tôi không bao giờ được biết gì về chị ấy nữa. Cho đến nay mỗi khi tắm tôi vẫn thường nhớ cảm giác bàn tay mềm mại của một cô gái đang tuổi dậy thì kì cọ trên vai, trên lưng mình. Một cảm giác đầy lòng thành kính và biết ơn trong tình người xa lạ.



[1] Trong chương trình 10 năm học phổ thông, hồi ấy chúng tôi đủ 7 tuổi vào lớp Vỡ lòng, 8 tuổi lớp 1,… và hết 17 tuổi thì xong lớp 10.

[2] Chiến dịch K8 hay Kế hoạch 8 là một chiến dịch trong cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài từ tháng 8 năm 1966 đến cuối năm 1967. Đây là cuộc trường chinh sơ tán bằng đường bộ hơn 30.000 học sinh từ 5 đến 15 tuổi ở Quảng Bình, Quảng Trị (các vùng Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ) ra sinh sống và học tập ở các tỉnh phía Bắc là Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Hà, Thái Bình. Chiến dịch này do Bác Hồ chủ trương nhằm di chuyển những người không thể cầm súng ra khỏi vùng hủy diệt của chiến tranh.

 

Chủ Nhật, tháng 7 14, 2024

Phân hệ phái, chi, tiểu chi trong Dòng họ trong nông thôn

1. Hệ thống phân cấp theo sinh kỳ phát tộc

Theo thời gian, Dòng họ cứ nối dài sự tăng trưởng về số hộ, khẩu và mở rộng nơi cư trú. Để theo dõi được sự liên kết và phát triển Dòng họ cần tổ chức hệ thống phân chia thành các cấp. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên người Việt dựa trên quan niệm "thủy hữu nguyên, mộc hữu bản" nghĩa là nước có nguồn, cây có gốc để chia hệ thống thành 2 cấp chính là phái và chi. Phái (nhánh sông): nước chảy từ nguồn chia thành nhiều nhánh sông nhỏ. Chi (cành cây): mọc từ gốc, chia thành nhiều cành con.

Việc liên kết Dòng họ cứ phát triển mãi sẽ phải mở rộng hệ thống phân cấp. Những Dòng họ có phả tới 20 - 30 đời có thể dùng đến Phái - Tiểu phái - Chi - Tiểu chi, nhưng nếu đến 50-60 đời thì việc phân cấp rất phức tạp vì phải chia thêm các cấp nhỏ hơn. Sự quá phức tạp đó bắt buộc phải hình thành sinh kỳ mới tức là đến mức chi tiết nào đó thì hệ thống phân cấp cũ sẽ phải tạo thành hệ thống mới. Hệ thống mới sẽ lấy cấp phân chia cuối của sinh kỳ cũ làm gốc (đời khởi tổ) cho sinh kỳ mới.

Theo Phạm Thúc Hồng[1], một sinh kỳ phát tộc chia theo 12 cấp cho mỗi sinh kỳ như sau: 1/ Phái → 2/ Phân Phái  → 3/ Tiểu Phái → 4/ Chi → 5/ Phân Chi → 6/ Tiểu Chi → 7/ Tiết → 8/ Phân Tiết → 9/ Tiểu Tiết → 10/ Diệp → 11/ Phân Diệp → 12/ Tiểu Diệp. Hệ thống tiếp theo lấy cấp Tiểu Diệp để thành Thủy Tổ cho sinh kỳ 2...

Như vậy, theo lý thuyết, một sinh kỳ có 12 cấp, nếu phát triển Dòng họ thuận lợi thì khoảng 60 đời, tức khoảng 1200 – 1500 năm sẽ hết sinh kỳ thứ nhất[2]. Trong thực tế khó có Dòng họ nào tạo ra được phả liên quan 50-60 đời. Ngay cả ngọc phả, thế phả, các triều đại cũng chỉ kéo dài khoảng 300 – 400 năm. Ở Việt Nam, các Dòng họ có phả lâu đời nhất cũng chỉ khoảng 50 đời và thường rất hiếm. Các phả lớn ở Việt Nam đều có hiện tượng phân hệ sau một số đời (thường sau 4-5 đời). Phái, chi hay ngành (nhành) là tên gọi của các cấp không nhất thiết thống nhất mà theo tập tục địa phương. Chẳng hạn, họ Vũ[3] sau 5 đời thì có ngũ chi, rồi bát phái, họ Phạm[4] ở Đan Loan đến Đời Thứ 11 có 3 lần phân chi...

