Thứ Bảy, tháng 11 30, 2024

Cục Kinh tế QK9: Tuần đi làm đầu tiên – Những điều không như chúng tôi nghĩ

 

Như tôi đã viết ở các bài trước (mục TC-DP IV), ngày thứ 2, 13-4-1981, chúng tôi từ T82 Trà Nóc đi bộ ra lộ đi xe “tuk-tuk” về Cục Kinh tế QK9.

Đến Cục, một vệ binh dẫn chúng tôi vào Hội trường đối diện cổng lớn ra vào. Cả gần chục sĩ quan-kĩ sư tốt nghiệp Đại học Nông nghiệp I vào, một lát sau có người dẫn chúng tôi về chỗ ngủ, không có màn gặp gỡ chào hỏi của vị lãnh đạo nào.

Chúng tôi được đưa đến nhà ngang lớn có 2 phòng rộng, mái tôn, sàn láng xi măng, mỗi phòng chừng 40m2 nhìn ra kênh rạch Cái Khế. Đã có khoảng 1 tiểu đội vệ binh ở 1 phòng, phòng còn lại phía nam có 12 cái giường sắt mới dành cho chúng tôi. Đang ở nhà T82 đơn sơ đến đây thấy cũng vui vì những cái giường sắt sơn đỏ nâu có lát giường gỗ mới tinh, lại rộng cỡ 1,2m được xếp thành 2 dãy có lối đi ở giữa. Chúng tôi mỗi người chọn 1 giường.

Mấy ngày ở cũng không thấy ai đến thăm hay yêu cầu gì về công việc. Chúng tôi chỉ được dẫn nơi ăn, vệ sinh rồi chờ tiếp công việc. Đi loanh quanh trong doanh trại thì thấy có nhiều cây hoa dừa, hoa mười giờ mọc tự nhiên, hoa đỏ, phớt hồng đẹp. Có người nhổ vài cây rồi cho đất vào những thứ có thể trồng được nhặt quanh trại như vỏ đạn, bát sứt, thùng sắt thủng… coi như có chút trang trí nơi ở. Các buổi chiều tối, chúng tôi đi dạo ra phía bắc Cần Thơ cách chừng hơn 1 km ngắm các chuyến phà đến và đi. Thú vị nhất là nhìn các bác xe lôi nhanh nhẹn đón khách đi vào thành phố trên những chiếc xe cũ mà sạch sẽ.

Vào ngày thứ 5, chúng tôi được mời đi nhận quân trang hè gồm 1 bộ đồ dài tay vải nilon dành cho sĩ quan, mũ nhỏ có sao, một đôi giày da kiểu Cô-xư-ghin Nga có tất, một áo đi mưa, không có mũ cối (từ nay không ai đội mũ cối nữa, ngoài đường thấy đội mũ cối là biết ngay là bộ đội Bắc mới vào). Người ta nói đây là quân trang mùa hè, đến mùa đông sẽ có quân trang sĩ quan khác. Thế là chúng tôi có áo quần mới, nhiều chất nilon nóng nhưng nhẹ và bền. Có đôi giày da to nặng nhưng cũng thay thế giày vải đã cũ từ Bắc mang vào. Bộ đồ cỏ úa 4 tháng đã mặc cũng coi như kết liễu.

Tuần đó, cuối giờ nghỉ một chiều có ông cỡ trên 50 tuổi không đeo quân hàm ghé chỗ chúng tôi nhìn nơi ở và hỏi mấy câu bâng quơ. Chỉ như tình cờ nên anh em chúng tôi chỉ mặc đồ lót ngồi gẫu nên không ai chú ý lắm. Cháu Hải (con chị Hai nuôi quân) chừng 7-8 tuổi đến chơi, chàng Thiện hỏi Hải: ông ấy là bố mày à? Nó nghiêm túc: Thượng tá Bảy Sa phó Cục phụ trách chính trị đấy, không phải bố tui. Cháu Hải cùng mẹ ở phòng gần phía Bếp, buổi sáng đi học nhưng các buổi chiều hay ghé chỗ chúng tôi. Hỏi qua nó cũng biết rất nhiều thông tin, nhất là các ông lãnh đạo trong Cục. Cháu mắt hơi nhập nhòe, người nhỏ thó gầy gò nhưng rất nhanh nhẹn. đôi khi nói chuyện với nó vui ra phết, chỉ tội nó không hiểu được hết các chú sĩ quan đùa tếu lối Bắc nên lúc lúc lại khùng bỏ đi.

Sáng thứ 2 tuần sau, vệ binh báo chúng tôi lên phòng để nhận công việc. Phòng thì chúng tôi biết có biển treo trước cửa. Nguyễn Hữu Đào về Phòng Tài vụ thì đã có người đón ngay hôm mới đến về ở cùng anh em trong phòng gần khu nhà ăn. Bính – Giang – Ảnh về phòng Kế hoạch, số còn lại về Phòng Nông nghiệp.

Phòng Kế hoạch là một căn nhà rộng có nhiều cửa sổ, phía sau là hàng rào, ngoài hàng rào có nhà khách của Cục quay ra Quốc lộ 4. Chúng tôi vào chào mọi người và được một anh dẫn vào ngồi 3 cái bàn trống. Trong phòng đã có 5 bàn có người ngồi: 2 vị là sĩ quan và 3 anh trang phục dân sự. Các bàn gỗ cùng kiểu kê không liền nhau ngồi theo hướng quay ra cửa.

Thiếu tá Nguyễn Hữu Chước, trưởng phòng giới thiệu với chúng tôi: đồng chí Đại úy Bùi Phước, phó phòng, các đồng chí trợ lý Nguyễn Thanh Tâm, Nguyễn Hồng Ngọc và Nguyễn Văn Trung. Tôi nhận thấy anh Tâm cười khẽ gật đầu chào chúng tôi khi được giới thiệu, nhưng không biết ai là Ngọc, ai là Trung. Tiếp đến ông Chước nhìn vào giấy đọc tên 3 chúng tôi theo kiểu đồng chí Lê Hữu Ảnh, tôi đứng dậy để mọi người biết và cứ thế với Giang và Bính. Ông cũng không tự giới thiệu. Đấy là lần đầu tiên chúng tôi gặp nhau.

Thiếu tá Chước nói chúng tôi sẽ làm ở đây theo sự phân công của Cục Cán bộ Quân khu và nói qua vài ý về Cục Kinh tế đang ổn định tổ chức, quân số còn tiếp tục được bổ sung. Nhiệm vụ của Cục thì đã bắt đầu triển khai, hiện toàn Quân khu, số nông trường, nông trại đang vào vụ rất khẩn trương…

Tiếp theo, ông Chước đề nghị anh Nguyễn Thanh Tâm tổng hợp tình hình trong tuần. Chúng tôi nghe thấy những con số được anh Tâm  báo cáo theo các tỉnh về số nông trường, nông trại, về tình hình gieo sạ lúa. Anh Tâm nhấn mạnh vài số liệu mới so với tuần trước. Mọi người nghe xong báo cáo của anh Tâm chừng 15 phút là hết. Không còn thấy triển khai công việc gì, ông Bùi Phước cà nhắc đi ra cửa. Tiếp đó ông Chước cũng đứng dậy nói chúng tôi từ nay hàng ngày lên đây ngồi để làm quen với công việc, bây giờ công việc thì chưa có gì, nhưng sắp tới sẽ có nhiều việc phải chuẩn bị để đương đầu với nhiệm vụ cấp trên giao.

Thế là hết buổi giao ban, mọi người ngồi ra bàn uống nước, cũng không ai trao đổi hỏi han gì chúng tôi. Chúng tôi ngồi nghe họ bàn chuyện và im lặng, chỉ có anh Tâm nhẹ nhàng hỏi một số chuyện như vào Nam hồi nào, tốt nghiệp ngành gì. Nghe chuyện, uống trà, nhìn ngó nhau đến khoảng gần 10am, anh Tâm bảo chúng tôi cứ về phòng nghỉ, ở đây cũng chưa có việc gì, các buổi sáng lên để nghe tình hình và nắm bắt công việc.

Như vậy Phòng chỉ có 2 lãnh đạo và 3 chúng tôi là sĩ quan. Anh Tâm cho biết các anh đều mới tốt nghiệp ĐH Cần Thơ, được gọi tham gia quân đội theo chế độ quân nhân quốc phòng.

