Thứ Hai, tháng 1 26, 2026

Năm thứ 3 - Kết thúc lao động hướng nghiệp, rèn nghề và lao động công ích


1. Nhắc lại về lao động hướng nghiệp, rèn nghề

Như tôi đã ghi chép ở các bài trước, chúng tôi có 2 tháng lao động “hướng nghiệp” năm thứ nhất. Từ năm thứ 2 và thứ 3, mỗi kì có 1 tuần lao động “rèn nghề” – vị chi là một khóa học chúng tôi có 3 tháng đi lao động.

Lao động “hướng nghiệp” theo nghĩa là làm quen nghề nghiệp. Mặc dù toàn những công việc mà chúng tôi là con em nông dân nên không xa lạ gì nhưng quan trọng là nhờ đó chúng tôi quen thân nhau ở mức quan hệ xã hội “dân dã”, qua đó biết thêm được công việc lao động nông nghiệp ở nhiều vùng quê, củng cố thêm tình bạn bè. Ngoài ra như tôi đã kể là những ngày đi lao động hướng nghiệp đều được cấp thêm phần bánh mỳ “bồi dưỡng” nên bớt cái đói trong những tháng đầu tiên xa nhà.

Lao động “rèn nghề” nghĩa là rèn luyện nghề nghiệp. Thuật ngữ “rèn” còn mang nghĩa “tôi luyện” trong nghề (nhưng thực tế chỉ là phổ thông). Với con em nông dân như tôi thì công việc lao động chưa ăn thua gì so với hồi lao động ở quê nhà. Chỉ là chuyện giải quyết thời vụ những mùa cấy hái ở Trại Thực tập thí nghiệm nhưng chúng tôi đều cảm thấy thân thiết nhau hơn trong lao động. Chẳng hạn, chuyện bị mất trộm dép hôm đi lao động đã được lớp quan tâm lo lắng để không bị mất thêm và còn tính chuyện “mồi” để rình bắt nếu bọn xấu còn dám trộm lần nữa.

Thứ Hai, tháng 1 19, 2026

Chuyện năm thứ 3 – Học các môn Cơ khí nông nghiệp, Toán xác suất và Thực hành công cụ tính


Ở kỳ thứ 2 năm thứ 3 chúng tôi vẫn được học những môn học đã được thiết kế và bổ sung mới trong chương trình đào tạo. Tôi thấy cũng nên chép lại cho hết những ký ức còn vương vấn. Thực chất của môn học này không có nhiều kỷ niệm và cũng không được áp dụng nhiều kiến ​​thức trong công việc của tôi sau này.

Thứ Hai, tháng 1 12, 2026

Năm thứ 3 - Những môn học đầu tiên về chuyên môn nghiệp vụ của kĩ sư kinh tế nông nghiệp (kì 4)

 Chuyến đi thực tập giáo trình lần thứ nhất – khối HTX

 Vào giữa tháng 4-1978, chúng tôi được huy động đi lao động công ích cải tạo sông Tô Lịch 2 tuần. Đầu tháng 5 về học thêm 2 tuần thì đi thực tập giáo trình lần thứ nhất – khối HTX sản xuất nông nghiệp. Thực tập liên quan đến nội dung hai môn học Thống kê nông nghiệp và Kế toán nông nghiệp. Ngoài ra môn Kinh tế nông nghiệp cũng có nội dung tìm hiểu, nhưng vì môn học này đã thi xong từ kì 1 nên không thu hoạch được điều gì đáng kể. Dưới đây là những chuyện liên quan đến lần đi thực tập của nhóm của tôi tại xã Cổ Bi, Gia Lâm, Hà Nội.

Thứ Năm, tháng 1 08, 2026

Năm thứ 3 - Những môn học đầu tiên về chuyên môn nghiệp vụ của kĩ sư kinh tế nông nghiệp (kì 3)

 Học môn Kế toán nông nghiệp

Môn học được thiết kế 120 tiết, học ở kì 2 năm học 1978-1979 (năm thứ 3). Giáo viên giảng dạy là PTS[1] Nguyễn Quang Thoại.

Thầy Thoại đi học ở Liên Xô từ thời thiếu sinh quân, sau đó học tiếp lên đại học. Thầy về trường ĐHNN I làm cán bộ giảng dạy khoảng năm 1965-1966 gì đó, sau đó lại được cử đi học nghiên cứu sinh khoảng năm 1968-1971, bảo vệ luận án PTS khoảng năm 1971.

Thứ Ba, tháng 1 06, 2026

Năm thứ 3 - Những môn học đầu tiên về chuyên môn nghiệp vụ của kĩ sư kinh tế nông nghiệp (kì 2)

Học môn Thống kê nông nghiệp

Môn học được thiết kế 120 tiết, học ở kì 2 năm học 1978-1979 (năm thứ 3). Giáo viên giảng dạy là cô Kĩ sư[1] Đỗ Thị Ngà Thanh.

Cô Thanh học đại học từ Liên Xô về, nhưng ngày cô dạy chúng tôi thì không ai biết đó là giáo viên đã từng đi học ở Liên Xô bởi cô rất nghiêm nghị khi giảng bài, có cảm giác rất khó gần và luôn giữ khoảng cách với sinh viên rất đúng mực.

Chủ Nhật, tháng 12 28, 2025

Năm thứ 3 - Những môn học đầu tiên về chuyên môn nghiệp vụ của kĩ sư kinh tế nông nghiệp (kì 1)


Mở đề

Đến hết năm thứ 2, chúng tôi mới chỉ được học môn Địa lý kinh tế - “màn dạo đầu” để đi vào chuyên môn. Bắt đầu từ năm thứ 3, chúng tôi được học Kinh tế nông nghiệp (ở kì 1) và Thống kê nông nghiệp cùng Kế toán nông nghiệp (ở kì 2). Việc bố trí chương trình theo tôi là khá hợp lý: người ta đưa hết môn cây trồng vào kì 1, chỉ “nếm thử” Kinh tế nông nghiệp để kì 2 đủ sức “xơi” tiếp 2 môn chuyên môn: Kế toán nông nghiệp và Thống kê nông nghiệp. Môn Kinh tế nông nghiệp là nền tảng kinh tế khi đã “ngấm” vào đầu rồi thì có cơ sở để tiếp nhận các nghiệp vụ chuyên môn. Các anh KT18 nói với chúng tôi: kĩ sư kinh tế nông nghiệp chỉ cần vững 3 “món võ”: Thống kê, Kế toán và Kế hoạch là đi đâu cũng sống được. Chúng tôi tiếp thu kiến thức năm thứ 3 trên tinh thần rất háo hức vì coi đó là những gì cần thu hoạch để ra trường đi làm kiếm ăn, để tìm đường làm nên sự nghiệp của người kĩ sư kinh tế.

Thứ Ba, tháng 12 16, 2025

Kĩ sư kinh tế nông nghiệp được học những gì về cây trồng (kì 3)


Cây công nghiệp và rau quả

Chúng tôi có một nửa thời gian học môn Trồng trọt chuyên khoa gồm rất nhiều loại cây công nghiệp: nhóm cây công nghiệp lâu năm gồm chè và cà phê do thầy Nguyễn Ngọc Kính dạy (30 tiết), nhóm cây công nghiệp lưu niên gồm mía, cói do cô Đoàn Thị Thanh Nhàn dạy (30 tiết), nhóm cây công nghiệp ngắn ngày gồm lạc, đậu tương do thầy Lê Song Dự dạy (30 tiết).

Vào kì 2 năm thứ 3 còn có thêm môn Rau quả (45 tiết) gồm cà chua, bắp cải, su hào do cô Tạ Thị Thu Cúc và chuối, dứa do thầy Cao Anh Long dạy.

Thứ Ba, tháng 12 09, 2025

Kĩ sư kinh tế nông nghiệp được học những gì về cây trồng (kì 2)

Học về lúa – ngô – khoai lang


Môn học Trồng trọt chuyên khoa

Môn Trồng trọt chuyên khoa rất dài (180 tiết) với nhiều giáo viên dạy.

Phần cây lương thực (90 tiết) được học 3 cây: Thầy Giao dạy cây lúa (30 tiết), Thầy Bùi Thế Hùng dạy cây ngô (30 tiết) và Thầy Đinh Thế Lộc dạy cây khoai lang (30 tiết). Đây là 3 cây lương thực chủ yếu, phổ biến ở miền Bắc. Chúng tôi không được học về cây sắn và những cây cũng được coi là từng lương thực như khoai tây, khoai môn, khoai sọ, kê, dong riềng, thậm chí cả mít[1].

Về cây lúa, tôi còn nhớ thầy Giao người xứ Nghệ, dong dỏng cao, da trắng (có vợ tên Phương làm ở Văn phòng Khoa Kinh tế nông nghiệp). Thầy hiền lành, nói chậm, giọng xứ Nghệ nhưng rõ âm điệu nên dễ nghe.