2. Sự hình thành đơn vị thờ cúng

Một đơn vị thờ cúng được hiểu là một tập hợp của những người cùng Dòng họ (cùng huyết thống) trong một địa phương do người dòng trưởng giữ vai Tộc trưởng tổ chức, cùng thống nhất các quy định thờ cúng và sinh hoạt trong Dòng họ. Các quy định được thống nhất trên cơ sở phong tục, truyền thống về phân phái, phân chi, tế lễ, Từ đường, mồ mả...

Tổ chức thờ cúng theo phái hoặc chi là những quy ước riêng của từng Dòng họ khi có những điều kiện nhất định, nhất là trường hợp có một số gia đình tách khỏi nơi cư trú cũ của Dòng họ để lập nghiệp ở địa phương mới. Các phái, chi khi quần tụ và phát triển mạnh ở nơi cư trú mới sẽ trở thành đơn vị tín ngưỡng độc lập, tổ chức thờ cúng tổ tiên theo truyền thống, cải biên truyền thống bằng những quy định mới phù hợp hơn với phong tục nơi cư trú mới về từ đường, mồ mả, gia quy... Tuy nhiên, khi Dòng họ cư trú ổn định và lâu đời trong một địa phương thường quy tụ tại Từ đường của người giữ vai Tộc trưởng.

Việc theo dõi và hình thành tộc phả, gia phả sẽ ngày càng phức tạp khi các Dòng họ có nhiều đời, nhiều hộ và nhiều nơi cư trú. Các quy ước trong phả được hình thành và phân chia hệ thống tùy theo điều kiện của từng Dòng họ. Không có sự thống nhất nào có thể hợp lý và tạo được mẫu mực cho mọi Dòng họ. Sự sáng tạo và những điều kiện thể hiện của mỗi Dòng họ trở thành sự đa dạng phong phú của văn hóa, được coi là những khảo cứu, tra cứu có tính lịch sử của dân tộc, các địa phương... Các khác biệt đó cho đến nay thấy ở sự phân hệ (tên gọi các cấp, quy định các đời) không thống nhất ở các phả.

3. Khảo cứu cội nguồn, khát vọng hợp phả

Do những biến cố trong lịch sử (chiến tranh, loạn lạc, thiên tai, cư trú...) việc nối tiếp của một Dòng họ trong quá khứ không được ghi chép liên tục và đầy đủ. Chính vì vậy kết nối phả đời sau với các đời trước, việc sánh chiếu các phả ở các địa phương khác nhau là chuyện phức tạp muôn thuở và luôn có sự băn khoăn, nghi hoặc của hàng trăm giả thuyết khi bàn luận hợp phả. Đó là chưa kể những biến cố phải "mai danh ẩn tích, đổi tộc thay tên" trong nhiều trường hợp vì sự sinh tồn. Hợp phả luôn là những giả thuyết gắn với truyền ngôn hơn là các chứng cứ trong thực tế. Khi cư trú tại một địa phương, các dòng tộc phát triển mạnh lên sẽ gặp bế tắc về sinh kế, do đó di cư tìm nguồn sống mới tạo ra sự phát triển các phái, các chi của Dòng họ tại nơi cư trú mới. Điều kiện sinh kế mới và sự xa cách với nơi cư trú cũ lâu ngày làm cho việc hợp phả trở nên khó khăn. Sau nhiều trăm năm sự liên lạc có thể không còn nữa làm mất đi sự liên kết Dòng họ. Đó cũng là sự phát triển tất yếu của xã hội và lịch sử. Do vậy, dù có cố gắng đến mấy và dù công nghệ phát triển đến đâu chăng nữa thì mỗi người, mỗi gia đình, mỗi Dòng họ đều có cội nguồn, nhưng sự theo dõi và liên kết chỉ có hạn. Lịch sử dân tộc Việt Nam đã có cội nguồn các vua Hùng với truyền thuyết "100 trứng" tượng trưng cho mọi người trong nước đều cùng một gốc, đều sinh trong một bọc nên gọi nhau bằng đồng bào (cùng bọc).