Tôi rất nhớ tuần đầu này vì chúng tôi đều đang háo hức chờ đón công việc, được phát quân trang mới, được gặp đơn vị mới… Nhưng hầu như mọi điều trong thực tế đều không như những gì tôi nghĩ: họ đón rất sơ sài, không thân mật mà cũng không nghiêm túc. Mọi thứ xuề xòa đơn giản kiểu người Nam. Tôi thấy ông Chước nói mà chẳng ai quan tâm gì, chỉ có anh Tâm nghiêm túc mở giấy đọc cẩn thận mấy con số. Mọi người nghe nhưng dường như chẳng có phản ứng gì. Thực ra mấy hôm trước tôi nghĩ nếu người ta yêu cầu phải giới thiệu gì đó về cá nhân thì tôi cũng đã chuẩn bị vài ý để nói. Nhưng không như chúng tôi nghĩ, buổi đi làm đầu tiên thật vô cùng nhạt nhẽo.

Thế là chúng tôi có trải nghiệm của ngày đi làm đầu tiên trên cương vị kĩ sư-sĩ quan. Từ đây, tôi sẽ kể rất nhiều chuyện theo kiểu nhớ gì viết nấy về những con người trong đơn vị, về những công việc còn giữ được ấn tượng tốt và vui, về những ngày chúng tôi tươi trẻ trong cuộc đời anh bộ đội vùng phương Nam phóng khoáng… Tuy tuần đầu không như chúng tôi nghĩ, nhưng lại cho dấu ấn về dự cảm mơ hồ trong công việc, dự cảm những năm tháng không định hướng cụ thể. Nếu có ai hỏi tôi những ngày ấy có cảm thấy tiếc nuối vì sự mơ hồ lãng phí cuộc đời không thì thật sự tôi không biết trả lời thế nào cho thỏa. Đến nay tôi cũng chỉ nghĩ là CHÚNG TÔI ĐÃ CÓ MỘT DUYÊN PHẬN GẮN VỚI THỜI CUỘC NHƯ HÀNG VẠN CON NGƯỜI CÙNG THỜI!!!    

 

Thứ Ba, tháng 11 26, 2024

Từ “Tằm bèn tủng”… đến “Ruồi kia vẫy”…

(Nhân nhớ lại chuyện dạy con thời trẻ)

Hồi Thảo Tủn còn bé tí, khoảng hơn 1 tuổi, bố lôi trong kí ức ra những câu thơ còn nhớ khi phải học thuộc lòng hồi lớp 1. Hai bài còn nhớ đến nay là bài “Nhện và Tằm”[1] và bài “Con ruồi”[2]. Bố đọc trước, con nhìn miệng đọc theo. Buồn cười nhất là bố đọc: “Chị sao chậm gớm chậm ghê”, con nhại: “Chị sao chậm hớm, chậm hê” (không mở được phụ âm g nên chuyển sang h). Rồi đến câu khó, bố đọc: “Tằm bèn thủng thỉnh đáp rằng”, con đọc theo: “tằm bèn tủng” rồi dừng một lúc lại “tằm bèn tủng…”. Thế là phải ngắt thành 2 câu như sau: “tằm bèn tủng, tằm bèn tủng” tiếp đến: “Tỉnh đáp rằng, tỉnh đáp rằng”. Các câu sau lại suôn sẻ nhưng câu chuyện “Tằm bèn tủng…” cứ đi dọc theo câu chuyện của gia đình theo năm tháng.

Còn bài Con ruồi thì không bị trục trặc gì về cách đọc nhưng bà Tủng bảo bố dạy con kiểu gì mà nói phân với cả gio, rồi vi trùng với cả bệnh tật, nó thì biết gì? Nhưng vì để trẻ biết nghe theo vần, theo âm điệu thì nhớ đến hồi đi học năm xưa mà nhớ chứ đâu có câu nệ gì chuyện nội dung chứ. Vần là chính và cái mà mình nhớ là chính!

Bây giờ lại có chuyện hay mới trên bàn ăn.

Cụ Tổn (Tôn) 91 tuổi đang ngồi ăn thì chộp được con ruồi trên trán. Cụ Tổn vui lắm cười sung sướng. Ông Tỏn cũng cười ngất ngất bịa ra là ruồi bị dính cẳng vào các nếp nhăn nheo trên trán cụ nên không rút cẳng ra được. Thế là bị bà túm cẳng bắt sống. Đúng là một chuyện hay thật là hay.

Thế là lại nhớ chuyện “Tằm bèn tủng…” xưa để sáng tác bài thơ mới.

Đoạn đầu phỏng bài Con ruồi

 

“Con ruồi đậu ở vành tai

Bỗng dưng nổi máu ra oai nhảy liều

Rơi ngay vào trán nhăn nheo

Chưa kịp rút cẳng đã keo dính rồi”

 

Đoạn sau tiếp phỏng bài Nhện và Tằm

 

“Cụ Tổn nhăn trán bắt ruồi

Bà Tủng thấy thế vừa cười vừa khen

Chưa già nên vẫn nhiều khôn

Trán nhăn một cái thành luôn bẫy ruồi

Ruồi kia vẫy/cánh kêu trời

(Đọc kiểu Tủn: Ruồi kia vẫy - Ruồi kia vẫy

Cánh kêu trời - cánh kêu trời)

Nay ta gặp nạn dưới ngôi trán già

Rằng ai chớ dại như ta

Oai mà mắc bẫy oan gia có ngày

Oai mà vô ích làm chi!



[1] Bài NHỆN VÀ TẰM
Nhện kia chăng lưới bẳt ruồi
Thấy tằm kéo kén vừa cười vừa chê:
Sao anh chậm gớm chậm ghê
Làm có cái kén rê rê hàng ngày
Trông tôi thoáng cái xong ngay
Chỉ cần giây lát là đầy mạng chăng
Tằm bèn thủng thẳng đáp rằng:
Làm nhanh chóng hỏng cũng bằng như không
Thà rằng chịu khó lâu công
Làm đâu được đấy thong dong vội gì
Vội mà vô ích làm chi!

Sau này sách Giáo khoa in 1977 có sửa lại các câu cuối như sau

“Thà rằng chịu khó nhọc công

Làm đâu được đấy sức không phí hoài

Làm bền làm tốt mới tài

Có chi hay dở mà đòi hơn thua"

 [2] Bài học thuộc lòng lớp 1 (không có tên bài) có một dòng chữ Ghi nhớ: Cần phải diệt ruồi. 

“Con ruồi đậu ở chuồng phân
Rồi bay đến đậu thức ăn vật dùng
Đem theo bao giống vi trùng
Sinh nhiều bệnh tật vô cùng nguy nan
Thức ăn phải đậy lồng bàn!”

 

Thứ Bảy, tháng 11 23, 2024

Bài 14: Những trải nghiệm và học hỏi

 

Từ 15-12-1980 nhập ngũ tại sân đình làng Mông Phụ đến 15-3-1981 rời khỏi bãi đất đầu làng Mông Phụ về Hà Nội để 17-3-1981 lên tàu đi Nam, chúng tôi có 3 tháng bên nhau. Trừ mấy ngày được về quê nghỉ Tết Tân Dậu, chúng tôi có hơn 80 ngày đầu quân ngũ trên vùng đất linh thiêng vượng khí thuộc phiên hiệu đơn vị C4, D354, E826.  

Tôi muốn kết thúc những chuyện “Những ngày đầu quân ngũ” mục Thời cuộc và duyên phận bằng vài tổng kết dưới đây coi như là những trải nghiệm và học hỏi. Chúng tôi khi ở trường đại học chỉ có được mảnh ghép cuộc sống khá chật hẹp, khép kín. Mặc dù có được những ngày đi lao động thực tế hay đi thực tập giáo trình, thực tập tốt nghiệp thì cũng chỉ là các quan sát cuộc sống với những gì mình học để đối chiếu so sánh, nhưng chưa từng được chủ động vì luôn có thầy, có bạn, có những quy định phải làm. Nay chúng tôi đã được nhiều tự do để nhận thấy cuộc sống một cách độc lập nên có những trải nghiệm thú vị để có thể nhận ra một chút giá trị mà chúng tôi có được trong mỗi con người.

Lần đầu tiên chúng tôi được tiếp xúc với cả gần trung đoàn những trí thức trẻ bên nhau. Họ đến từ nhiều ngành nghề bậc đại học vừa tốt nghiệp, lại có cả anh em từ nước ngoài. Tập hợp nhau lại đã thành cả “cả núi” tương tác, chia sẻ, trải nghiệm quý. Chúng tôi có dịp nhận ra mình so với “thiên hạ” ở nhiều điểm dưới đây:

Bài 13: Chuyện “tếu táo” bên những quán nước chè

 

Ngồi quán uống chè là chuyện hàng ngày của bộ đội khi ấy. Chúng tôi được tự do đi lại, hơn nữa do đơn vị không đủ nước uống nên cứ ăn xong là ra quán ngồi uống nước, nói chuyện gẫu, ăn kẹo…

Quán sá ở đây đều tạm bợ, chủ yếu là những người dân thôn Văn Minh ra đồi cây gần doanh trại che tạm các lán sơ sài để bán nước chè xanh, chè chén, mấy lọ kẹo dồi, chè lam… Trước khi chúng tôi doanh trại thì chưa có, gần Tết thấy mọc lên vài quán, sau đó qua Giêng thì bắt đầu có thêm khoảng gần chục quán. Có lẽ trước đó người ta không cho dân bán hàng cạnh doanh trại hoặc doanh trại cấm tân binh ra quán chăng? Nhưng từ khi chúng tôi đến thì không cấm được nên người dân mở quán kiếm thêm chút thu nhập.