Thứ Năm, tháng 12 04, 2025

Kĩ sư kinh tế nông nghiệp được học những gì về cây trồng (kì 1)

Mở đề

Chúng tôi được đào tạo để trở thành kĩ sư kinh tế nông nghiệp. Cái danh hiệu kĩ sư rất hay: kĩ sư[1] theo nghĩa Hán Việt là người thầy về kĩ thuật. “Người thầy về kĩ thuật” chuyên ngành kinh tế nông nghiệp tất phải biết rất nhiều thứ: đối tượng sản xuất (cây trồng, vật nuôi), công cụ sản xuất (máy móc, công cụ), tổ chức sản xuất (mô hình sản xuất, kế hoạch sản xuất, phân công lao động…), chỉ đạo quản lý sản xuất (điều hành, bố trí, đánh giá…) và tất nhiên là những thước đo (chỉ tiêu) về năng lực của công việc người kĩ sư.

Đối với lĩnh vực cây trồng chúng tôi được học những môn học sau đây: Trồng trọt đại cương (120 tiết kì 2 năm thứ 2), Trồng trọt chuyên khoa (180 tiết kì 1 năm thứ 3), Rau quả (45 tiết kì 2 năm thứ 3). Tổng số 345 tiết về cây trồng là một ưu tiên rất lớn cho nghề kĩ sư nông nghiệp. Người ta tách môn Rau quả sang kì 2 năm thứ 3 (đủ thời lượng 45 tiết để thành môn kiểm tra) có lẽ để môn Trồng trọt chuyên khoa không quá dài – với lại một kì học toàn cây trồng thành quá “khẳm”.

Thứ Bảy, tháng 11 29, 2025

Vào năm thứ 3 – nhiều chuyện đáng nhớ (kì 2)

Chuyện anh Trương Quốc Vinh

Hồi ở nhà B3, anh Trương Quốc Vinh lớp KT20A có dấu hiệu bệnh tâm thần (?) gì đó. Anh chui cửa vào dọn một góc gác xép tầng 3 bị hỏng khu vệ sinh để ở, không ngủ trong phòng KTX nữa. Trốn vào ngồi học trong khu vệ sinh là chuyện lạ - thực ra cũng chẳng ảnh hưởng đến ai – nhưng quan trọng là chuyện anh cứ xung phong phát biểu và một số chuyện anh nói, anh trao đổi có cảm giác như anh đang ở thế giới khác. Môn Triết học năm thứ nhất mọi người thấy anh nói những chuyện không ai hiểu, nhưng đến môn Kinh tế chính trị năm thứ 2 thì nhiều người cho rằng trong phát biểu của anh là có gì đó ngớ ngẩn, vô nghĩa. Thế rồi người ta cho rằng anh đang bị bệnh tâm thần cần phải đi cứu chữa ở Bệnh viện tâm thần Sài Đồng. Tôi còn nhớ một chi tiết hồi đó anh phát biểu: “Muốn đưa đất nước lên sản xuất lớn XHCN thì trước hết phải giải quyết vấn đề chiến tranh biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc”. Khi đó là năm 1978, chiến tranh biên giới Việt – Trung[1] chưa xảy ra – anh có ý “tiên tri” từ đâu vậy? Anh viết rất to bằng phấn trên tường trong phòng vệ sinh TRƯƠNG QUỐC VINH – QUỐC TẾ VINH. Có lẽ cho đến năm thứ 3 anh Vinh không những không chơi với ai mà có khi anh cũng không biết tên mọi người trong lớp.

Thứ Sáu, tháng 11 28, 2025

Vào năm thứ 3 – nhiều chuyện đáng nhớ (kì 1)

Mở đề

Năm thứ 3 được thiết kế khá thú vị: một gạch nối quan trọng giữa các nhóm kiến thức. Hết năm thứ 3 là chúng tôi hoàn thành kiến thức khoa học cơ bản, khoa học cơ sở, thể chất, quốc phòng và các hoạt động lao động. Các môn học trồng trọt khác cùng với môn Trồng trọt đại cương (học năm thứ 2) được ghép nối để thành bộ kiến thức cây trồng cho kĩ sư kinh tế. Nhiều môn học thuộc chuyên môn kinh tế nông nghiệp được thiết kế để hình thành nội dung thực tập giáo trình lần 1 – khối HTX sản xuất nông nghiệp.

Chuyện năm thứ 2 chỉ còn vài chi tiết về các tuần lao động và môn học Trồng trọt đại cương tôi sẽ tổng hợp theo nhóm bài viết riêng.

Thứ Sáu, tháng 11 21, 2025

Chuyện học môn thể dục và môn quân sự


Từ năm thứ nhất đến hết kì 1 năm thứ 3, chúng tôi học môn thể dục và môn quân sự. Thể dục là môn giáo dục thể chất cho sinh viên tất nhiên là không thể thiếu trong chương trình đào tạo. Còn quân sự là môn bắt buộc, là nghĩa vụ của thanh niên trong tất cả các trường đại học phải biết những kiến thức quốc phòng cơ bản bằng những bài học về kĩ thuật cá nhân, phối hợp đồng đội trong chiến tranh và những kĩ thuật vũ khí cơ bản.

Môn thể dục

Năm thứ 1, chúng tôi được thầy Đỗ Mộng Ngọc dạy môn điền kinh chủ yếu là rèn luyện thể lực cho sinh viên. Kiểm tra dựa vào thành tích vận động viên hạng phổ thông: chạy 100m phải đạt dưới 15 giây và phải chạy được cự li 1600 m (4 vòng quanh sân vận động) không bỏ cuộc. Và như tôi đã có ghi chép ở bài năm thứ nhất[1], tiêu chuẩn điền kinh lúc ấy ở ĐHNNI được coi là hơi cao nhưng bộ môn thể dục chọn tiêu chuẩn này. Đây cũng là lý do tôi không đạt điểm kiểm tra.

Chủ Nhật, tháng 11 16, 2025

Chúng tôi học tiếng Nga (kì 3)

 

4. Vài mẩu chuyện liên quan đến tiếng Nga

Hồi vào bộ đội, tôi có đem theo bộ từ điển tiếng Nga 2 tập rất to và nặng (cỡ gần 2kg một tập). Tôi cũng mang theo vài cuốn sách kinh tế tiếng Nga và đã dịch đọc hiểu được cơ bản. Tôi còn nhớ đó là cuốn nói về tăng năng suất lao động trong nông nghiệp nên từ vựng cơ bản đã biết, khi đọc ít cần dùng từ điển. Tuy nhiên công việc quân đội chẳng liên quan gì đến nguyên môn nên tôi không đọc sách tiếng Nga nữa.

Khi ra quân tôi vẫn đem theo được 2 cuốn từ điển này về trường. Như đã có ghi chép ở thời kỳ quân ngũ, có anh bạn tên Lê Văn Đúp học ngành thủy lợi đại học Cần Thơ khi đó có ý muốn tôi để lại cho anh 2 cuốn từ điển này (hồi đó rất khó mua) nhưng tôi đã cố đem ra Hà Nội. Việc đó làm tôi cứ ân hận mãi chuyện không đã cho bạn một vật mình có mà bạn đang cần!

Thứ Bảy, tháng 11 15, 2025

Chúng tôi học tiếng Nga (kì 2)

 

2. Chuyện học tiếng Nga chuyên ngành năm thứ ba

Vào năm thứ 3 chúng tôi được học thầy Tôn An, giáo viên tiếng Nga chuyên ngành kinh tế. Thầy Tôn An người đậm, thấp, nói to, mắt hơi có chút tật (lác nhẹ) nhưng thầy vui, hay pha trò cười. Thầy là dân nội thành, nhà ở phố Quan Thánh nhưng thường vẫn ở nhà tập thể cán bộ. Tôi còn nhớ có buổi tối lên liên hệ công việc của lớp, chúng tôi đợi đến khi có điện mới dám vào gặp thầy. Thầy ở tầng 3 nhà A2 khu tập thể cán bộ cùng các thầy khác. Chúng tôi vào khi các thầy đang ở trần vì trời quá nóng lại vừa mất điện. Thầy lấy cái áo may ô mặc, vừa mặc vừa nói: “thôi tao mặc áo may ô thôi nhé, chúng mày thông cảm” và nói “một yêu anh có may ô”. Dùng từ mày tao với chúng rất dân dã và câu chuyện nói với nhau hơi giống kiểu chợ giời nhưng chúng tôi thấy gần gũi lạ thường.

Thứ Sáu, tháng 11 14, 2025

Chúng tôi học tiếng Nga (kì 1)


Môn Nga văn hồi chúng tôi đi học được thiết kế cho 3 năm học: năm thứ nhất học 45 tiết; năm thứ 2 học 105 tiết; năm thứ 3 học 105 tiết. Có 3 lần kiểm tra và 2 lần thi[1]. Đây là môn học trải 3 năm liên tục với số tiết 255 - nhiều nhất trong các môn ở đại học (chiếm gần 10% số tiết học toàn chương trình đại học).