Khảo cứu cội nguồn là khát vọng chính đáng của mỗi Dòng họ. Từ những giả thuyết, những truyền ngôn, những văn tự lưu giữ... mà nhiều Dòng họ đã lần tìm ra cội nguồn phát tích. Tác dụng to lớn của những khảo cứu này là hiểu biết về tổ tiên, mở mang quan hệ Dòng họ, nâng cao niềm tự hào về Dòng họ, quê hương, đất nước. Mặc dù chứng tích có thể không nhiều nhưng sự bao dung, đồng cảm, chấp nhận thông tin cội nguồn luôn là những tín hiệu tích cực trong khảo cứu tổ tiên trên tinh thần "uống nước nhớ nguồn" của mỗi người con trong Dòng họ. 



[1] Nguồn: Phạm Thúc Hồng: Gia phả chữ Hán. Truy cập ngày 15/6/2021 tại  https://hophamvietnam.org/gia-pha-chu-han-va-gia-pha-thoi-nay

[2] Nếu một Dòng họ phát triển nhanh liên tục thì khoảng 3-5 đời sẽ cần một lần phân cấp. Trường hợp các nhánh không phát triển nhanh được là do nhánh có ít con trai hoặc có nhiều người vô tự (không có người nối dõi). Khi đó có thể phải 5-7 đời mới có một lần phân cấp. Mỗi sinh kỳ có 12 cấp tức là cần 36-60 đời, thậm chí tới 72 đời cho những dòng chậm phát triển (tức 12 cấp × 3 đời/cấp = 36 đời, 12 cấp × 5 đời/cấp = 60 đời, 12 cấp × 7 đời/cấp = 72 đời). Mỗi đời thông thường trung bình 20-25 năm. Vậy 36 đời tương đương 720-900 năm; 60 đời tương đương 1200-1500 năm và 72 đời tương đương 1440-1800 năm. 

[3] Theo tài liệu "Vũ tộc thế hệ sự tích" của Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Thế giới, 2004: Phả Dòng họ Vũ Mộ Trạch  ghi được tới 35-40 đời, gồm ngũ chi, bát phái.

[4] Theo Phạm Đình Hổ: Đường An Đan Loan Phạm gia thế phả. Trần Thị Kim Anh giới thiệu và chuyển ngữ. NXB Văn học, 2019 (trang 26).

Chuyện anh Cứng

 

Chúng tôi có 4 người đi trên chiếc xe Uaz cũ biển quân sự sang công tác tại Phnom penh. Thủ trưởng Trần Kỳ Vân (hàm Trung tá) phụ trách chuyến đi, anh Quang (Thượng úy) đóng quân bên Campuchia về đưa chúng tôi đi, tôi (Trung úy) và anh lái xe tên Cứng (Chuẩn úy). Xe đi từ Quân khu 9, nghỉ đêm ở Sài Gòn, sang qua cửa khẩu Xa Mát (Tây Ninh) tiếp giáp tỉnh Svay Riêng, Campuchia.

Khoảng giữa chiều xe đi qua một đoạn đường vắng 2 bên toàn rừng cây thưa, không thấy điểm dân cư, đường không người và xe cộ qua lại. Bỗng gặp chiếc xe tải biển quân sự Việt Nam đi về hướng Phnom Penh đỗ cạnh đường. Đến gần, anh Cứng cho xe tạt vào và xuống xe để gặp anh lái xe tải người Việt Nam. Cả đoàn dừng nghỉ lại ven đường.

Một lúc sau, anh Cứng quay lại cho biết chiếc xe tải bị ‘pan’ cần kiểm tra xem hỏng cái gì và có khắc phục được không. Anh nói anh cần giúp người lái xe vì loại GMC này trước đây anh cũng đã từng lái. Anh Quang kéo Cứng ra nói nhỏ nhưng tôi nghe được: ở vùng này không an toàn, có nhiều toán phỉ phục kích, cố gắng để chúng ta qua sớm kẻo đêm đến rất nguy hiểm. Sau đó anh dặn mọi người cảnh giác.