Thứ Sáu, tháng 11 22, 2024

Bài 12: Bác chăn bò và tài dân vận của Trần Hữu Giang


Việc cải thiện bữa canh rau nấu trai diễn ra được khoảng chục ngày thì chúng tôi dừng, một phần vì ăn nhiều trai cũng chán, phần khác do một số người dân biết phát hiện của chúng tôi nên đã “khai thác” thường xuyên hơn và sự khan hiếm tất nhiên xảy ra. Trời có cho ai mãi được đâu, thế cũng đủ. Chúng tôi được thiên nhiên ban tặng sản vật để hưởng thụ trong hoàn cảnh ấy đủ vui, đủ khoái lạc rồi.

Một hôm trên đường đi quán uống chè về, cả bọn gặp bác nông dân đang dắt 1 con bò vàng nhỏ gặm cỏ ven đường. Giang lên tiếng chào, bác nông dân cười chào lại. Nói chuyện linh tinh một hồi, Giang hỏi bác có con gái ở cùng bác không rồi gạ bác cho chúng tôi vào chơi. Bác nông dân đồng ý và dắt bò về, chúng tôi cùng đi nói chuyện với bác.

Bác chắc khoảng gần 60 tuổi, người nhỏ, hom hem kiểu đói ăn hay ốm bệnh gì đó. Chiếc áo cũ màu vàng đất đồi gần như lông con bò có lẽ không đủ ấm với bác. Con bò gầy còm và bác cũng gầy đến độ hom hem nhưng lại như rất ăn ý và hợp cảnh. Bác nói chuyện chậm rãi, cười rất hiền lành chân thật. Trên đường đi, Giang là người nói chuyện chính, chúng tôi đi theo nghe và phụ họa đôi câu.

Thứ Năm, tháng 11 21, 2024

Bài 11: Phát hiện nguồn thực phẩm quý và uống rượu Rằm Tháng Giêng trên đồi cây


Sau khi được nghỉ Tết về đơn vị, chúng tôi ngồi chờ phân công trong tình trạng tự do rong chơi hàng ngày. Nhóm chúng tôi bắt đầu khám phá cảnh quan hồ đầm quanh doanh trại.

Đi chừng gần 500m là đến 1 đầm lớn mà ở sân trên đồi doanh trại cũng nhìn thấy về phía đông. Nay ở Google Map thấy có tên đầm Dương. Cả nhóm ăn sáng xong đi dạo ra phía đầm. Năm ấy sau Tết không rét lắm, sang Giêng lại có nắng ấm. Cả bọn đến đầm lớn, nước trong, gió thổi gợn sóng vào bờ phía chúng tôi đứng ngồi ngắm hồ. Anh Mo Lan nói đầm này thông đến tận hồ Suối Hai và anh bảo: ở đây có thể có rất nhiều hến, để tôi thử lội xem. Xin nói thêm là anh Lan lúc này đã có vợ, anh cưới vợ vào ngày 29 Tết, nhà anh cách nhà tôi chưa đầy 10km nên tôi đã được vào dự đám cưới anh chị. Mấy ngày sau, anh chị đến chơi và ăn Tết với gia đình tôi.

Thứ Ba, tháng 11 19, 2024

Bài 10: Đi thăm các điểm quanh doanh trại

 

Sau “sự cố Khoa mục AK”, chúng tôi không phải tập trung huấn luyện gì nữa. Hàng ngày đi dạo chơi quanh vùng, trưa về ăn ngủ rồi chiều lại đi đâu đó… Dưới đây là 2 mẩu chuyện tôi còn giữ được nhiều ấn tượng nhất.

Thứ Hai, tháng 11 18, 2024

Bài 9: Đi tải gạo – phát hiện năng khiếu mới

 

Vào những ngày đầu chúng tôi mới vào doanh trại, khi chưa được trả quân hàm sĩ quan, chúng tôi bị “coi như tân binh” nên được huấn luyện và thực thi các quy định rất vô lí như tôi đã nói ở các phần trước. Dưới đây là một chuyện trong số đó, nhưng đối với nhóm chúng tôi thì lại là một kỉ niệm đáng nhớ.

Một buổi sáng cuối trước ngày 20-1-1981[1], chúng tôi được yêu cầu mang theo balô (ba lô rỗng) đi bộ xuống Sơn Tây tải gạo cho Trung đoàn. Cho đến nay tôi cũng không rõ đây có phải là yêu cầu huấn luyện hay chỉ là tình huống cho việc đơn vị thiếu phương tiện vận chuyển. Nếu cả tiểu đoàn đi lấy gạo thì cũng giải quyết được khẩu phần ăn cho đơn vị được cả tháng.

Thứ Sáu, tháng 11 15, 2024

Bài 8: Đi chợ Mía và thăm chùa Mía

 

Mấy ngày đầu tiên ở làng Mông Phụ chúng tôi đi dạo quanh làng, nơi đầu tiên đến là chợ Mía và thăm chùa Mía.

Chợ là nơi thể hiện văn hóa địa phương tổng hợp nhất, khách quan, toàn diện, hiện thực. Chỉ cần thăm chợ địa phương ở bất kì nơi nào mình đến sẽ thấy ở đó hồn quê hiện về: ta nhớ mẹ ta, chị ta khi gặp các bà, các chị ở chợ quê xa lạ ấy. Hình ảnh chợ quê nơi xa nào đấy sao vẫn rất giống quê ta thuở tuổi thơ mỗi người. Còn sản vật địa phương và những món ăn dân dã nơi ấy là cái để ta so sánh với quê nhà, rồi chúng ta mắc bệnh làm ồn ào lên giọng “ở quê tớ ấy à”[1] như là tiếng khoe tự hào nơi mình xuất thân.

Thứ Năm, tháng 11 14, 2024

Bài 7: Những trải nghiệm “tếu táo” đầu tiên của những chàng sĩ quan-kĩ sư kinh tế nông nghiệp

  

Tôi nói rõ thêm là nhóm 7 người cùng lớp đi bộ đội ở Trung đoàn 826, nhưng Âu Dương Đức là kĩ sư-lính nên tập trung ở tiểu đoàn khác và không có tên trong những trải nghiệm “tếu táo” tôi viết ở đây. Trong số 6 chàng thì có Nguyễn Hữu Đào khi học đại học là ở Tổ 2, còn lại đều ở Tổ 1 (riêng Cao Ngọc Đức sau năm thứ 3 chuyển sang Tổ 3). Cùng tổ học tập tức là cùng ngủ chung phòng trong kí túc xá. Sự cố kết của chúng tôi một thuở có nền tảng lâu dài. Sau đó cả 6 chúng tôi đều đi Nam trên 1 chuyến tàu, Lê Ngọc Lan đi QK5, Cao Ngọc Đức đi QK7, Bính - Giang - Đào - Ảnh vào QK9. Tiếp đó Âu Dương Đức cũng vào QK9 nhưng đi bằng tàu biển Thống nhất không đi tàu hỏa như nhóm chúng tôi.

Thứ Tư, tháng 11 13, 2024

Bài 6: Một số chuyện khó quên khác

  

Chuyện quanh bếp ăn tiểu đoàn

Từ sau khi bỏ huấn luyện, bộ độ hàng ngày đi chơi loanh quanh trong vùng rồi chờ đến giờ thì đi ăn. Vì tự do đi lại không ai quản được nên nhiều người bỏ cơm, đến giờ ăn chỉ có số có mặt vào lấy hết những phần cơm đã chia ở bếp tiểu đoàn. Đại loại nhóm nào có người đi vắng thì lấy cơm của họ, nhưng có nhóm đi vắng nhiều người thì cuối cùng là ai cùng vào lấy, mạnh ai lấy đó, nhưng vì thừa nhiều nên không có ai mất cơm cả. Chuyện lao vội vào lấy cơm, lấy tất cả mọi thứ rất nhốn nháo đáng xấu hổ. Tụi “anh nuôi” thấy thế cũng chẳng nói gì. Anh nào đến chậm thì chắc chắn biết không còn cơm để dành cho mình nên không đến nữa hoặc tìm nhóm quen của mình mà ăn chung.