Chúng tôi được quán triệt phải học tiếng Nga vì Bác Hồ[2] đã nói “Là người cách mạng thì phải học tiếng Nga – tiếng nói của Lênin”. Vào đại học tôi mới biết có vài anh chị đã được học tiếng Nga hồi cấp III. Tôi rất thán phục anh Ngô Quý Quân đọc rất nhanh mấy bài học đầu tiên vì anh đã được học hồi cấp III. Khi đó ở Thanh Hóa, chúng tôi không được học ngoại ngữ nào ở trường phổ thông.

Chủ Nhật, tháng 11 09, 2025

Năm thứ 2 – Ký ức môn học Địa lý kinh tế và vài suy ngẫm về nghề thầy

                                                              Nhân tháng 11, xin có vài lạm bàn về nghề thầy

 

Môn học thỉnh giảng – Địa lý kinh tế

Vào kỳ 2 năm thứ 2, chúng tôi háo hức đón nhận môn học có tính chuyên ngành đầu tiên – môn Địa lý kinh tế.

Hồi học phổ thông, Địa lý là môn học về các vùng đất, địa hình, dân cư và các hiện tượng trên trái đất, gồm Địa lý tự nhiên và Địa lý kinh tế - xã hội. Địa lý tự nhiên tập trung vào các hệ thống tự nhiên (khí quyển, thủy quyển, thạch quyển, địa quyển…), còn Địa lý kinh tế - xã hội nghiên cứu về dân cư, kinh tế và xã hội ở một quốc gia hoặc khu vực cụ thể. Học hết phổ thông nghĩa là người học đã được đi khắp thế giới qua môn Địa lý – nhưng không hiểu sao chẳng ai nhớ được mấy. Nay được học Địa lý kinh tế như kiến thức chuyên môn cho ngành Kinh tế nông nghiệp nên háo hức là tất nhiên rồi!

Thứ Tư, tháng 10 29, 2025

Chuyện năm thứ 2 – Môn Kinh tế chính trị và kí ức hai người thầy

 

Sau Triết học, Kinh tế chính trị cũng là môn học cho tất cả các ngành học trong trường. Riêng ngành Kinh tế nông nghiệp, môn Kinh tế chính trị học 240 tiết chia 2 kì, nhiều hơn các ngành kĩ thuật tới 60 tiết.

Thứ Sáu, tháng 10 24, 2025

Một chuyến thực tập giáo trình nhiều kỉ niệm

Cùng nhau nhớ lại kỉ niệm về Mộc Châu 1978-1979 


Từ giữa tháng 12/1978 đến giữa tháng 1/1979, theo chương trình học kì 1 năm thứ 4, chúng tôi có chuyến đi thực tập giáo trình khu vực kinh tế quốc doanh, thời gian 8 tuần. (Lần thứ nhất đi thực tập khu vực kinh tế HTX 4 tuần tại Gia Lâm). Khoa Kinh tế nông nghiệp của ĐHNNI có địa bàn thực tập chiến lược là Nông trường quốc doanh (NTQD) Mộc Châu, Sơn La, cách Hà Nội 185km đi theo đường số 6 cũ[1]. Tất cả sinh viên Khoa Kinh tế nông nghiệp của ĐHNNI ngay từ khi mới vào trường đều biết sẽ được đến thực tập giáo trình tại NTQD Mộc Châu.

Thứ Năm, tháng 10 16, 2025

Học và thi môn Toán kinh tế và Vật lý đại cương năm thứ 2 đại học

 

Theo thiết kế chương trình, kỳ 1 năm thứ 2 chúng tôi còn 2 môn học thuộc nhóm khoa học cơ bản là Toán kinh tế và Vật lý đại cương.

Môn Toán kinh tế

Môn toán năm thứ nhất là Toán giải tích và Lý thuyết tập hợp (gọi chung là Toán cao cấp). Toán kỳ này còn được gọi là Toán kinh tế với 2 phần là Vận trù học và Điều khiển. Vẫn là thầy Thanh dạy với thời lượng 120 tiết. Hồi này khi dạy trên lớp thường nghe nói thầy đang ôn thi nghiên cứu sinh ở trường KTQD. Thầy dạy cũng không còn hay như năm thứ 1 - tôi nghĩ thế - lại hay phàn nàn về việc không được dành nhiều thời gian ôn thi. Tuy nhiên tôi thấy thầy dạy phần Vận trù học khá lý thú, còn phần Điều khiển thì hơi qua loa chút. Thầy nói toán điều khiển còn mới lắm, nhất dạy cho ngành kinh tế là ở các trường đại học Việt Nam. Có lẽ đúng vì năm sau thầy đi ôn thi nghiên cứu sinh nên khóa KT21 đã không được học môn này (thay bằng toán xác suất).

Thứ Hai, tháng 10 13, 2025

Năm học thứ 2 đại học – vài ký ức chung

  

Hết năm thứ nhất đại học mà chưa thấy cái “học thuật đại học” từ phía người học là gì, vẫn như kiểu học “phổ thông cấp IV”. Phòng nghe giảng bài thì gọi là giảng đường, chỉ khác với cấp III là ai muốn ngồi đâu thì ngồi chứ không bị phân công theo giáo viên chủ nhiệm. Ở KTX thì tất nhiên có giường tầng, ăn cơm bếp tập thể và tối chủ nhật hàng tuần có điểm danh tập trung từ 7.00-7.30pm (đôi khi có giáo viên chủ nhiệm).

Bối cảnh năm thứ nhất là khi đất nước vừa hòa bình thống nhất, đời sống kinh tế từ góc nhìn sinh viên năm 1975 là tạm ổn (thấy qua bữa ăn tập thể, điện, nước ở KTX) nhưng qua 1976 thấy khó khăn dần. Các buổi tối những năm 1976 – 1980 thường xuyên mất điện và nước. Có điện khoảng 9.30pm, loa trong KTX phát buổi thời sự tối, các phòng ầm ấm xô chậu tranh nhau đi lấy nước. Điện sáng bừng một lúc thì mờ yếu dần vì hàng mấy trăm cái may-xo đồng loạt đun trộm nước uống. Ai cũng có cái đèn dầu bé tẹo để đi học tối, nhất là kỳ ôn thi.

Thứ Năm, tháng 10 09, 2025

Thêm một chuyến đi trên hành trình hạnh phúc


Ở độ tuổi 70-80, chúng tôi lại gặp gỡ và đi – mà đúng hơn là dặt dẹo đi. Không phải đi tìm hạnh phúc mà đi trên HÀNH TRÌNH HẠNH PHÚC.

Cái thời điểm gọi là xuất phát ấy đã lâu lắm rồi – 50 năm trước. Lâu ghê – một nửa thế kỉ rồi còn gì! Nếu tính từ khi ra trường thì cũng đã 45 năm: từng làm nghề, chán nghề và thảnh thơi hưu trí. Từ khi ra trường, chúng tôi mỗi ngày nhặt dăm hạt cát, kiếm từng viên gạch để mỗi người xây nên cái hạnh phúc cho riêng mình. Cần mẫn thế, chăm chỉ thế… để rồi hôm nay chúng tôi đi bước nào cũng thấy mình đi trong Hạnh phúc.

Chủ Nhật, tháng 9 21, 2025

Ông nội tôi – vị Tộc trưởng Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm

 Nhân 86 năm ngày mất ông nội tôi 28/7/1939 (Kỉ Mão) - 28/7/2015 (Ất Tỵ). Các tư liệu được trích tại Phúc Ấm Lê Hữu tộc tôi đã viết 2021

1. Thông tin trang phả

1.1 Nguyên văn


Trang phả của ông và dịch nguyên văn

 

Thứ Bảy, tháng 9 06, 2025

Thử bàn về Giả thuyết về Thượng Tổ của cụ Khởi Tổ Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm

 

Dòng họ Lê Hữu sống tại Phúc Ấm căn cứ theo Tộc phả đã từ khoảng 350 năm trước đây. Từ những khảo cứu trên kết hợp với tư liệu Tộc phả được lưu giữ đến nay, chúng tôi xin trao đổi một số thông tin để làm rõ hơn sự cư trú lâu đời của Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm, từ đó có thêm cơ sở để tiếp tục khảo cứu trong quan hệ hợp phả với đại gia đình họ Lê cả nước.

1.  Nơi phát tích của Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm

Tính đến nay (năm 2021) Dòng họ Lê Hữu tại xóm Phúc, làng Phúc Ấm đã có 14 đời được trực tiếp ghi chép và cập nhật. Tại Phúc Ấm còn những di sản quan trọng: Khu mộ cụ Khởi Tổ (Đời Thứ 1) và mộ của những vị Tiên tổ các đời sau. Cuốn phả Hán Nôm được biên chép đầy đủ từ đời Khởi Tổ đến nay. Tổng hợp từ Tộc phả cho thấy Dòng họ Lê Hữu đã định cư ở Phúc Ấm từ khoảng 1670 ± 10 (Thế kỷ XVII) đến nay đã liên tục khoảng 350 năm. Từ sau năm 1950 xuất hiện sự định cư của người Dòng họ Lê Hữu ở địa phương khác (do thoát ly khỏi quê hương đi kháng chiến, đi học tập và công tác...). Phúc Ấm được coi là nơi phát tích để phát triển sau này của Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm tại các địa phương khác trong cả nước.