Anh Cứng quay lại giúp người lái xe. Tôi chẳng hiểu công việc thế nào chỉ thấy 2 người hí hoáy chăm chú… Khoảng hơn 1 giờ sau anh Cứng quay lại nói với Thủ trưởng Kỳ Vân: anh cần lấy xe quay ngược lại khu vực chợ Ponhea Kraek mà chúng tôi đã đi qua (chừng 20km) để tìm mua một loại phụ tùng gì đó thay thế và nhờ anh Quang đi cùng (vì anh ấy giỏi tiếng Khơ-me). Lúc này trời đã gần tối. Thủ trưởng Kỳ Vân đồng ý và dặn cố về sớm. Tôi ở lại cùng Thủ trưởng Kỳ Vân, ông bảo tôi cảnh giác và cùng tản ra ngồi trong bóng cây gần anh lái xe tải. Trời tối hẳn, anh lái xe cũng đành ngồi nghỉ chờ, anh nói xe anh chuyển thiết bị cho các đơn vị Việt Nam ở Campuchia, anh đã đi nhiều chuyến nhưng lần này không may hỏng xe giữa đường…

Khoảng hơn 2 giờ sau, chúng tôi thấy có ánh đèn xe đến gần và anh Cứng đã về. Anh Quang báo cáo với Thủ trưởng Kỳ Vân rằng nếu anh không đi cùng anh Cứng thì không thể mua được vì nhờ biết tiếng Khơ-me nên anh đã tìm được người bán phụ tùng ở xa khu chợ cả chục km. Anh Cứng cùng anh lái xe thay thế phụ tùng và thử máy, xe đã nổ lại được máy, may quá.

Sau đó cả 2 cùng lái hướng về phía Phnom Penh. Xe anh Cứng có thể đi nhanh nhưng không dám vượt mà cố bám theo xe tải đề phòng sự cố hoặc nguy hiểm gì. Sau khoảng hơn 1 giờ nữa, chúng tôi gặp 1 đơn vị bộ đội Việt Nam đóng quân ven đường, anh lái xe đã dừng xin nghỉ lại mai đi tiếp. Từ khi đó anh Cứng phóng nhanh về phía Phnom Penh. Đến muộn, mọi người vẫn chờ cơm vì biết có thể xảy ra sự cố nên khi gặp chúng tôi mọi người đều rất phấn khởi.

Tôi cứ nghĩ mãi nếu hôm đó anh lái xe không gặp chúng tôi, hoặc nếu xe chúng tôi không sẵn sàng hỗ trợ thì  chuyện gì sẽ xảy ra. Chuyện chiến trường, chuyện đồng đội giúp nhau vốn không phải xa lạ. Tôi khi ấy mới đi Campuchia lần đầu nên cứ nhớ mãi về tình người, tình đồng đội giữa những người bộ đội Việt Nam không quen biết ở chiến trường. Về sau tôi được nghe anh Cứng kể rằng thực ra khi đi mua phụ tùng về thì cũng khá nhanh chóng chứ không như anh Quang báo cáo Thủ trưởng Kỳ Vân. Nhưng về muộn vì trên đường các anh đã gặp mấy người dân Campuchia đang khiêng một người ốm đi tìm thấy thuốc. Các anh đã đưa được họ đến nơi họ cần. Việc đó làm mất cả giờ đồng hồ nên đành nói cớ chậm để Thủ trưởng Kỳ Vân chấp nhận.

Thứ Tư, tháng 7 10, 2024

‘Cái bọn ngắn ngày’

Trong chuyến đi du lịch năm ấy đoàn chúng tôi thăm 5 nước Tây Âu. Ở Paris tình cờ gặp một đoàn khác (đi 3 nước) cùng xuất phát từ Hà Nội. Tour 2 đoàn khác nhau chỉ là thời gian ở thêm 2 nước. Thế là mấy ngày sau, chúng tôi đều gặp nhau ở các điểm di sản nổi tiếng trên đường qua các nước.