Cơm bộ đội thì nếu ăn mỗi người 1 suất cũng đủ, không đói. Tiêu chuẩn lương thực cao 21kg/tháng, nhưng thức ăn thì có rất ít. Khi ăn không hết cơm, bộ đội cho cơm vào mũ cối đem ra các quán ven đồi đổi lấy nước chè xanh, kẹo dồi, thuốc lá… Các quán dạo này mọc quanh lán trại ngày càng nhiều, ngồi tếu táo uống chè tán gẫu vui đáo để, nhất là một số quán có mấy cô gái thôn nữ xinh xắn bán chè xanh…

Những ngày này bộ đội được chia khẩu phần bị ăn bớt rất tệ. Một số anh em phản ứng kêu gọi yêu cầu kiểm tra bếp ăn. Có người thấy cán bộ khung lấy cơm về có suất cơm với rất nhiều thức ăn ngon trong khi cùng tiêu chuẩn như nhau. Anh nuôi quân nói một câu tôi còn nhớ đến tận bây giờ: “miếng ăn là miếng nhục nhưng miếng nhục là cục thịt nạc”. Nghĩ đến mà não lòng!

Bài 5: Khoa mục bắn súng AK-47 và Báo động di chuyển đêm mưa gió

Khoa mục bắn súng AK-47

 

Buổi sáng ấy, tiểu đoàn tập trung 2 đại đội nghe Khoa mục bắn súng AK-47. Phụ trách tập hợp anh em ngồi trong sân doanh trại. Một trung úy hướng dẫn, có cái bàn kê và khẩu AK[1] với Khoa mục được giới thiệu 4 phần: Cấu tạo - Tính năng - Sử dụng - Tháo lắp và Bảo quản.

Phụ trách khoa mục giới thiệu phần cấu tạo nhanh, có vẻ tự tin kiểu thuộc bài. Thấy bộ đội yên lặng không nói gì, anh ta có vẻ hưng phấn. Phần tính năng, giáo viên nhấn mạnh tính liên thanh và điểm xạ của AK. Đang cao hứng thì một bộ đội giơ tay xin hỏi: Thưa đồng chí giáo viên AK là gì ạ? Anh giáo viên im lặng, lúng túng 1 hồi. Bên dưới bộ đội ồn ào, cười và nhốn nháo. Có tiếng huyết sáo trêu chọc. Giáo viên đỏ mặt trả lời: Các đồng chí đừng nghĩ là tôi không biết nhé. Tôi có ghi AK trong sổ tay để  ở nhà. Đừng tưởng tốt nghiệp đại học và tốt nghiệp đại học nước ngoài về mà coi thường chúng tôi nhé. Đừng tưởng chúng tôi không biết AK là gì. Tôi sẽ về lấy sổ ra đây để các đồng chí thấy.

Bộ đội càng cười to, nhốn nháo còn giáo viên lúng túng không biết xử lí thế nào. Bộ đội bỏ hàng ngũ cười ngả nghiêng và tự giải tán buổi khoa mục. Anh hướng dẫn khoa mục tức tối nhìn theo mà không làm gì được. Cũng từ đó phát sinh các vấn đề giữa cán bộ quản lý đơn vị và bộ đội.

Thứ Năm, tháng 11 07, 2024

Bài 4: Doanh trại trên đồi bạch đàn thôn Văn Minh

 

Những ngày đầu chúng tôi vào doanh trại đơn vị huấn luyện tân binh thuộc Tiểu đoàn 354, Trung đoàn 826 (có lẽ thuộc Quân khu Thủ đô). Doanh trại đóng trên những quả đồi trồng cây bạch đàn thưa thớt thuộc địa phận thôn Văn Minh, xã Cam Thượng, Ba Vì[1], Hà Nội. Khu đồi xa dân cư thôn Văn Minh chừng 1km, cạnh các đồi có một đầm tự nhiên lớn. Có khoảng hơn chục lán trại dành cho 4 đại đội (mỗi đại đội 3 lán). Chúng tôi ở Đại đội 4, các bạn chưa qua sĩ quan dự bị ở Đại đội 3.

 


Google map cho thấy từ đình Mông Phụ đến chỗ đóng quân là 4km. 
Đầm tự nhiên cạnh nơi đóng quân tên là Đầm Dương thôn Văn Minh có nhiều trai hến.

Thứ Ba, tháng 11 05, 2024

Bài 3: Nhập ngũ nơi đất thiêng vượng khí


Chúng tôi chỉ biết là xe đưa đến Sơn Tây – khi đó Sơn Tây được mệnh danh là “Thủ đô của lính” vì có rất nhiều trường quân sự, nhiều đơn vị bộ đội đóng quân ở đây.

Xe đưa chúng tôi đến cổng một sân đình lớn, rộng rãi. Hỏi mới biết là đình làng Mông Phụ xã Đường Lâm, Sơn Tây. Đội đưa tiễn Đoàn Thanh niên chào suông mấy câu rồi vội vã cuốn cờ ra về không tỏ cảm xúc gì ngoài biểu thị việc “tống tiễn” đã xong. Mấy cán bộ nhận quân tập hợp chúng tôi thành hàng lối, điểm danh, phổ biến ngắn và phát quân trang tân binh. Quân trang gồm quần áo lính, bộ lót, ba lô, chăn chiên, chiếu, bát sắt tráng men, mũ cối có sao, giày vải có tất, thắt lưng, mỗi thứ 1 cái (nghĩa là khi giặt thì phải chờ khô mới có cái thay). Sau đó là phân theo từng nhóm về nhà dân ở và hướng dẫn nơi ăn tạm tại sân kho HTX gần đó. Mọi người tranh thủ thay quân phục mới rồi đi ăn trưa. Nhìn đội ngũ đeo ba lô có cái chiếu vòng quanh sau lưng đi thành hàng cũng vui mắt, không còn lốm đốm mỗi đứa 1 màu như khi mới xuống xe.

 

Đình làng Mông phụ (ảnh trên Google)

Thứ Hai, tháng 11 04, 2024

Bài 2: Tạm biệt Đại học Nông nghiệp I – Chúng tôi lên đường


Sau “lễ tốt nghiệp” khóa 2 Sĩ quan dự bị, ngày 9-10-1980 chúng tôi trả quân trang, nhận các giấy tờ rồi về quê chờ công tác. Tôi băn khoăn một chút về việc trả lại quân trang (một bộ quần áo dài, một mũ, một giày, một thắt lưng, chỉ có đôi tất chân là không thu lại) sau 3 tháng luyện tập mà thu về thì còn dùng sao được nhỉ, ai sẽ là người dùng lại?

Chỉ 1 tháng sau, UBND xã tôi gọi tên lên giao cho tôi giấy báo tuyển quân sự đợt 2-1980. Giấy được gửi từ Đại học Nông nghiệp I qua UBND xã Đồng Tiến (Số 1/ĐH1/TC do Hiệu phó Nguyễn Đức Bình kí ngày 6-11-1980) yêu cầu địa phương và cá nhân chấp hành gấp theo lối vừa động viên lại vừa như “uy hiếp”.

Thứ Sáu, tháng 11 01, 2024

Bài 1 – Huấn luyện sĩ quan dự bị - duyên phận sĩ quan chính thức

 

Sau tốt nghiệp đại học, chúng tôi có những ngày nhàn tản cuối tháng 5/1980. Một số người thạo tin nghe ngóng, bàn luận chỉ tiêu phân công công tác. Đa số nằm khàn chờ ‘số phận’ ban xuống. Tưởng đã an bài theo kiểu cán bộ nhà nước hưởng lương để các chàng trai ‘ngờ nghệch’ như chúng tôi sẽ vào cơ quan địa phương (tỉnh, huyện) hay cục, vụ, viện, nông lâm trường, trạm, trại… gì đó để nhận công tác suốt đời thì cuộc sống lại ‘bẻ ghi’ để chúng tôi sang hướng khác.

Tôi về nhà được mấy ngày thì nhận được quyết định của Hiệu trưởng (kí 4-6) yêu cầu phải có mặt vào 26-6 để tham gia huấn luyện sĩ quan dự bị.

Thứ Ba, tháng 10 29, 2024

Cục Kinh tế QK9: Tổ chức và nhân sự

Cục Kinh tế Quân khu 9 và đơn vị mới thành lập. Chúng tôi đến (ngày 13-4-1981) thuộc nhóm cán bộ sĩ quan đến đợt 1, sau đó ít lâu thì có thêm các sĩ quân và hạ sĩ quan bổ sung đến từ ĐH Cần Thơ và các ĐH khác.

Thủ trưởng Cục

Cục phó Phụ trách Chính trị Cục là Thượng tá Nguyễn Văn Bảy (Bảy Sa), Cục phó tham mưu là Trung tá Trần Kì Vân (Ba Kì Vân), Cục phó Trung tá Nguyễn Nhật Quang (Hai Nhật Quang). Khoảng cuối 1981 thì mới có Cục trưởng là Đại tá Nguyễn Thanh Vân (chuyển từ Quân khu 4 vào). 