Ảnh 1: Vài nét về niên đại các vị Tộc trưởng



Ảnh 2: Sự truyền ngôi các vị Tộc trưởng 350 năm qua

 

2. Các giả thuyết về Thượng Tổ của cụ Khởi Tổ Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm

Cụ Khởi Tổ Dòng họ Lê Hữu từ đâu đến lập nghiệp tại Phúc Ấm là câu hỏi chưa được khảo cứu. Chúng tôi thấy có những giả thuyết sau về Thượng Tổ[1] cụ Khởi Tổ:

a/ Nếu trước thời Ngô Quyền, ở Đông Sơn, Thanh Hóa có Lê Sương và Lê Ngọc thì cũng có thể coi đây là một giả thuyết về Thượng Tổ của Dòng họ. Hơn nữa, làng Phúc Ấm chỉ cách Kinh đô Trường Xuân (Đồng Pho) chỉ 2-3km thì rất có thể thời đó đã có người họ Lê ở Phúc Ấm (cũng như có người họ Lê ở Cổ Định, Đồng Pho, Hoàng Lạp...). Đây là một giả thuyết không thể bỏ qua.

b/ Trong phả họ Lê của vị Tổ Lê Đột ở Phong Mỹ (Xuân Tân, Thọ Xuân) có nói rõ về một "Chi Đồng chiêm" ở Đông Văn, Đông Sơn. Đông Văn chỉ cách làng Phúc Ấm khoảng 3km về phía Đông. Biết đâu nhánh này có người đã di cư về Phúc Ấm để sống?

c/ Tại các địa phương khác trong vòng bán kính 10km đều có Dòng họ Lê nói chung, Lê Hữu nói riêng. Những địa danh được coi là làng cổ (đã tồn tại từ hơn 1000 năm) như Cổ Bôn, Cổ Định, Hữu Bộc, Đồng Pho,... đều có người họ Lê Hữu. Như vậy, Lê Hữu từ Phúc Ấm tại sao lại không thể có từ thời các làng cổ trên?

d/ Các biến cố lịch sử thời Tiền Lê (khi nhà Lý lên ngôi) và thời Hậu Lê những năm Nhà Mạc, Nhà Tây Sơn, Nhà Nguyễn có liên quan gì đến sự ly tán, mai danh, ẩn tích... của dòng Hoàng tộc và quan lại họ Lê đến ở các vùng quê héo lánh? Đây cũng nên coi là cơ sở để xem xét khảo cứu.

3. Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm trong quan hệ với các Dòng họ khác

Tại xã Đồng Tiến, hiện làng nào cũng có người mang họ Lê Hữu (chẳng hạn gia đình ông Lê Hữu Nghênh ở Đồng Xá, gia đình ông Lê Hữu Khu ở Đồng Vinh, gia đình ông Lê Hữu Quyền ở Trúc Chuẩn). Các xã quanh làng Phúc Ấm (Đồng Thắng, Đông Hòa, Đông Yên, Đông Phú, Đông Nam) cũng đều có người mang danh Lê Hữu.

Trong làng Phúc Ấm còn có nhiều họ Lê khác tên đệm như Lê Văn, Lê Đình, Lê Công, Lê Quang, Lê Đăng... Các tên đệm khác nhau được coi như các phái hoặc chi họ khác nhau. Cùng với các họ khác như Nguyễn (với các đệm Hữu, Đình, Văn...), Hoàng, Vũ, Đỗ... họ Lê chung sống rất hài hòa bình yên hàng trăm năm qua tại làng Phúc Ấm.

Cũng tại Phúc Ấm hiện có 3 Dòng họ mang danh Lê Hữu (như gia đình ông Lê Hữu Khươi ở xóm Thọ; ông Lê Hữu Tự ở xóm Quý). Tuy nhiên trong 80 năm qua không thấy quan hệ gì với nhau về phả và sinh hoạt Dòng họ. Đây cũng là điểm chưa được khảo cứu về nguồn gốc của 3 Dòng họ mang cùng danh Lê Hữu trong cùng một làng. Chính vì thế, bản Tộc phả này được định danh đầy đủ phải là Dòng họ Lê Hữu tại xóm Phúc, làng Phúc Ấm để phân biệt với 2 dòng họ Lê Hữu khác cùng làng, một ở xóm Thọ, một ở xóm Quý. Địa danh xóm Phúc để nói rõ thổ cư các vị Tộc trưởng và nơi có Từ đường Dòng họ. Tuy nhiên, để viết gọn lại và thống nhất với Lời Tựa bản phả Hán Nôm là Phúc Ấm Lê Hữu tộc, chúng tôi gọi tắt là Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm.

Như vậy, từ đơn vị cư trú độc lập (làng, xóm) cho đến đơn vị hành chính (cấp xã) đã cho thấy sự tồn tại riêng biệt, đồng thời của những người Dòng họ khác tên, khác đệm, thậm chí cùng đệm. Mỗi Dòng họ hiện nay được liên hệ ngày càng phổ biến qua các hoạt động sinh hoạt Dòng họ, các nghi lễ cúng tế, chăm sóc mồ mả... Tính riêng biệt với các đặc trưng của từng Dòng họ tạo thành sự phong phú về sinh hoạt cộng đồng trong quan hệ xóm giềng luôn là điểm mạnh của làng Phúc Ấm có truyền thống đoàn kết từ nhiều trăm năm qua. Truyền thống đó ngày nay đang được phát triển trong sự liên hệ mang tính tổ chức chặt chẽ của chính quyền các cấp. Ngày nay, mỗi người mang Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm luôn tự hào về nơi phát tích, tự hào về Dòng họ để tùy hoàn cảnh và điều kiện của mình mà hướng về cội nguồn với lòng thành kính trong tâm linh, với niềm tin về sự phát triển quê hương ngày càng tốt đẹp.

 



[1] Thượng Tổ: những vị sinh ra cụ Khởi Tổ.

CÁC CỤ KHỞI TỔ DÒNG HỌ LÊ HỮU PHÚC ẤM

Nhân ngày giỗ cụ Ông và cụ Bà Khởi Tổ (hay Đời Thứ nhất), ghi chép dưới đây cơ bản từ thông tin Tộc phả Lê Hữu Phúc Ấm.

 

1. Thông tin trang phả

1.1 Nguyên văn

Ảnh trang phả

Ảnh trang phả viết về Đời thứ nhất

 

Dịch từ trang phả Hán tự

        Đệ Nhất đại tự Pháp Nghị

        Thất nguyệt thập tứ nhật kỵ

        Táng tại Cồn Nguộc

        Tỷ hiệu Ân

        Thất nguyệt thập tứ nhật kỵ

        (Sinh hạ)

    Tự Pháp Nghĩa

    Tự Pháp Diệu

    Tự Phúc Trực

 

1.2 Dịch nghĩa

Cụ Đời Thứ 1 có tên tự[1] là Pháp Nghị, mộ táng tại Cồn Nguộc, ngày giỗ là 14-7. Vợ cụ tên hiệu là Ân, ngày giỗ 14-7.

Các cụ sinh hạ: Trưởng nam[2] tên tự là Pháp Nghĩa, thứ nam tên tự là Pháp Diệu và thứ nam (út) tên tự là Phúc Trực.

2. Phân tích, bổ sung, cập nhật thông tin

Các thông tin về cụ Đời Thứ 1 (Khởi Tổ) ngắn gọn, giản dị nhưng rất quan trọng. Việc trang phả có được đầy đủ như trên là rất quý giá bởi thông tin đó làm rõ vị Khởi Tổ của Dòng họ Lê Hữu cư trú tại Phúc Ấm được tính từ đây.

Vợ cụ ở trang phả chỉ ghi hiệu là Ân, nhưng trong bia mộ ghi rõ Lê Lệnh thị[3] hiệu Từ Ân đã làm rõ cụ bà cũng mang họ Lê, thuộc dòng dõi gia đình danh giá. Các cụ đều có ngày mất là 14-7 (hội kỵ).

Tên tự cụ Khởi Tổ là Pháp Nghị, vợ cụ tên hiệu là Từ Ân. Pháp (法) nghĩa là phép tắc, gương mẫu, khuôn pháp, nghiêm túc, khéo léo (có thuật, có tài ăn nói, xử thế). Nghị (議) mang ý nghĩa nghị luận, bàn luận, sắp đặt trước. Ân (恩) có nghĩa ơn, ân cần, ân trời. Chồng tên tự là Nghị, vợ tên hiệu là Ân, các con có tên tự là Nghĩa (義): có nghĩa, tình nghĩa; Diệu (妙): kỳ diệu và Trực (直): thẳng thắn, trung trực. Nghị – Ân; Nghĩa - Diệu – Trực là những suy tôn của đời sau cho các cụ Đời Khởi Tổ thật nhiều ý nghĩa sâu sắc.

Thông tin mộ phần và bia mộ

Tại phả có ghi mộ các cụ Khởi Tổ táng tại Cồn Nguộc. Thực địa 2021 tại Cồn Nguộc, mộ các cụ Khởi Tổ được giữ gìn nguyên vẹn, tôn tạo uy nghi. Mộ đã được tu tạo và bồi đắp nhiều lần nên đây là ngôi mộ cao, to nhất ở phần chính giữa Cồn Nguộc.