Ngày thứ 3 gặp nhau, chúng tôi nghe anh bạn (quen từ trước) đi ở đoàn kia phàn nàn rằng đoàn của phức tạp quá, mọi người không chấp hành các ý thức thời gian, lại thường xuyên tranh luận các quan điểm, nhận thức, đánh giá các di sản, từ đó gây ra những mâu thuẫn không đáng có giữa những người đi trong đoàn. Luôn cãi vả những chuyện vặt, mất hết cả tâm trí thưởng thức những sản phẩm du lịch tuyệt vời, mất hết niềm vui trong chuyến đi.

Đoàn chúng tôi cũng đông như đoàn các anh ấy, thành phần cũng na ná như nhau: nhiều người già, ít trẻ. Tất nhiên mọi người đi tuor ghép đoàn thì khác nhau về nghề nghiệp, học vấn, nơi sống, quan niệm, tính cách… Nhưng đi du lịch theo tuor thì biết làm sao, miễn là ta trả tiền mua dịch vụ để hưởng CÁI THÚ ĐI LẠI của ta. Đi là trải nghiệm và khám phá, tức là bỏ tiền ra để mua cái cảm giác mới (ngắm thấy, sờ thấy, nếm thấy, nghe thấy…) rồi từ đó phát hiện thêm những điều chưa biết hay có thêm cảm xúc để tìm tòi, để biết thêm sự khác biệt của tự nhiên và của loài người còn lưu dấu trên địa cầu này. Mặt khác, các điểm di sản về cơ bản ở những thời điểm không bị quá sức chứa (Tourism Carrying Capacity) thì chúng không bị hao mòn, nghĩa là anh ngắm rồi thì tôi cũng vẫn ngắm được (cái ngắm nhìn của anh không làm mất cái ngắm nhìn của tôi) và di sản thì không bị mòn đi hay suy giảm giá trị của nó vì sự ngắm nghía của bọn khách du lịch.

Đoàn chúng tôi thống nhất từ đầu chuyến đi là chúng ta bỏ tiền để mua sự hài lòng nên nhất thiết không làm cho nhau mất vui. Tại sao phải cãi cọ nhau vì những chuyện không đâu để rồi làm phiền khổ nhau và ảnh hưởng đến nhau trong tâm lí hưởng thụ di sản? Liên quan gì mà phát sinh các quan điểm, tính cách, ý thức… để xung đột với nhau trong cùng chuyến đi hiếm hoi của mỗi người?

Anh bạn tôi nhìn mấy người trong đoàn kia nhăn nhó, khó chịu đó, nói nhỏ một câu với tôi: ôi cái bọn ngắn ngày!!!

Thứ Hai, tháng 7 08, 2024

Cô bé quét nhà không sạch

Khi xưa đến thăm nhà bạn, trước thềm nhà tôi nghe thấy bạn đang nhắc nhẹ con gái là quét nhà chưa sạch, phải quét lại đi, việc này dễ bây giờ không làm được thì sau làm gì để kiếm sống? Tôi bước vào, bạn tôi bảo: Oa, cậu nghe thấy rồi à, mình nhắc để lần sau cháu làm cẩn thận.

Sau này gặp cô bé quét nhà ngày ấy, cô nhắc lại chuyện đó với tôi. Tôi thầm nghĩ nhà kinh doanh thành đạt hôm nay (tạm gọi thế) với chuyện quét nhà không sạch ngày xưa có liên quan gì với nhau?

Một lần tôi thử hóa thân vào cô bé quét nhà: cô cầm cái chổi bé quét phần nền nhà không quá 5m2. Tôi bỗng thấy cô bé ấy đang đứng trên chiếc thuyền, tay cầm cây chèo nhỏ giữa một hồ nước trong xanh, còn đám bụi dưới nền nhà là vô số những bọt nước li ti nổi lên trên mặt hồ. Cô khua cây chèo đến đâu thì bọt nổi lên đến đấy, bọt cũ vỡ ra thì bọt mới sôi lên. Cô như đang lướt trên mặt hồ với muôn vàn bọt nước lung linh, cái nào cũng trong suốt, lấp lánh ánh sáng đủ màu, thấp thoáng bóng hình mây nước… Trước khi vỡ ra, nó càng rực rỡ hơn. Cây chèo nhỏ lia qua lia lại, các bọt nước tan ra, nổi lên loang loáng quanh cô. Cô như nàng tiên trên mặt hồ hồn nhiên vui vẻ với vô số bọt nước li ti lấp loáng, gạt đi một cái, cái mới lại lên, phía trước, phía sau… Ôi, những bọt nước lung linh thế làm sao mà dồn chúng lại thành một đống được.