Phòng Tham mưu – Kế hoạch

Trưởng phòng: Thiếu tá Nguyễn Hữu Chước (Hai Chước), phó phòng: Đại úy Bùi Phước.

Các sĩ quan: Bính, Giang, Ảnh (ĐH Nông nghiệp I), sau này có Chuyên (ĐH KTQD)

Hạ sĩ quan: Thoải (ĐH KTQD)

Các nhân viên quốc phòng: Đến từ ĐH Cần Thơ: Nguyễn Thanh Tâm, Nguyễn Hồng Ngọc, Nguyễn Văn Trung, ĐH KTQD: Luận.

Phòng Nông nghiệp

Phụ trách: anh Bảy Sinh

Các sĩ quan: Nhóm ĐH Nông nghiệp I: Châu, Thiện, Lý, Thế, Hải (Kì Lừa), Hải (con), Nguyễn Văn Nên, Tuấn (ghe), Khanh. Sau này có thêm Lẫm (ĐH Nông nghiệp III), Giang Thành Phong, Nguyễn Thành Long (ĐH Cần Thơ).

Hạ sĩ quan: Sơn (ĐH Cần Thơ) và 1 anh bạn nữa chưa nhớ tên cũng từ ĐH Cần Thơ

Nhân viên quốc phòng: Các anh đến từ ĐH Cần Thơ: Nguyễn Văn Minh, anh Giản (đánh bóng chuyền giỏi), anh Hà.

Phòng Lao động tiền lương:

Trưởng phòng: Đại úy Tám Khai

Sĩ quan: Bình (Hũ) (ĐH KTQD)

Hạ sĩ quan: Thịnh (ĐH KTQD)

Phòng Xây dựng cơ bản

Trưởng phòng: Thiếu tá Quân (Giang nhắc là Lâm Hồng Quân)

Phó phòng: Đại úy Năm Nhân

Sĩ quan: Thượng úy Nguyễn Thế Mạnh, Trung úy Ngưỡng từ Đoàn 622 chuyển về khoảng thời gian cuối 1981.

Giữa 1982 có Trung tá Sáu Mẫn chuyển từ Trường Quân chính QK9 về chờ hưu.

Hạ sĩ quan: Lê Văn Đúp (ĐH Cần Thơ), Ngô Mạnh Hùng (học Liên Xô về), Thủy (học Liên Xô về).

Nhân viên quốc phòng: anh Hòa (ĐH Thủy lợi).

Ban Công tác Chính trị

Trưởng phòng: Đại úy Tri (hay Chi? - Giang nhắc tên)

Sau có thêm phó phòng: Thượng úy Lượng

Phòng Tài vụ

Trưởng phòng: Trung tá Bảy Như

Phó phòng: Thượng úy Ba Đán

Sĩ quan: Các Trung úy Hạnh, Thực, các Thiếu úy: Khởi, Hồng, Thanh (Thủ quỹ), Thơ… đều học từ Tài chính quân đội, Đào (ĐH Nông nghiệp I)

Nhân viên quốc phòng: Hai Tài

Phòng Hành chính – Quản trị - Vệ binh

Thượng úy: … Thị Thủy (quân nhu)

Trung úy Nguyễn Văn Đua (giữ con dấu)

Thủ quỹ đơn vị: Chị Kim (là vợ Nguyễn Văn Minh – Phòng Nông nghiệp)

Các nhân viên: chị Kim Đẹp, chị Lệ đánh máy, một anh phụ trách thợ điện (không nhớ tên)

Lái xe: Thiếu úy Tuấn, Chuẩn úy: Cứng

Cần vụ cho Cục trưởng Ngô Thanh Vân: thượng sĩ Đĩnh

Vệ binh do Trung sĩ Hải phụ trách một nhóm: Biên, Thắng, Hà, Dũng (đi lính khi đang là sinh viên ĐH Cần Thơ)…

Các chị nhà bếp: (có một chị có cháu trai tên Hải nhỏ con rất lanh lợi, biết hết mọi chuyện trong Cục).

Đến cuối 1981 đầu 1982 có nhiều anh em chuyển đi các đơn vị khác. Nhóm ĐH Nông nghiệp I gồm Tuấn (ghe) đi Nông trường Cờ Đỏ, Nguyễn Văn Nên, Lý, Khanh đi Minh Hải, Châu đi Đồng Tháp, Hải (Kì Lừa) đi Bến Tre… Giang Thành Phong đi NT Muối 406 (Bạc Liêu), Nguyễn Thành Long đi Ô Môn… Vệ binh: Thắng, Dũng[1] đi NT Muối 406… Hầu hết các anh chị chuyển đi tôi đã có dịp gặp lại ở đơn vị mới. Có điều kiện tôi sẽ ghi chép thêm những kỉ niệm khó quên với nhiều lần đi công tác về các đơn vị trong Cục, thực chất là những trải nghiệm rất quý giá trong cuộc đời tôi.

Tôi tiện nhắc ở đây tên các anh chị theo các phòng, ban để những câu chuyện về sau có liên quan không cần nêu lại. Nhìn chung, ngoài các thủ trưởng Cục và Phòng, Ban là các sĩ quan quân đội lâu năm, còn lại là các anh chị tốt nghiệp ĐH từ Bắc vào và từ ĐH Cần Thơ ở ngạch quân nhân chính quy hay nhân viên quốc phòng. Rõ ràng là đơn vị Cục Kinh tế mang dấu ấn của những cán bộ kĩ thuật có chuyên môn được đào tạo hẳn hoi từ các trường ĐH chính quy khi đó, là tiềm lực không thể phủ nhận cho một đơn vị được tổ chức có ý đồ liên quan đến phát triển kinh tế quân đội. Tuy nhiên, chỉ chưa đầy 2 năm sau thì Cục Kinh tế Quân khu 9 giải tán. Mãi đến 2023 qua câu chuyện với anh Nguyễn Kim Quất (sĩ quan từ Tổng cục Kinh tế Bộ Quốc phòng) tôi mới hiểu ý đồ xây dựng tổ chức Tổng cục Kinh tế có tầm cỡ từ quốc phòng toàn dân, toàn diện trong bối cảnh sau cuộc chiến tranh với Trung Quốc tháng 2-1979 và cuộc chiến ở Campuchia.  

Nhìn lại cuộc đời, bản thân tôi nhận thấy đây là những năm tháng vô tư, sung sướng nhất về nhiều mặt, nhưng cũng là những trăn trở nhất giữa kì vọng và thất vọng về quan niệm giữa trí thức và người lính, giữa trí thức Nam và trí thức Bắc, giữa cấp dưới và cấp trên… Đại loại có những vấn đề sau:

1/ Về sinh hoạt: chúng tôi rất đầy đủ về ăn uống, ngủ nghỉ, vui chơi... Là binh nghiệp nhưng vẫn còn được sử dụng như các công việc chuyên môn ít ỏi. Thời gian này sống vô tư, nhiều nhiệt huyết, được đọc sách, được quen với nhiều bạn mới ở phía Nam.

2/ Được trải nghiệm rất thú vị với hào sảng phương Nam: cuộc sống, con người ở vùng quê sông nước, miệt vườn cây trái. Đây là thời gian chúng tôi có các chuyến công tác nhiều kỉ niệm…

3/ Những dao động ban đầu của trí thức (trước gọi là trí thức tiểu tư sản): không được phân công việc làm ổn định, bế tắc trước lối sống của một số đồng đội, không thấy sự phát triển tương lai…

4/ Một số vấn đề giữa trí thức Nam và trí thức Bắc: anh em trí thức Nam muốn ẩn giấu tri thức tiếp cận từ tiếng Anh và vừa ngưỡng mộ vừa nghi hoặc tri thức của tiếng Nga.

5/ Những vấn đề va chạm cuộc sống: cấp dưới – cấp trên, gia trưởng quân sự, trình độ lãnh đạo, quản lý, những nghịch cảnh phải trái…

6/ Được lãnh đạo (hẹp hòi) cho nếm những thử thách ban đầu của người lính.

Nếu có điều kiện tôi dự định sẽ viết rất nhiều câu chuyện (đã in sâu trong kí ức) những năm tháng này với niềm tự hào không hổ thẹn về cuộc đời của chúng tôi. Vào những năm 2000, trong một bữa vui họp mặt, một ông giáo già hơn tôi 30 tuổi hỏi tôi: “những năm đi bộ đội đã có được những gì”? Khi đó tôi trả lời ngay: “không có được gì đáng kể mang về nhưng những gì tôi có được hôm nay đều từ những năm tháng đó mà ra”! Câu trả lời chỉ là bật ra trên bàn ăn rộn rã, nhưng sau suy nghĩ lại thấy đúng quá, đúng mãi cho đến tận hôm nay…

 

 



[1] Dũng mất khi ở đơn vị 406 do tại nạn say rượu khi đi ghe về đơn vị.