Ảnh bia mộ cụ Ông-Bà Khởi Tổ: mặt trước (trái) và mặt sau (phải)


Nguyên văn văn tự trên bia

        Mặt trước

        Lê Hữu tộc bia

        Nhất đại Khởi Tổ Lê Quý công tự Pháp Nghị

        Tỷ Lê Lệnh thị, hiệu Từ Ân.

        Thất nguyệt thập tứ nhật hội kỵ.

        Mặt sau

        Ất Sửu niên, nhị nguyệt thập tam nhật tu tạo bia.

 

Dịch nghĩa văn tự bia

        Mặt trước

        Bia Dòng họ Lê Hữu

        Đời Thứ 1 Khởi Tổ Lê Quý công tên tự là Pháp Nghị;

        Vợ: Lê Lệnh thị tên hiệu là Từ Ân. Giỗ 14-7 hội kỵ (cùng ngày).

        Mặt sau

        Tu tạo bia ngày 13-2 Ất Sửu.

Bia khẳng định rõ ràng sự suy tôn Khởi Tổ. Cụ bà Khởi Tổ cũng người họ Lê, "Lệnh thị" khẳng định thêm ý nghĩa quan trọng của gia đình cụ bà. Các cụ có gia sự tốt đẹp, được ca ngợi qua các từ Quý công, tự Pháp..., Lệnh thị, hiệu Từ... (các từ dành cho người sống thọ, hưởng phúc, gia thế yên ổn, phát triển).

3. Niên đại, bối cảnh xã hội

Các thông tin trên không thể có căn cứ để xác định niên đại một cách rõ ràng. Tuy nhiên, xét về phả, thông thường cách tính mỗi đời là khoảng 20-35 năm (tùy theo từng đời), suy ra cụ Khởi Tổ sinh khoảng 1670 ± 10, mất khoảng 1725 ± 10, tức cụ sinh cách hiện nay khoảng 350 ± 10 năm (Xem thêm bài Nhìn lại lịch sử phát triển Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm – Phần thứ hai). Từ đó xác định các biến cố liên quan đến thời đại, đến bối cảnh lịch sử đời Khởi Tổ. Vào thời đó, lịch sử đất nước ở vào thời Lê Trung Hưng[4] nhà Hậu Lê. Cụ Khởi Tổ đã chọn Đông Sơn làm nơi lập nghiệp, lấy Phúc Ấm để an cư, coi là quê hương để cư trú khoảng 350 năm qua (Xem thêm Bài Làng Phúc Ấm... Phần thứ hai).

4. Giá trị đóng góp

Đây là dấu mốc khởi đầu cho Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm. Hồng phúc các cụ để lại là Dòng họ Lê Hữu phát triển liên tục, cư trú an lạc tại làng Phúc Ấm kéo dài suốt 350 năm qua.

5. Giá trị di sản

- Nguồn gốc Dòng họ

Dòng họ Lê Hữu Phúc Ấm được minh chứng rõ ràng, đặc biệt chứng tích mộ các cụ Khởi Tổ, Khu mộ Cồn Nguộc cùng các ngôi mộ của Dòng họ suốt hơn 3 Thế kỷ.

- Về sự hội mộ, hội bia và hội kỵ

Các cụ đã được an táng cùng nhau trong một ngôi mộ đất đắp to có ý nghĩa được tôn giữ cho mai sau sự ổn định, tập trung, dễ nhận biết, dễ tìm kiếm trong không gian tưởng niệm. Ngay nay, trong quy tập hoặc xây dựng mới, rất nhiều gia đình, dòng họ cũng đang thực hiện để các cụ ông - cụ bà cạnh nhau theo nguyên tắc "nam tả, nữ hữu" trong các nghĩa trang hay các khu mộ phần gia đình. Việc các cụ xưa đã biết và thực hiện điều này cho thấy tư duy về tầm nhìn mang giá trị lâu dài, bền vững.

Việc hội kỵ cũng là điểm đặc biệt hiếm và may mắn. Tại phả và bia mộ đều nêu rõ sự hội kỵ 14-7. Cũng như cách thể hiện hội mộ và hội bia, việc hội kỵ có giá trị quan trọng về thông tin để sự hiếm có này trở thành sự kiện dễ nhớ, dễ thực hiện nghi lễ khi Dòng họ cùng tôn kính Đời Khởi Tổ, đồng nghĩa với việc cùng tôn kính cả 2 cụ, cùng tưởng nhớ về cả cụ ông và cụ bà. Sự hội mộ, hội bia, hội kỵ không chỉ thể hiện tính độc đáo có tư duy chủ kiến hướng về dài lâu mà còn sự khôn khéo về lý lẽ, sự tinh tế về hành lễ, sự hợp nhất kính trọng tôn thờ giới (không phân biệt nam nữ), không bị phân tán không gian, thời gian... Chúng tôi đánh giá cao điều này trong việc nhất quán, thống nhất tạo sức tập trung tưởng nhớ cội nguồn, tập trung trong thực địa, trong ý chí, trong Tộc phả...

Ngày giỗ cũng rất đặc biệt: 14-7. Trong dân gian, tháng 7[5] là tháng báo hiếu. Quan niệm Rằm tháng 7 là báo ơn sinh thành: “Cúng cả năm không bằng Rằm tháng 7”. Ngày 14 là ngày trước Rằm, ngày mà nhà nhà chuẩn bị cúng tế tổ tiên, đốt hàng mã cho người đã khuất, tế cô hồn... Với không khí chung đó, ngày giỗ các cụ Khởi Tổ thật nhiều ý nghĩa.

Di sản từ các cụ Khởi Tổ mặc dù giản dị ở phần phả, phần bia, phần mộ nhưng các yếu tố Đời Thứ 1 bảo đảm sự trường tồn, phát triển và bền vững của Dòng họ Lê Hữu.

6. Những điểm chưa khảo cứu được

- Cụ Khởi Tổ từ đâu đến?

Trong Lời Tựa cuốn phả gốc, ông Lê Hữu Đát có ghi "Tổ tôn ngưỡng Đông Sơn chi thịnh khí, tư Phúc Ấm dĩ an cư"... đã làm rõ thêm việc cụ Khởi Tổ chọn Đông Sơn, Phúc Ấm là nơi cư ngụ, là nơi có đất thịnh để ổn định và phát triển Dòng họ. Điểm quan trọng là khoảng 350 năm qua, Dòng họ vẫn duy trì sự cư ngụ và phát triển tại nơi lựa chọn ban đầu này. Trong văn hóa và lịch sử, Đông Sơn là một trong những nơi sinh sống của người Việt cổ (di chỉ trống đồng Đông Sơn, Văn hóa Đông Sơn) và Dòng họ Lê là một trong 3 dòng họ lớn nhất của Việt Nam có nguồn gốc cư trú lâu đời tại Thanh Hóa. Suy ra, cụ Khởi Tổ rất có thể là một chi dòng họ Lê tại Thanh Hóa khi đó đã sống ở Đông Sơn hoặc lân cận và đã đến khai hoang lập ấp tại Phúc Ấm (Xem thêm các bài ở Phần thứ hai).

- Bia mộ được lập mới, vậy trước đó có bia cũ?

Các cụ Khởi Tổ đã mất cách đây khoảng 300 năm, việc lập bia chắc chắn được tôn tạo từ các đời sau. Trên bia mộ còn ghi được ngày tháng năm tu tạo. Đó là ngày Xuân mùa Thanh Minh tảo mộ. Ất Sửu không chắc chắn được niên đại, nhưng trên thực địa, đây là bia đá to, chữ khắc hai mặt đẹp, rõ nét, đường bệ, nghiêm trang. Mặc dù được chôn sâu chìm chỉ hở đầu bia nhưng khi tôn tạo năm 1991 cho thấy may mắn còn nguyên vẹn. Căn cứ trên mức độ ăn mòn theo thời gian chúng tôi cho rằng bia được lập năm Ất Sửu, tức là năm 1925 (tất nhiên nếu có thể suy ra các năm Ất Sửu trước đó là 1865, 1805, 1745...). Trong điều kiện sự ăn mòn của mưa gió cho thấy bia rất có thể được tu tạo 1925, do Tộc trưởng Lê Hữu Đát (Đời Thứ 8) thực hiện. Các bia được ông Lê Hữu Đát lập cùng thời như bia mộ bà Nguyễn Thị Trạc (Đời Thứ 8), bia mộ Bà Cô Tổ, bia mộ ông Thuần Thủy (Đời Thứ 7)... cũng có mức độ rõ nét tương tự. Một thời điểm năm 1865 cũng đáng chú ý vì có liên quan đến cụ Tộc trưởng Phúc Huy (Đời Thứ 4). Tuy nhiên nếu cụ Phúc Huy có lập bia thì cũng đã bị mòn mất chữ, nên sau đó đã được ông Lê Hữu Đát đã tu tạo lại vào 1925 là hợp lý. Vậy ngày ghi tu tạo trên mặt sau của bia là 13-2 Ất Sửu chính là ngày 7-3-1925.