Một lần khác, hóa thân vào cô bé khi quét nhà lại thấy cô đang cầm ‘đũa phép’ giữa đám sao trời. Những ngôi sao lấp lánh quanh cô, cô vung ‘đũa phép’ lên, chúng càng lấp lánh và thế là chiếc ‘đũa phép’ vung lên phía trước, phía sau, đám sao càng rực rỡ. Cái nào cũng đẹp, cũng lung linh huyền ảo, không sao dồn chúng về một phía được.

Tôi chưa có dịp hỏi lại sau này khi làm kinh doanh, các đơn hàng, các vận hành giao dịch trong đầu nhà kinh doanh nay có giống những vì sao hay những bọt nước lung linh không? Sự vận động của nhu cầu trong thương trường mà cây bút trong tay cô có trở thành cái ‘đũa phép’ múa lên giữa các giá trị của hàng hóa và dịch vụ để chúng đến được tận tay những người cần hàng hóa và dịch vụ đó có đẹp như những bọt nước lung linh hay như những ngôi sao lấp lánh cô thấy năm nào?

10/4/2020 – viết lại 7/7/2024

Chủ Nhật, tháng 7 07, 2024

Tình người xa lạ 1

Năm 1975, tôi đi thi đại học ở 1 điểm trường tại thị xã Thanh Hóa (nay không còn nhớ trường nào). Từ nhà đến điểm thi xa hơn chục km nên tôi đi bộ từ sáng sớm. Khi đến điểm tập trung làm các thủ tục, tôi được bộ phận tiếp đón hướng dẫn phòng thi và giúp các thí sinh có nhu cầu ở trọ. Chắc chắn phải ngủ lại 2 đêm (hôm trước đến nhận phòng thi và nghe hướng dẫn thủ tục, ngày hôm sau thi 2 môn, còn ngày thứ 3 thi môn cuối). Tôi không nhớ lắm về các chi tiết cuộc thi, nhưng lại không quên được chuyện đi trọ thi lần ấy.

Một bác phụ nữ cao gầy đưa tôi đến một gia đình có căn nhà nhỏ và nói nhà này chỉ nhận được 1 người. Hồi ấy sau chiến tranh nên thành phố bị bom phá hết, nhà ai cũng tuềnh toàng, đơn sơ. Chủ nhà là anh thanh niên trẻ (có lẽ không bằng tuổi tôi, tôi không biết tên) cởi trần, dáng nhỏ con, khuôn mặt hiền lành, chất phác. Anh chỉ cho tôi nơi nằm là cái gường nhỏ ở góc phòng chính, còn anh ngủ trong buồng (phòng trong). Đại loại rất đơn giản vì chúng tôi đi thi đã mang theo màn và vài vật dụng cần thiết cùng gạo và vài thực phẩm để tự nấu ăn. Nói chung, tôi cũng không quá lo về chuyện thi vì khi đó không mấy người đỗ đại học, chỉ mong cho chút điểm để có thể được đi học trung cấp hay sơ cấp gì đó, hòng tìm cách thoát ly khỏi quê nghèo kiếm cơm là được.

Buổi chiều hôm đó, tôi tự nấu ăn với gói muối vừng và rau mẹ tôi đã chuẩn bị. Anh cho tôi mượn cái nồi nhỏ nấu cơm. Củi thì anh có một chút trong bếp nên bảo tôi cứ việc dùng.