Thứ Năm, tháng 10 24, 2024

Nhà khách T82 và nhận quyết định công tác

 

Đến T82 mới thấy số kĩ sư- sĩ quan từ ĐH Nông nghiệp I khá đông. Tốt nghiệp ngành Kinh tế nông nghiệp có Bính-Đào-Giang và Ảnh; tốt nghiệp ngành Trồng trọt có Thiện, Châu, Thế, Nên, Hải (Kì Lừa), Hải (con), Học, Tuấn (Ghe), Lý, Khoa (ghẻ), Khanh[1]; Có nhiều bác sĩ-sĩ quan như Tiệc, Châu, Đoan, Phương, Khoa,… từ Đại học Y Hà Nội. Thế là lại thành một nhóm “Sơn Tây mới” tụ lại ngồi chờ công tác.

Mấy ngày sau không thấy thông tin gì nên bộ đội chán nản đi dạo quanh từ gần đến xa tùy theo sức đi bộ của từng nhóm. Nhóm chúng tôi chủ yếu đi ngắm cảnh nông thôn sông rạch quanh khu Trà Nóc, Bình Thủy. Khoảng vài ngày sau, bạn Tiệc[2] nói nhỏ với chúng tôi muốn về nhà vì ở đây không biết khi nào mới có quyết định công tác. Chúng tôi thống nhất với ý định bạn bí mật đi, có điểm danh hay thông tin gì đó thì điện về báo cho bạn.

Tại trạm khách T82, chúng tôi vẫn chờ quyết định phân công công tác nên ngoài ăn 3 buổi, các nhóm ngồi đánh bài, chơi cờ, tán gẫu trong một lán lợp tôn rộng cả trăm m2 kê giường theo dãy mà không có cửa, chỉ có mấy liếp tôn nên gió lộng ngày đêm. Ban ngày khá nóng nhưng đêm thì gió mát. Rồi bắt đầu trò đi chợ mua các thứ về mượn bếp nấu ăn thêm. Có hôm Bính-Đào-Giang-Ảnh đi bộ xuống chợ Bình Thủy chơi và mua thịt (buộc vào cái dây lạt) đi bộ xách về với mấy quả cà chua đút túi quần để mượn nồi nấu ăn thêm cải thiện. Hình ảnh này chắc kì lắm với mọi người trên đường khi thấy 4 chàng người Bắc đi chợ về!!!

Các bạn tốt nghiệp ĐH Y Hà Nội được quyết định công tác trước, một số người đi Campuchia. Đoan, Châu về Bệnh viện 121, Phương về Trường y tế Trà Nóc. Các bạn tốt nghiệp ĐH Bách khoa về 404, các bạn tốt nghiệp ĐH Tổng hợp về Cục Chính trị… Nhóm kĩ sư-sĩ quan nông nghiệp nằm ‘khàn’ lâu nhất.

Đến T82 từ 23-3 cho đến 9-4 chúng tôi mới được nhận quyết định công tác (ngồi chơi gần 20 ngày). Quyết định của Tư lệnh Quân khu 9 kí ngày 4-4-1981 cho từng cá nhân. Tôi nhận được số QĐ số 262/QĐ ghi rõ điều đồng chí Lê Hữu Ảnh, Thiếu úy Đại học kinh tế nông nghiệp về Cục Kinh tế nông nghiệp Quân khu 9[3] nhận công tác vào ngày 13-4. Chỉ riêng bạn Học về Cục Hậu cần, bạn Khoa về Tỉnh đội An Giang, còn lại nhóm kĩ sư-sĩ quan nông nghiệp đều về Cục Kinh tế nông nghiệp.


Ngày 13-4-1981, chúng tôi đến Cục Kinh tế tại Phường Cái Khế, ngay gần bắc Cần Thơ. Đây là căn cứ trước đây nghe nói của đơn vị Công binh Vùng 4 chiến thuật và trước nữa là nơi ở của tướng Năm Lửa[4] trong thời lực lượng vũ trang Hòa Hảo. Cục Kinh tế Quân khu là đơn vị mới thành lập trong Quân Khu 9 (Bộ Quốc phòng có Tổng cục Kinh tế).

Tại Cục Kinh tế, Bính – Giang - Ảnh được phân về Phòng Tham mưu – Kế hoạch, các bạn tốt nghiệp ngành trồng trọt như Châu, Lý, Thế, Nguyễn Văn Nên, Tuấn (ghe), Thiện, Hải (Kì Lừa), Hải (con) về Phòng Nông nghiệp. Đào về Phòng tài vụ. Sau này có thêm nhiều kĩ sư-sĩ quan và kĩ sư-lính bổ sung hoặc từ miền Bắc vào sau hoặc từ Đại học Cần Thơ (tôi sẽ nói sau). Lúc này duyên phận lại để Bính – Giang - Ảnh ở cùng đơn vị Phòng Tham mưu – Kế hoạch, được phân ngủ chung 1 phòng (3 giường) trong thời cuộc mới: lính Cục kinh tế Quân khu 9.

Về việc phân công cũng có vài chi tiết đáng nói. Chúng tôi được kê khai điền vào một mẫu lí lịch trích ngang ngắn in sẵn trên trang giấy trong đó có mục trường và chuyên ngành tốt nghiệp đại học. Chúng tôi nghĩ hồ sơ cán bộ chuyển vào chắc đã đủ nên khai nghiêm túc. Sau này có người nói là bạn Học đã khai thêm cái mở ngoặc sau ngành Trồng trọt là bảo quản chế biến nên được đưa về Quân nhu (liên quan đến bảo quản lương thực chăng?) còn Đào thì anh em đồn rằng cũng có mở ngoặc sau chữ Kinh tế nông nghiệp là tài vụ nên được phân về Phòng Tài vụ. Chuyện nay hư thực không rõ nhưng rất có thể tư duy thời cuộc đã tạo ra sự tinh khôn nhất định.

 



[1] Khanh có dịp tôi đã nói trên tàu vào Nam; Khoa có tên gọi kèm là ghẻ từ hồi còn ở trường tôi không rõ gốc câu chuyện. Hải Kì Lừa là Hải quê Lạng Sơn, Hải con quê Nam Định người nhỏ bé; Tuấn Ghe là được gọi theo nghĩa Ghê-rôi (tiếng Nga: Герой là anh hùng) vì Tuấn luôn thể hiện hành động rất dũng cảm kiểu co người lao vào đổ cả đống gạch xếp bên đường… Tôi không nhớ chính xác họ của nhiều người, chưa có dịp tra lại. Bạn Nguyễn Văn Nên trước khi mất là Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp Ninh Bình tôi có nhiều lần gặp sau này.

[2] Tiệc là người chia tay vợ ở ga Đồng Hới tôi đã nói trong nội dung III

[3] Tôi nghĩ có một số nhầm lẫn và không rõ trong quyết định. Đại học Kinh tế nông nghiệp phải hiểu đúng là tốt nghiệp ngành Kinh tế nông nghiệp. Cục Kinh tế chứ không phải Cục Kinh tế nông nghiệp. Các chữ viết thêm màu xanh trong quyết định về tên ngành chắc có sự bổ sung so với trích ngang, nhưng không chính xác.  

[4] Trần Văn Soái (1889-1961) tự Năm Lửa, xuất thân là dân lao động bến xe, sau này trở thành Trung tướng của Lực lượng Vũ trang Giáo phái Hòa Hảo hoạt động chống Lực lượng Việt Minh vào những năm cuối thập niên 1940 và đầu thập niên 1950 của thế kỷ trước. Năm Lửa đặt bản doanh tại Cần Thơ chiếm vùng Cần Thơ, Vĩnh Long, Sa Đéc. 

https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_V%C4%83n_So%C3%A1i

 

Chủ Nhật, tháng 10 13, 2024

Chuyện con chó ngáp

 

Một hôm, Bác ngồi trông cháu mệt quá nên ngáp dài một cái, cái ngáp vừa mệt vừa buồn ngủ nên bật ra tiếng kêu á, ái,... áiip. Nghe thế Téng nói: "Bác ngáp giống con chó Bi nhà cháu".

Chỉ có đứa trẻ chưa đầy 3 tuổi mới có sự liên hệ với tư duy đơn giản, chính xác thế. Một sự liên hệ không câu nệ bởi bất cứ quan điểm hay lối nhìn của ai, không lệ thuộc vào đánh giá của người khác.

Khi lớn lên, đi học và sống cùng mọi người, mọi đứa trẻ đều lớn lên trong sự quản lý và đánh giá của người khác nên luôn bị sống cho người khác. Thật tiếc các ý nghĩ giản dị, ngây thơ và đầy triết lý như khi so sánh cái ngáp đó đã không bao giờ còn nữa...