- Sự trùng hợp may mắn: Ai đã quy tập đưa các cụ táng về một mối?

Rất có thể cụ Phúc Huy, Tộc trưởng Đời Thứ 4 là người có công lao và có điều kiện dựng lại cơ nghiệp, mồ mả dòng tộc. Đối với cụ Phúc Huy thì cụ Khởi Tổ cách cụ 4 đời, nghĩa là cụ Phúc Huy là chắt nội (gọi cụ Khởi Tổ bằng ông cố/kỵ).

Việc quy tập về một mối ngày nay rất phổ biến, nhưng thời điểm xa xưa ấy mà táng đặt cả hai cụ trong một ngôi mộ là có chủ ý định hướng rõ ràng. Ngoài ra cũng có thể suy đoán việc này được quy tập từ nơi khác về Cồn Nguộc. Cụ Phúc Huy đã chọn được Cồn Nguộc làm Khu mộ của Dòng họ rất có thể từ sự kiện được truyền ngôn về Bà Cô Tổ. Đây là chứng cứ lấy Cồn Nguộc làm nơi linh thiêng cho Dòng họ và cất bốc mộ các cụ Khởi Tổ về đây làm dấu mốc cho Dòng họ về lâu dài.

*  *

*

 

Mỗi lần nghĩ về Dòng họ, mỗi lần thắp hương cúi đầu viếng mộ các cụ Khởi Tổ và các vị Tiên tổ khác, những người con trong Dòng họ Lê Hữu đều tưởng nhớ công lao to lớn của người Khởi Tổ và đều thầm nghĩ đến sự may mắn mà con cháu đời sau được hưởng phúc từ các cụ. Ẩm Hà Tư Nguyên (uống nước nhớ nguồn) là mỗi niềm thành kính của mỗi người con trong Dòng họ, dù đi đâu về đâu, sinh cơ lập nghiệp trăm miền đều luôn hướng về nguồn cội Dòng họ Lê Hữu, nhớ về nơi phát tổ Phúc Ấm, nhớ về những giá trị di sản cội nguồn còn vẹn nguyên từ thời cụ Khởi Tổ. Như một lời kính lạy, viễn tôn hậu sinh Đời Thứ 10 xin được sự phù hộ của các cụ Khởi Tổ và các vị Tiên tổ để ghi chép biên tập Tộc phả, mong có được nhiều điều bổ ích cho truyền thống Dòng họ.

Kính dâng ! 

 



[1] Tên tự và tên hiệu là cách gọi tên đã giải thích ở Phần thứ nhất. Một số vị có ghi rõ húy (như Đời Thứ 4, Đời Thứ 7, Đời Thứ 8). Trường hợp không ghi húy, nhất là các vị từ các Đời Thứ 1 – Đời Thứ 6 thì tên tự và tên hiệu được đời sau suy tôn người đã khuất (hiểu như tên hèm hay tên thụy) dùng để xưng khi tế lễ. Tuy nhiên một số trường hợp có thể lại chính là tên tục (tên thường gọi).

[2] Cách viết trong trang phả cũ: phía phải là giới nam: từ trưởng đến thứ, tính từ giữa ra bên phải; trái là giới nữ: trưởng đến thứ, tính từ giữa ra phía trái. Đây là cách viết phân rõ được thứ tự theo giới nhưng không xác nhận được thứ tự sinh khi nhập cả 2 giới.

[3] Khi các vị dâu có thêm chữ Lệnh thị được hiểu là thông gia của Dòng họ Lê Hữu thuộc gia đình dòng dõi danh giá (gia đình có chức sắc, giàu có...)

[4] Thời Lê Trung Hưng nhà Hậu Lê. Cụ sống ở các đời Vua Lê Huyền Tông (1663-1671); Lê Gia Tông (1672 – 1675); Lê Hy Tông (1676-1705) và Lê Dụ Tông (1705-1729).

[5] Tháng 7 âm lịch (theo Phật giáo) nặng về báo ơn sinh thành, là tiết xá tội vong nhân, nhờ ơn đức Phật mà tất cả các vong linh bị đoạ trong chốn khổ đau được tế bạt, siêu thoát. Ở Việt Nam tháng 7 với đạo hiếu: báo hiếu cho tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Phật giáo quan niệm phải yêu thương tất cả mọi loài, kể cả những người không mồ không mả, chết không thờ tự hay còn gọi là cô hồn.

 

Thứ Hai, tháng 9 01, 2025

Chuyện năm thứ nhất – Vẫn là học và thi các môn còn lại

Ghi chép này để nhớ ơn anh Nguyễn Đăng Hợp và tặng anh Lê Ngọc Lan

Năm thứ nhất chúng tôi còn thi vấn đáp môn Nguyên lí sinh học và thi viết môn Hóa đại cương cùng 2 môn kiểm tra là Nga văn và Thể dục (điền kinh).

Các môn thi này tôi không có nhiều ấn tượng về học thuật cũng như về giảng viên. Tôi ghi lại một số kí ức trong bài này để kết thúc chuyện học hành năm thứ nhất đại học. Tất nhiên, ngoài học hành thì còn rất nhiều kỉ niệm vẫn như y nguyên trong kí ức, tôi sẽ đề cập vào hoàn cảnh thích hợp. Cứ tạm coi đây như là tôi đang trôi theo dòng kí ức việc học tập và lao động…

Môn Nguyên lí sinh học

Như đã đề cập ở bài “Cuộc sống sinh viên những ngày đầu tiên”[1], tôi đã không nhớ được tên thầy giáo dạy mặc dù sau này tôi đã gặp lại thầy vài lần ở Trường Đại học Tại chức Nam Định (thầy đã chuyển về Nam Định từ khoảng 1977-1978). Thầy có dáng người thấp nhỏ, trán hói, khoảng trên 40 tuổi, nói nhỏ, hay cười… Tiết học đầu tiên của tôi ở giảng đường 8 là học môn của thầy.

Môn Nguyên lí sinh học có những nội dung cơ bản nào thì tôi cũng không nhớ nữa. Nay chỉ còn nhớ rằng thầy đã dạy về tế bào với các thành phần cơ bản của tế bào như nhân, ty thể, ribôxôm… Những thành phần rất quan trọng trong tế bào như ADN lại không có ấn tượng gì. Hay hồi đó kiến thức về di truyền của ADN[2] chưa phát triển, chúng tôi được học mà không thấy thầy nêu bật điểm quan trọng của nó trong di truyền. Trong giờ giảng về sự nhân đôi tế bào, 1 thành 2, 2 thành 4, 4 thành 8… tôi nghe thầy liên hệ rằng nhờ đó mà bản thân thầy được sinh ra từ tế bào trứng mà nay ít ra cũng > 40kg là nhờ sự sinh trưởng và phát triển của tế bào. Tóm lại, biết được tế bào là đơn vị cơ bản của cấu tạo cơ thể sinh học và cách sinh trưởng nhân đôi tế bào.

Khi thi vấn đáp môn này, tôi đã có kinh nghiêm từ thi môn Triết học Mác – Lênin là phải viết ra tờ chuẩn bị đầy đủ những kiến thức trong câu hỏi (dù tôi đã ghi nhớ trong đầu). Khi trình bày tôi trả lời hết nhưng không thấy các thầy hỏi thêm gì, dường như các thầy không chú ý lắm đến sinh viên. Kết quả thi được điểm 3/5, cũng hơi bất mãn chút. Nhưng nghĩ lại thì tôi cho là các thầy cô Khoa Trồng trọt nghe sinh viên Kinh tế nông nghiệp trả lời chắc không hứng thú gì cho lắm!

Môn Hóa đại cương

Môn Hóa đại cương thì tôi còn nhớ khá nhiều. Thầy giáo dạy tên Soan có khuôn mặt hơi khắc khổ, còn nhiều dấu của những vết sẹo do căn bệnh đậu mùa ngày nào. Thầy nói nghe khá rõ, nhưng có vẻ không tự tin lắm. Phương pháp giảng bài chậm rãi, không có những thăng hoa hay trầm bổng mà đều đều, dàn trải. Thầy cũng ít cười và không giao tiếp với sinh viên.

Các nội dung thầy dạy có 3 nội dung là hóa hữu cơ, hóa phân tích và hóa lí thuyết.

Hóa hữu cơ nghiên cứu về cấu trúc, tính chất, thành phần, phản ứng hóa học của những hợp chất hữu cơ là các hợp chất chứa carbon.

Hóa phân tích nghiên cứu phương pháp để xác định thành phần (cấu tạo, nguyên tố, hợp chất) và hàm lượng (số lượng, nồng độ) của các chất trong một mẫu vật. Hóa phân tích gồm 2 loại chính là phân tích định tính (xác định chất nào có mặt) và phân tích định lượng (xác định hàm lượng, nồng độ của chất đó). Ngoài ra còn nhiều phương pháp khác nhưng thầy nói dành cho các chuyên ngành đi sâu nghiên cứu bằng các công cụ hiện đại.