Sáng đi thi, không nấu ăn gì cả vì khi đó mọi người đều không ăn sáng. Đi thi không lo, không sợ, thi là thi thôi. Anh chủ nhà dậy trước rồi, khi tôi chuẩn bị đi thì anh nói: cứ để gạo đó tôi nấu hộ cho, khi thi về kịp ăn để chiều còn thi tiếp may ra nghỉ được chút thì tốt. Tôi vui vẻ nhờ anh.

Trưa về đã thấy anh chuẩn bị một cái mâm nhỏ cạnh giường, anh bảo tôi ăn để còn tranh thủ nghỉ. Tôi thấy mâm có đĩa rau luộc cùng bát nước chấm và mấy quả cà muối. Cơm anh nấu khéo, sạch sẽ. Tôi lặng lẽ cám ơn anh và ăn. Anh chỉ hỏi có làm được nhiều không và để tôi ngồi ăn một mình.

Chiều anh đợi tôi về và đưa gạo để anh thổi cơm chung, ăn chung. Anh nấu, tôi rửa bát. Trong bữa cơm tối, anh ăn nhỏ nhẹ, ít nói chuyện. Tôi chỉ nhớ anh nói là thanh niên nông thôn mà có chí học hành đi thi đại học là khá lắm, sau này có cơ hội nghề nghiệp đỡ vất vả, điều đó nhiều người ở thị xã có điều kiện hơn mà cũng không làm được.

Sáng hôm sau tôi dọn đồ và chào tạm biệt anh vì thi xong là tôi sẽ đi bộ về nhà ăn cơm cùng gia đình nên không quay lại chào anh nữa. Anh chào lại nhẹ nhàng và chúc tôi may mắn.

Tôi cứ nhớ mãi sự tử tế đầy tình người xa lạ của anh dành cho tôi. Việc anh chủ động giúp tôi nấu ăn dường như có sự ngưỡng mộ nào đó. Anh đã ngưỡng mộ chân thành sự học hành và sự cố gắng của người khác mà bản thân không hề có sự đố kị hay so sánh gì. Rất tiếc sau này tôi không có cơ hội gặp lại anh nhưng những gì anh dành cho tôi thật vô cùng quý giá. Sự giản dị, chân thành của anh là tình cảm biết ơn tôi mang theo suốt đời.

Ghi chép 2012, viết lại 7/7/2024

Thứ Bảy, tháng 7 06, 2024

Tình cha


Lần ấy tôi cùng nhóm đi công tác tại Australia. Một hôm có người quen mời cả nhóm đến ăn tối. Khi đến mới biết họ ở cùng nhà với một gia đình khác trong căn hộ thuê chung 2 phòng nên cả 2 gia đình cùng ăn tối chung với chúng tôi. Hai gia đình đều đến từ Hà Nội, đều đang có người còn đi học nên thuê nhà ở chung là hợp lí và họ có vẻ thân nhau, hợp nhau. Đại loại thế.

Bữa tối gia đình giản dị và vui, chủ nhà 2 gia đình đều hiếu khách nên tuy không cao sang lắm – toàn những món tự chế, kể cả rượu – nhưng rất thân tình. Hôm ấy, có một tình tiết tôi không thể quên.

Gia đình người ở chung có 3 người: vợ là người sang học, anh chồng bỏ việc ở nhà (nghe nói trước làm ở ngân hàng nào đó) đưa con gái khoảng 5-6 tuổi sang cùng. Qua Australia, vợ đi học, chồng không có việc lại có con nhỏ nên phải đi tìm việc ở ngoài (tôi đoán là đi dọn rửa cho một nhà hàng nào đó). Chuyện đó cũng bình thường mà.

Khi chúng tôi đến được một lúc thì anh chồng người ở chung nhà mới đi làm về. Mọi người có ý chờ anh về mới ăn tối. Anh vui vẻ, trẻ trung, ăn mặc chỉnh tề, sáng sủa chào hỏi mọi người và cùng ngồi ăn. Bỗng đứa con gái của anh kêu to: “Ba ơi, ba hôi lắm, ba đi tắm đi rồi hẵng ăn, người ba toàn mùi rửa bát”…

Mọi người lặng đi một chút, sau đó nói chuyện để quên chuyện đó, nhưng con bé vẫn không tha: “Ba hôi lắm, toàn mùi đồ ăn, bát đĩa”… Mẹ cháu khuyên nhẹ cháu nên yên lặng để mọi người ăn uống.