(Viết 5-3-2023 nhân chuẩn bị giỗ lần 2 cho Bác Lý)

Chuyện ngày 8-3

 

Bố Tỏn vừa đọc xong cuốn "Ba người Thầy vĩ đại" của Robin Sharma mới biết cả 3 thầy đều dạy phải chống nỗi sợ, đương đầu với nỗi sợ và coi nỗi sợ là cơ hội để mỗi người tạo ra những giá trị cho mình.


Nhà ta có 3 phụ nữ không sợ:

1/ Bà mẹ Tủng không sợ "mổ bụng bắt con" để lôi ra 2 đứa con không biết sợ. Nay bà ấy sát tuổi 60 vẫn không sợ rumba, yoga,... để tập hàng ngày. Không biết bơi mà tự học bơi, quan trọng hơn là lại dạy được mấy học trò, kể cả trò lớn tuổi biết bơi !!!

2/ Thảo Tâm (Bé Tủn) không sợ nước Mỹ, đến với nhà người ta ở để đi học khi mới chỉ cao bằng cái vali đẩy vào sân bay. Khi bé đi học bị chó đuổi cắn chảy máu chân, nay lớn không sợ cả lũ chó để trong nhà phải có một chú cho vui nhà. Nhưng Tủn thì không sợ toán vì biết làm toán từ khi chưa biết nói. Bằng chứng là khi bố Tỏn hỏi: 2 mũ mấy thì = 8, con nói 3 (23=8); bố hỏi: căn bậc 3 của 27 là mấy, con nói 3; bố hỏi kể cả bà thì nhà ta có mấy phụ nữ: con nói 3; khi hỏi nhiều quá thì con nói 3, 3, 3, 3...).

3/ Cũng như chị, Bảo Hiền (Téng) cũng sớm đến nhà người ta ở London để ăn ở và đi học. Téng từ bé sợ toán. Khi bố Tỏn đố: 1 con tàu vượt đại dương hết 7 ngày, vậy 7 con tàu vượt đại dương hết mấy ngày? Téng kêu: bí ! Khi đi học thì giỏi văn, luôn được cô khen. Khi lớn hơn thì học toán và nay thì lại dùng toán cho công việc hàng ngày. Rõ ràng là đã không còn sợ toán!

Chỉ còn mình bố cái gì cũng sợ !!! Người hay sợ chúc các phụ nữ không biết sợ nhà ta vui tươi hạnh phúc nhé.

(Viết nhân 8-3-2023)

Thứ Bảy, tháng 10 12, 2024

Các bé học ghép vần

 

Cả Tủn và Téng đều đọc thông thạo trước khi vào lớp 1 bằng phương pháp học được bố gọi là "gợi ý" rất độc đáo. Hàng ngày, mỗi khi có dịp là bố mẹ lại gợi ý để các con vào năm thứ 2-3 của mẫu giáo biết cách ghép vần. Ban đầu là ghép nguyên âm với các phụ âm bất kỳ như nguyên âm A được ghép bờ-a-ba, cờ-a-ca, tờ-a-ta... như thế bé đã tự học được quy tắc "quen miệng" về phụ âm và các âm có thể ghép được với nguyên âm nào đó. Các từ thường là những từ gần gũi với quan sát của các bé. Từ đó, chính các bé đã học được cách ghép vần mà trong đó chủ yếu là tự phát triển thành các từ mà bé định học vần. Chỉ không đầy 3 tuần, phương pháp trên về cơ bản đã giúp bé chủ động học được phát âm, ghép vần, nhận mặt chữ và có thể nói như bố Tỏn đánh giá: cách này không quá 3 tuần, mọi trẻ em lớp mẫu giáo đều có thể học đọc và ghép vần thành thạo.

Chuyện của Téng phát sinh lúc này như sau: Téng ghép nhanh các vần và vì thế đã tự học rất nhanh. Tuy nhiên những ngày đầu, khi gặp những từ chưa chắc chắn, Téng thường hỏi bố Tỏn để bố sửa và giúp đỡ. Bố bảo Téng là khi nào bí thì nói để bố giúp. Téng lấy sách ra và tự đọc, tuy nhiên khi gặp một số từ không biết thì Téng lại gọi: Bố ơi, bí... Nhưng mỗi khi Téng đọc các sách có nội dung khó thì việc bí sẽ thường xuyên hơn nên mỗi lần đọc là "bố ơi, bí..." có tần suất nhiều hơn. Khi nghe "bí, bí'..." là bố lại được dịp nhắc và trêu Téng. Việc kêu bí diễn ra chừng vài ngày, nhưng là sự kiện đáng nhớ vì Téng bi ba bi bô chạy gặp bố còn miệng thì hô vang bí, bí,... Đôi khi, đi WC cũng lẩm nhẩm đọc và cũng kêu bí...

Còn Tủn khi bé thì cũng vậy, nhưng lại có chuyện buồn cười về đánh dấu. Tủn ghép vần bao giờ cũng nhớ đến dấu. Khi ghép vần từ cá thì Tủn cũng cờ-a-ca-sắc-cá, nặng-cạ, hỏi-cả... Đây cũng là cách học phát triển từ rất nhanh, nhưng cũng gặp khó khăn đối với những từ không dấu. Ví dụ từ ca thì Tủn ghép vần là cờ-a-ca và nếu thêm một dấu (chẳng hạn sắc-cá hay nặng-cạ) nên không thể thành ca được. Vì thế bố gợi ý là Tủn cần dừng lại mỗi khi cần. Thế là Tủn ghép vần ca thành "cờ-a-ca-dừng-lại". Dừng lại đã trở thành một đuôi để Tủn tạo ra các từ không dấu. Tủn làm cho mọi người cười rất thoải mái mất mấy ngày mới bỏ được cái đuôi "dừng-lại" đó.

Thật là cách học độc đáo tạo nên nhiều giai thoại làm nên những xêri... cười cho cả nhà.

Đến Cần Thơ


Sáng 23-3-1981, chúng tôi ra bến xe miền Tây đi Cần Thơ. Đoàn đi Quân khu 9 khá đông, lại có nhiều anh em cùng trường đại học nên trên xe dễ bắt chuyện. Tôi thấy vùng đất lạ thì chỉ thích ngắm nghía. Xe chạy ra khỏi thành phố là thấy ngay những cánh đồng rộng lớn xen lẫn những khu dân cư xanh mướt cây cối miệt vườn.

Đến bắc[1] Mĩ Thuận, mọi người xuống xe đi bộ lên phà. Người bán hàng nhao nhao rao bán đồ ăn, quà bánh, hoa quả. Rất nhiều loại hoa quả được cắt gọt sẵn chọc vào que hay bọc trong bao nilon cùng vô số loại bánh gói lá chuối, lá dừa tôi chưa từng thấy ở miền Bắc. Tôi bỗng cảm thấy như đang ở nước khác vì nghe không được mấy tiếng rao, tiếng trao đổi, mặc cả của người bán người mua. Giọng Nam bộ lần đầu tiếp xúc trực tiếp quả thật chúng tôi chưa thể thẩm kịp âm điệu của người dân vùng này. Tôi hơi hoang mang vì không lẽ nào mình lại không nghe nổi tiếng dân mình.

Lên phà là đã cảm nhận được không khí và gió mát của sông Tiền. Đầu tiên là sự mát mẻ, hào phóng của gió đồng bằng, rồi làn nước đục mờ đầy phù sa chảy nhẹ. Chiếc phà T200 chở được rất nhiều xe và người cũng là lần đầu tiên được thấy. Đây là sông Tiền Giang, một nhánh của sông Mê Kông vĩ đại khi chảy vào đất Việt. Tôi thấy vui vì mình đã đến được vùng miền Tây sông nước.