Hóa lý thuyết nghiên cứu các nguyên lý và phương pháp hóa học dựa trên các khái niệm và nguyên tắc vật lý như nhiệt động lực học, động học hóa học, cơ học lượng tử và lý thuyết mạng tinh thể. Nói chung khá cao siêu.

Câu chuyện về nguyên lý molan

Trong nội dung thầy Soan dạy về hóa phân tích có nói đến phương pháp phân tích định lượng dùng kĩ thuật dung môi và đề cập đến nguyên lý molan[3] (hay nồng độ molan). Từ molan nghe lạ tai nhưng được mọi người rất thích thú vì vận ngay vào tên anh Lê Ngọc Lan. Anh Lan có cách nói chuyện rất đặc biệt, thường hay chú ý đến các chi tiết để hỏi lại và tranh luận. Theo tôi đây là kiểu nói chuyện đi sâu tìm hiểu vấn đề cũng như thể hiện được sự quan tâm, sự nhận thức của những người nói chuyện với nhau, rất đáng học hỏi. Trong Tổ 1 có 2 anh được gán cho tên Lý (ý là hơi lý sự một chút) là Lý Lục (tức anh Phan Xuân Lục) và Lý Lan (tức anh Lê Ngọc Lan). Nay hóa học có nguyên lý molan – thế là từ đó mọi người gọi anh Lan bằng tên Molan. Cái tên thân mật này đã 50 năm rồi mà nhiều người vẫn nhớ, có lẽ anh Lan cũng thấy thích nghe tên này (?)

Môn Hóa đại cương thi viết vào ngày 17/7/1976, sau đó là nghỉ hè. Tôi có ưu thế thuộc và hiểu bài nên bài thi viết của tôi đạt 4/5 điểm.

Môn Nga văn

Nói đến Nga văn là mọi người đều nhớ đến cô giáo Nguyễn Thị Hòa[4]. Môn Nga văn năm thứ nhất chỉ là môn kiểm tra nhưng cô Hòa dạy rất nhiệt tình. Khi đó cô Hòa mới học ở Liên Xô về. Cô dạy tiếng Nga nhưng nói tiếng Việt là chính nên chúng tôi học tiếng Nga năm thứ nhất chỉ cơ bản là học phát âm và thuộc từ vựng.

Tôi nhớ một hôm cô Hòa đến thăm các phòng nam ở KTX sinh viên nhà A2. Buổi tối ấy cô Hòa vào phòng Tổ 1 là lúc đang mất điện. Mọi người hò hát, nói chuyện vui vẻ trong ánh sáng vài đèn dầu nhỏ. Anh Khang đang cao giọng bài tủ “Nắng tỏa chiều nay”. Khi cô Hòa vào phòng mà anh vẫn nằm trên giường tầng ca vút lên “chiều tỏa nắng đôi bờ em ơi, gió lộng chiều nay…” Cô Hòa hỏi thăm mọi người, kể chuyện sinh viên hồi học ở Liên Xô, chuyện KTX nữ bên Liên Xô bố trí 4 người/phòng có đầy đủ tiện nghi và rất sạch sẽ… Bỗng có điện sáng bừng, anh Khang vẫn ở trên giường tầng thò đôi bàn chân ra ngoài, hai bàn chân đen nhẻm (vì mất điện nên không có nước rửa chân). Mọi người nhìn nhau cười rất vô tư, vui vẻ.

Cô Hòa là bạn học hồi cấp I với anh Công Phương Kình, cùng thôn Phú Gia, xã Phú Thượng, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Anh Kình nay đi bộ đội về học thì người bạn học năm xưa đã là cô giáo. Chúng tôi thấy anh Kình có vẻ e ngại, không thân với người bạn cấp I năm xưa lắm.

Kiểm tra môn Nga văn thì cô Hòa cho đạt hết như để động viên chúng tôi học tập.

Môn Thể dục điền kinh

Môn thể dục năm thứ nhất học về điền kinh do thầy Đỗ Mộng Ngọc[5] dạy. Thầy là giáo viên thể lực, cũng học từ Liên Xô về - vợ thầy tên Bình cũng là giáo viên thể dục (không rõ dạy thể dục gì). Thầy Ngọc rất khỏe mạnh, dáng thẳng, cao và to, da mặt đỏ hồng hơi ngăm, tóc chải úp có những làn xoăn ốp sát đầu rất đẹp. Khi giảng bài ngoài sân tập, chúng tôi thấy thầy ăn mặc rất nghiêm chỉnh và đẹp, trên tay cầm quyển sách tiếng Nga bìa cứng màu nâu đỏ. Thầy dạy điền kinh rất bài bản. Rất chú ý các phương pháp chạy (chúng tôi học chạy 1600m và chạy 100m), trong đó kĩ thuật xuất phát chạy cự li ngắn được coi là đặc biệt quan trọng (có cái bàn đạp ở chân khi xuất phát).

Các buổi học thể dục điền kinh diễn ra ở khu thể thao tại sân vận động của trường. Ở đó có nhà để dụng cụ thể thao và phòng họp của giáo viên. Sân vận động do người Nga thiết kế, khi chúng tôi học đã là gần 20 năm sử dụng. Quanh sân có rất nhiều cây xà cừ to lớn. Một sân cỏ bóng đá chuẩn kích thước. Đường pit quanh sân bóng rộng rãi, đủ quy cách đường chạy tuyệt vời. Khu tập còn có các hố cát phục vụ môn nhảy xa, nhảy cao. Có khu vực học xà đơn, xà kép. Sân chơi bóng chuyền, sân tập bóng rổ đều rộng và đúng quy cách…

Thầy Ngọc cho biết bài kiểm tra sẽ bao gồm chạy 100m tính kết quả bấm giây và chạy đường dài 4 vòng sân vận động (mỗi vòng sân 400m) bấm phút. Tiêu chuẩn sinh viên đại học năm thứ nhất là chạy 100m phải dưới 15 giây đối với nam, còn chạy 1600m là xx phút (tôi không còn nhớ). Sau này tìm hiểu tôi mới biết là thầy Ngọc yêu cầu rất cao, có lẽ theo tiêu chuẩn sinh viên Liên Xô. Thông thường hiện nay chỉ lấy tiêu chuẩn 16s/100m cho nam, kể cả quy định rèn luyện trong quân đội.

Hôm kiểm tra, từng người được gọi vào đường chạy 100m. Thầy Lung phất cờ, thầy Ngọc bấm giờ. Tôi chạy về đích với kết quả 16,5 giây[6] – không đạt yêu cầu và ngay sau khi về đích đã bị ngất phải đưa vào cấp cứu ở bệnh xá trường (đã viết ở bài[7]…). Buổi kiểm tra chạy dài 1600m, thầy chia thành các nhóm chạy và có bấm giờ nhưng không thông báo kết quả thời gian cho từng người. Sau này thầy lấy kết quả ai chạy đủ 1600m không bỏ cuộc là đạt.

Chuyện phải kiểm tra lại và bài học kinh nghiệm cuộc đời

Có một câu chuyện từ môn thể dục của thầy Ngọc mà tôi đã nhớ suốt đời, cũng là bài học kinh nghiệm sâu sắc cho tôi trong công việc làm giáo viên sau này.

Các sinh viên kiểm tra điền kinh không đạt yêu cầu phải kiểm tra lại. Một số người, cả nữ sinh, phải kiểm tra lại chứ không phải mình tôi. Tổ 1 chỉ có mình tôi không đạt (chắc thầy cũng chiếu cố một số trường hợp như thương binh). Tôi rất lo lắng vì nếu có chạy lại thì chắc vẫn không đạt. Anh Nguyễn Ngọc Minh trong phòng biết tôi lo lắng nên bảo: “Mày để tao chạy thay cho, thầy giáo không nhớ mặt đâu. Mấy đứa lớp KT20B trượt cũng nhờ nhau chạy thay, thằng Đình bảo thế”. Một số anh em trong phòng cũng biết chuyện và nghĩ là nếu nhờ anh Minh chạy thay thì tôi sẽ qua được môn kiểm tra này. Thế là tôi đồng ý và nói với anh rằng anh chạy vừa đủ nhanh thôi để thầy không nghi ngờ.

Lúc anh Minh chạy thay tôi, anh về đích với kết quả 13,5s. Anh Minh là thương binh gãy chân, thế mà chạy quá nhanh, đạt thành tích xuất sắc! Tôi đứng xa thấy thầy Ngọc gọi anh Minh lại nói là anh chạy thay nên phạm quy. Thầy hỏi tên anh và dọa sẽ báo cáo lên Khoa về chuyện này.

Mọi người rất lo lắng và bảo rằng nếu tôi cứ chạy thật thì dù có kém có lẽ thầy cũng sẽ cho qua mà không cần nhờ người chạy thay. Hối hận thì cũng đã muộn. Anh Hợp bảo tôi viết bản tự kiểm điểm và anh sẽ đưa tôi lên xin lỗi thầy, mong thầy cho tôi qua môn kiểm tra điền kinh.