Tôi bỗng thấy một cảm giác khó tả: tình cảm gia đình phải theo nhau đoàn tụ để phát triển tương lai ở hoàn cảnh nào cũng có những éo le. Trường hợp này cô vợ trẻ đẹp đi học xa mấy năm, anh ở nhà một mình nuôi con. Đoàn tụ tức là anh phải bỏ nghề và có thể còn hi vọng định cư sau này vì tương lai con cái. Cái khó là phải làm gì để vào được cộng đồng người Australia vì thu nhập, trải nghiệm tiếng Anh…

Việc đó sau này thế nào tôi không rõ nhưng đứa trẻ ngây thơ vô tư ấy thản nhiên nói những điều chắc không ông bố bà mẹ nào không suy nghĩ đến tình cảnh của mình, nghĩ về nỗi lo và tình thương con cái. Phải làm sao để sau này con hiểu hết được tình cha?

Nhân Ngày của Cha[1] năm nay (16/6/2024) tôi bỗng nhớ câu chuyện này và nghĩ nếu đặt mình vào địa vị người cha đó thì mình sẽ phải làm sao? Thật khó quá đi chứ, cách nào để cứu cánh hợp lí gia đình của người cha này?



[1] Ngày của cha (Father’s Day) là ngày lễ tôn vinh những người làm cha. Ngày của Cha phổ biến nhất được tổ chức vào chủ nhật thứ 3 của tháng 6. Trong năm 2024, ngày của Cha sẽ rơi vào chủ nhật, ngày 16/06.


Chuyện lũ mèo nhà tôi (nhiều kì)

Sĩ diện mèo

Hai con mèo Vàng và Mướp chơi thân và rất "sĩ diện".

Một buổi tối nọ, khi ông Tỏn đang làm việc, 2 mèo ngồi bên buồn tênh nhìn nhau. Cả 2 đứa trông thật ể oải và lười biếng... Bên ngoài trời sắp mưa...

Bỗng nghe "chẹt, chẹt..." bên cửa sổ, con Vàng đảo mắt rung râu vụt lao ra và thoáng một cái quay về với mồm ngậm chặt một con châu chấu to bằng ngón tay màu vàng rực, vàng như màu lông của nó. Nó hí hửng đi đi lại lại, có vẻ khoái chí lắm, cố để khoe với mèo Mướp về chiến công của mình...

Mèo Mướp trố mắt nhìn và ban đầu lấy làm phục lắm, nhưng tỏ ra việc đó không quan trọng...

Bỗng "chít, chít..." ngoài cửa sổ. Mèo Mướp cũng đảo mắt rung râu quất đuôi phóng đi nhanh như chớp.

Chỉ một thoáng sau quay về, còn nhanh hơn cả chuyến đi của Vàng. Mướp tỏ ra khoái chí lắm cứ đi đi lại lại nhưng Vàng nhìn theo thì thấy Mướp chẳng có gì mang về...

Con Vàng cho là Mướp chẳng đem được chiến công gì về nên không thèm để ý. Sau mấy bận đi đi lại lại mà Vàng không thèm để ý, Mướp ta mới vừa đi vừa nhe răng và nhếch mép ra, để lộ một con "bọ nhảy" to bằng... hạt mướp màu đen như chính màu lông của Mướp. Thì ra nó đã bắt được con bọ nhảy kêu chít chít bên cửa sổ và khoe với Vàng, nhưng con bọ quá nhỏ nên nó đành phải nhe răng ra cho con Vàng thấy. Và cứ thế nó đi đi lại lại mấy chục vòng trước khi nhè con bọ ra để nghịch.

Để so sánh với chiến công của Vàng, Mướp đã làm được việc tương xứng: con bọ màu đen như màu lông của nó, và bé tẹo.... như thân hình của nó. Đối lại, con Vàng đã bắt được con bọ màu vàng to, xứng với màu và kích cỡ của thân thể của nó.

Quan sát lũ mèo chơi và bắt mồi mới hay chúng là loài sĩ diện ngang với loài... người!