Bỗng tôi thấy anh Thiện trong nhóm kĩ sư nông nghiệp cùng đi Quân khu 9 đang nói chuyện với 1 anh bộ đội người Nam trên phà. Anh người Nam này nói nhỏ, chậm hơn những người rao bán hàng nên tôi nghe được nhiều hơn. Thiện hỏi: - Ở trong này bộ đội có bị đói không? Tôi nghe được anh ta hỏi lại: - Đói là gì? Thiện hỏi nhiều chuyện với anh ta cho đến khi phà cập bến. Tôi không còn nhớ các anh nói với nhau những gì nhưng câu hỏi về cái đói làm tôi suy nghĩ. Giá là tôi thì tôi không dám hỏi như Thiện vì với người lạ hỏi thế cũng hơi kì. Mấy anh xứ Bắc bị nhiều lần ám ảnh bởi cái đói, cái rét nên chợt lo cho mình có bị chuyện đói không khi đã đi đến tận vùng này. Về sau, chúng tôi đi xem phim Làng Vũ Đại ngày ấy[2] chiếu rạp ở Cần Thơ (năm 1982). Lúc này chúng tôi đã nghe được tiếng Nam, khi chiếu cảnh anh Dậu gầy gò ốm yếu cùng các cảnh làng quê miền Bắc những năm thuộc Pháp, tôi nghĩ khán giả miền Nam không hiểu được mấy. Có một anh người Nam ngồi sau tôi nói với bạn: không biết ngoài Bắc người ta thuê ở đâu mà nhiều người gầy gò như thế? Tôi giật mình: ngay lúc này ở Bắc thiếu gì người gầy gò, cái đói đầu những năm 80s còn kinh khủng lắm mà. Loại người gầy gò đó ở đâu chẳng có, ngay cả diễn viên, văn nghệ sĩ cũng là tầng lớp đại diện của nghèo đói, gầy gò. Nhưng ở xứ miền Tây này lấy đâu là người đói, người gầy…

Xe đi tiếp đến bắc Cần Thơ. Lúc này cuối giờ chiều, cảnh sông nước mênh mông hơn bắc Mĩ Thuận, nhưng cơ bản tôi đã được thấy ở Mĩ Thuận nên có cảm giác không quá mới lạ nữa. Cũng có thể mệt mỏi một chút nên kém háo hức hơn buổi sáng chăng? Cái nhánh sông Hậu này mới thực sự là sức mạnh của Cửu Long Giang… Buổi chiều gió mát nhiều hơn, thật khoan khoái với không gian nắng gió đồng bằng mênh mông sông nước.

Đầu bên kia là thành phố Cần Thơ. Khi phà gần cập bến, tôi thấy có rất nhiều xe lôi đón khách. Tôi lại được biết thêm 1 hình thức đưa đón khách bằng xe đạp, xe honda lôi kéo theo cái thùng tự chế rất sáng tạo có 2 bánh lăn theo có thể ngồi được 4-6 người tùy loại.

Thế là đã được đến Cần Thơ, đã qua 2 dòng sông lớn, qua 2 chuyến ‘phà khủng’ T200. Cần Thơ là trung tâm của miền Tây còn được gọi là Tây Đô. Tôi cảm thấy rất tự hào mình có được dịp đến với miền đất này.

Chúng tôi được đưa tới Trạm khách T82 của Quân khu 9 ở Trà Nóc để nghỉ ngơi và chờ công tác. Coi như đã hết những mẩu chuyện của hành trình. Chuyện ở T82 sẽ thuộc về nhóm nội dung: chúng tôi bên nhau trong duyên phận của thời cuộc những ngày ở Cục Kinh tế Quân khu 9.



[1] Phà nói theo phương ngữ Nam bộ gọi là bắc (lấy từ gốc tiếng Pháp: bac).

[2] Làng Vũ Đại ngày ấy là bộ phim nổi tiếng được xếp vào hàng những tác phẩm kinh điển của nền điện ảnh Việt Nam thế kỷ XX. Phim được sản xuất năm 1982 bởi đạo diễn Phạm Văn Khoa.

Thứ Sáu, tháng 10 11, 2024

Mèo "dì" nhà tôi biết nói

 

Con mèo nhà tôi có tên rất lạ: mèo "dì", bởi vì hồi đó 2 chị em nhà mèo cùng đẻ và cứ tranh nhau con, cả nhà phải gọi tên là con "mẹ" và con "dì" để những đứa con mèo của chúng không lẫn lộn mỗi khi phân ổ. Nói chung lũ mèo không nhận ra mẹ và con một cách chính xác, khi cho bú thì mèo này cứ đòi con của mèo kia... Có lẽ chúng mất đi bản năng nhận ra con khi sống với người quá lâu rồi (bị đồng hóa)...

Con "dì" biết nghe và nói nhiều tiếng của người đấy nhé. Chẳng hạn:

- Tủn hỏi: có cho chị bế con của mèo không? Nó nói: ứ...

- Téng hỏi: mặt mèo tròn hay méo? Nó nói: méo

- Tủn hỏi: tháng 7 có mưa gì? Nó nói: ngâu

- Téng hỏi: nhà ta giàu hay nghèo? Nó nói: nghèo

- Tủn hỏi: mèo "dì" ăn vụng phải không? Nó cãi: đâu

- Téng hỏi: trên cây có con gì? Nó nói: sâu

- Tủn hỏi: muốn bắt được chuột phải làm gì? Nó nói: mẹo (phải có mẹo)

- Téng hỏi: ở nhà ta mèo thích ăn gì nhất? Nó nói: ngô (hạt ngô luộc)

- Tủn hỏi: nhà ta có bác gì? Nó nói: Nga

- Téng hỏi: con gì ở biển nấu canh chua ngon rất ngon? Nó nói: ngao

- Téng hỏi: ô tô chạy cần phải có gì? Nó nói: dầu

- Tủn hỏi: khi nước sông trời mưa rào thì nước đục gọi là đục gì? Nó nói: ngầu

- Téng hỏi: học bài rất thuộc thì gọi là thuộc gì? Nó nói: làu

- Tủn hỏi: quả gì chua để nấu canh? Nó nói: me

- Ông Tỏn hỏi: lãnh tụ vĩ đại nhất của Trung Quốc là ai? Nó tỉnh queo: Mao (Mao Trạch Đông)

- Ông Tỏn lại hỏi: vũ khí gì Trương Phi dùng đánh nhau trong Tam Quốc? Nó nói: mâu (bát xà mâu)

- Bà Tủng hỏi: người ta làm gì để bắt cá ngoài bờ sông: Nó nói: câu (đi câu)

- Bà Tủng hỏi: quả gì để các cụ ăn trầu: Nó nói: cau

- ...

Và buồn cười nhất là hôm cả nhà ăn rau muống luộc, bỗng thấy 1 con sâu bé tẹo trong đĩa rau, mọi người không dám ăn nữa và gắp con sâu cho mèo "dì" đang ngồi cạnh. Mèo "dì" kêu: eo ơi...

Những mẩu chuyện bên bàn ăn (3) - Chuyện quả phụt

 

Có 1 món ăn cả nhà được biết sau khi đi chơi ở Hòa Bình: quả lặc lày (hay mướp Mường) luộc. Sau đó ở chợ đầu gần nhà cũng có bán, thế là bà Tủng thường mua về luộc ăn. Một hôm bà Tủng khi ăn quả lạc lày luộc thì bỗng từ trong quả phụt bắn ra một tia nước. Mọi người đang ngơ ngác thì hiểu ra khi luộc, nước bên trong quả được tụ lại, khi cắn một nửa thì nó bị sức ép phụt ra ở cuối nửa kia ra ngoài. Chỉ cần cắn nhanh và ngậm chặt phần bên trong thì áp lực nước phụt ra sẽ mạnh. Thế là tranh nhau bắt chước ‘cắn - phụt’ để bàn ăn có thêm những trận cười tung tóe. Từ đó món lạc lày luộc được gọi tên là món ‘quả phụt’.




 

‘Quả phụt’ thành món ăn ngon, sạch thường xuyên trong các bữa ăn gia đình. Mỗi bữa ăn có ‘quả phụt’ là những tràng cười về các kiểu kỉ lục phụt giữa Téng và Tủn: phụt xa nhất, phụt cao nhất, phụt qua đầu chó Bi,...

Những mẩu chuyện bên bàn ăn (2): - Thi cắn hình vầng trăng

 

Bữa tụ tập hôm ấy đã vào cuối trào, người lớn thì vẫn còn hăng chuyện vì bia rượu còn đang độ ‘bốc’, nhưng tụi trẻ thì im lặng dần và chờ vào màn tráng miệng. Bàn ăn còn mấy món và một đĩa bầu luộc cắt hình tròn vẫn đầy. Các bé ăn ể oải cầm chừng và chọc chọe nhau.


Nhìn không khí cuối trào ấy, ông bố Tỏn nghĩ ra 1 chuyện bảo: Đã ai biết cắn miếng bầu kiểu vầng trăng chưa? Và ông lấy 1 miếng cắn thử trước để miếng bầu còn lại thành hình trăng khuyết. Thế là cả 4 bé lao vào đĩa bầu thi nhau ăn kiểu vầng trăng... Chỉ một loáng đĩa bầu sạch trơn và không khí vui nhộn thi nhau khoe những cái vầng trăng méo, có cả vầng trăng hiện nguyên hình ‘những răng chưa kịp mọc’ trong miệng các bé... Ai cũng có được những vầng trăng trong tay mình để hỏi bố Tỏn xem vầng trăng nào đẹp hơn.

Một cách làm nhỏ đã nhờ đó mà đĩa rau sạch không bị lãng phí, còn các bé thì có thêm dinh dưỡng rau xanh cân đối rong bữa ăn. Các bé lại có thêm ký ức mãi về sau khi thấy món thực phẩm bầu non... Có điều bây giờ mấy bé vẫn còn nhắc bố Tỏn khôn, dạy cho chúng biết ăn khoa học lại thật là vui nhộn.