Một buổi tối, anh Hợp về muộn (vì anh ở cơ quan vợ tại Đức Giang) đưa tôi lên nhà thầy Ngọc. Khi chúng tôi vào thì vợ chồng Thầy đang ở nhà. Thầy mặc pijama trong nhà tiếp chúng tôi. Nhà thầy là căn hộ tập thể gần khu thể thao. Phòng khách nhỏ của thầy có cái tủ sách nhỏ, nhiều sách tiếng Nga. Anh Hợp xin vào đề luôn đại ý nói hôm nay thay mặt lớp đến xin lỗi thầy đã để xảy ra chuyện kiểm tra hộ vừa rồi. Anh còn nhấn mạnh rằng trường hợp Ảnh có hơi đặc biệt, bị đau bụng kinh niên từ nhỏ nên sức khỏe rất yếu. Mong thầy thông cảm.

Tôi gửi thầy bản tự kiểm điểm và không nói gì. Thầy và anh Hợp có trao đổi mấy phút nhưng tôi không nhớ gì nữa. Chắc là thầy phê bình nghiêm khắc chuyện gian lận và quan trọng là thầy sẽ không báo cáo chuyện này lên Khoa (khi đó báo cáo lên Khoa thì mọi người lo sẽ bị đuổi học). Chuyện đó may mắn đã ổn thỏa và tôi không bị Khoa gọi lên hay làm kiểm điểm phê bình gì nữa. Cũng may hồi đó kiểm tra không đạt thì cũng không tính vào thành tích học tập, chỉ tính thành tích thi đua.

Thật ra tôi đã rất cố gắng và đã có ý thức luyện tập từ nhiều tháng trước. Các buổi sáng đều dậy sớm ra sân vận động chạy để rèn luyện sức khỏe. Tuy nhiên, thể lực của tôi khi vào trường chỉ nặng 32kg, cao chưa đạt 150cm. Vào cuối tháng 6/1976 tức là tôi vào trường mới hơn nửa năm. Tuy thể lực đã cải thiện nhiều nhưng tôi cũng chỉ nặng khoảng 40kg, cao 155cm, thuộc loại rất nhỏ về thể lực nên không thể đủ sức để chạy đạt tiêu chuẩn điền kinh kiểm tra. Việc không đạt được kết quả kiểm tra là tất nhiên với thể lực đó, tôi đã chạy đến mức bị ngất phải đưa đi cấp cứu - rõ ràng là tôi đã chạy hết sức mình.

Qua chuyện này tôi lại thấy được nhiều bài học quý giá trong đời.

Vai trò của anh Hợp – lớp trưởng – trong việc giúp đỡ tôi: Nếu anh không đưa tôi lên nhận lỗi với thầy Ngọc thì có thể cả lớp sẽ bị ảnh hưởng. Nhờ anh Hợp mà thầy Ngọc không báo cáo chuyện này về Khoa.

Về chuyện gian lận trong thi cử, tôi đã ân hận suốt đời là mình từng thiếu trung thực khi đi học. Đây là bài học cho tôi khi làm giảng viên sau này. Trung thực, thật thà là thước đo cao quý trong công việc, nhất là nghề giáo dục!

Trường hợp tôi bị ngất ngay sau khi chạy kiểm tra thì chắc chắn thầy Ngọc không thể quên tôi được. Có khi cả đời giảng dạy chỉ có một trường hợp như vậy. Giá hôm đó anh Minh có chạy chậm hơn thì vẫn bị thầy phát hiện. Sau này, tuy cùng đội ngũ giảng viên trong trường nhưng tôi cũng ít khi gặp thầy Ngọc vì chúng tôi ở các chuyên môn khác nhau. Tuy vậy tôi vẫn có cảm giác thầy vẫn còn nhớ đến tên tôi mỗi khi gặp thầy trong các cuộc họp hành hoặc các hoạt động thể thao trên sân vận động.

Có lúc tôi nghĩ nếu tôi là thầy Ngọc thì tôi sẽ làm gì khi học trò đã cố gắng đến mức cận tử mà không đạt kết quả? Rồi tôi lại nghĩ giá thầy có điều kiện nhắn gửi cho tôi rằng hiện tượng bị ngất sau khi cố gắng quá sức là nguy cơ đột quỵ rất nguy hiểm cần cẩn thận trong cuộc sống. Tôi cũng ước giá hoàn cảnh đó được thầy hướng dẫn luyện tập để đạt kết quả kiểm tra mà vẫn bảo đảm sức khỏe thì tuyệt vời biết bao! Nếu tôi tự chạy thì biết đâu thầy sẽ có điều kiện giúp tôi những việc đó chăng (hơn là cứng nhắc dọa phạt khi biết tôi đã gian lận).

Từ đó, tôi cũng rất chú ý đến những hoàn cảnh cá biệt trong giảng dạy sau này. Nhiều sinh viên đặc biệt như có khuyết tật thân thể hay gặp gia cảnh khó khăn, hoặc gặp các tình huống đau buồn… tôi đều cố gắng gặp để trao đổi động viên và tạo điều kiện để họ có cơ hội được học tập tốt nhất. Tôi nghĩ ít ra mình cố gắng giúp sinh viên để họ không bị lâm vào tình trạng như tôi dại dột gặp phải hồi đại học năm thứ nhất.

Còn một bài học nữa về chăm sóc sức khỏe. Từ chuyện tôi bị ngất lần đầu tiên đó thì tôi biết trái tim của tôi vốn không khỏe mạnh nên khi gắng sức quá mức sẽ dẫn đến thiếu máu não, hoa mắt, ngất xỉu. Khi tìm hiểu tôi được biết đó là dạng “thiếu máu não thoáng qua” – một kiểu đột quỵ nhẹ. Mặc dù luôn ý thức được điều đó nhưng sau này tôi vẫn bị mấy lần ngất xỉu. Nhưng chắc chắn là tôi đã tránh được nhiều lần ngất xỉu khác từ việc biết sự cố sức khỏe hồi chưa đầy 20 tuổi. Như vậy là “trong họa có may” đấy chứ!

Cũng vì chuyện không đạt kết quả kiểm tra môn thể lực mà tôi bị mất thành tích thi đua. Theo quy định hồi đó, nếu ai có 50% số môn thi từ ≥ 4/5 điểm (tất nhiên các môn thi khác phải 3/5 và các môn kiểm tra đạt yêu cầu) thì có danh hiệu sinh viên tiên tiến. Tôi có hai môn 3/5 và một môn 5/5, một môn 4/5 nhưng vẫn không được sinh viên tiến tiến vì tôi đã không đạt kiểm tra môn thể dục. Học sinh tiên tiến từ năm thứ nhất là quan trọng lắm. Hè 1976, Nhà trường cùng Đoàn Thanh niên còn tổ chức cho học sinh tiên tiến và xuất sắc cả trường đi nghỉ mát Sầm Sơn 2 ngày. Trong Tổ 1 có Cao Ngọc Đức được đi dịp đó. Sau này nhiều kì tôi đạt kết quả sinh viên tiên tiến nhưng Nhà trường không tổ chức đi nghỉ mát lần nào nữa.

Thật tiếc cho thành tích học tập năm thứ nhất!

 

 

 



[2] ADN có cấu trúc dạng xoắn kép với 2 mạch song song. Thông tin trong ADN được lưu trữ dưới dạng mã, được tạo thành từ bốn loại bazơ nitơ: adenine (A), guanine (G), cytosine (C) và thymine (T). Các bazơ này bắt cặp với nhau, A-T và C-G thông qua liên kết hydro để tạo thành các cặp bazơ. 

[3] Nguyên lý molan (hay nồng độ molan) biểu thị nồng độ của dung dịch bằng số mol chất tan trên mỗi kilôgam dung môi. Nồng độ molan (molality) được sử dụng lần đầu trong "Thermodynamics and the Free Energies of Chemical Substances" của G.N. Lewis và M. Randall vào năm 1923.

Xem tại https://en-m-wikipedia-org.translate.goog/wiki/Molality?_x_tr_sl=en&_x_tr_tl=vi&_x_tr_hl=vi&_x_tr_pto=tc

[4] Sau này gia đình cô Hòa (chồng là Liễn dạy Khoa Cơ khí) chuyển vào Đại học Cần Thơ. Anh em ĐHNNI đi bộ đội ở QK9 hồi 1980 đã nhiều lần đến chơi nhà cô Hòa. Về sau gia đình cô chuyển về Sài Gòn, cô đã mất khoảng những 2000 (?)

[5] NGƯT Đỗ Mộng Ngọc - Nguyên Trưởng Bộ môn Giáo dục Thể chất ở ĐHNNI. 

[6] Chạy 100m cho nam giới có chi tiết tiêu chuẩn (thường gặp): Loại giỏi: Dưới 14 giây; Loại khá: Từ 14 đến 15 giây; Loại trung bình: Từ 15 đến 16 giây. Trong quân đội cho nam giới: Loại giỏi: dưới 14 giây. Loại khá: từ 14 đến 15 giây. Loại trung bình: từ 15 đến 16 giây. Xem tại https://dinhduongykhoa.vn/tieu-chuan-ren-luyen-the-luc-trong-quan-doi/